Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2016

NHÀ TRỊ LIỆU CÓ ĐƯỢC PHÉP KHÓC?

0
Khóc khi trị liệu
Thân chủ không phải những người duy nhất khóc khi trị liệu – đôi khi, nhà trị liệu cũng thế.
By Lorna Collier

Bạn đang trị liệu cho một thân chủ vừa tiết lộ cô ta bị lạm dụng rất thậm tệ khi còn nhỏ. Thân chủ của bạn bắt đầu nức nở - và mắt bạn cũng dần ngấn lệ.

Liệu đó có phải là một phản ứng phù hợp không? Bạn có cần phải che giấu, ngăn cản dòng nước mắt hay cứ để mặc chúng? Nếu bạn khóc, điều đó sẽ tác động tới thân chủ như thế nào?

Nhiều chương trình đào tạo cao học không hề nhắc tới nước mắt trong tiến trình trị liệu, cả trong lớp học hay cả trong quá trình giám sát. Kết quả là nhiều người tin rằng nhà trị liệu cần phải luôn mạnh mẽ và trung lập, và nước mắt là dấu hiệu của sự thiếu chuyên nghiệp, đồng thời làm giảm vai trò được quy định nghiêm ngặt của nhà chuyên môn.

Tuy vậy, một nghiên cứu cho thấy nước mắt vẫn rất hay xuất hiện nơi các nhà trị liệu.Ví dụ, nghiên cứu được thực hiện năm 2013 do TS. Amy C. Blume-Marcovici, TS. Ronald A. Stolberg, và TS. Mojgan Khademi thuộc ĐH Quốc tế Alliant International thực hiện, đăng tải trên tạp chí Psychotherapy cho thấy 72% các nhà tâm lý và các thực tập sinh đã từng khóc với thân chủ, 30% từng khóc ít nhất một lần 4 tuần trước khi khảo sát.

Vậy bạn nhìn nhận điều này như thế nào? Vai trò của nước mắt nơi nhà trị liệu là gì?

Dấu hiệu của tính nhân văn

TS. Nadine Kaslow cho biết, khi bà còn là thực tập sinh, bà chưa bao giờ được nghe đề cập đến việc khóc với thân chủ.

“Có một thông điệp ẩn giấu cho rằng bạn không nên làm điều đó, một cách nào đó, nó tượng trưng cho việc bạn đang gặp phải vấn đề về ranh giới làm việc” Kaslow, giáo sư và tâm lý gia tại ĐH Y Emory, cho biết. Đặc biệt là các nhà trị liệu nữ thường tin rằng nếu họ khóc, nước mắt sẽ cho thấy “bạn không đủ vững vàng để làm công việc này.”

Theo Kaslow, những thông điệp này đến nay vẫn không thay đổi bao nhiêu. Bà vẫn tin rằng hạn chế nước mắt – không để bản thân nức nở hết cỡ - có thể là một nhân tố tích cực và tự nhiên trong mối quan hệ trị liệu.

“Nhiều người trong chúng ta, những người hay nhạy cảm, nhân ái và thường dễ cảm nhận cảm xúc của bản thân, đôi khi hay nghẹn ngào và ngấn lệ trước thân chủ” “Đó là một phản ứng nhân văn và liên nhân vị rất bình thường.”

Tất cả các nhà tâm lý đều làm việc với các vấn đề về cảm xúc của thân chủ, tuy nhiên một số lại thường hay phải nghe các câu chuyện dễ gây xúc động. Trong số đó có TS. Sarah E. Dunn, Giám đốc lâm sàng và giám sát tâm lý tại Dự án Grady Nia tại Bệnh viện Grady, Atlanta, dự án hỗ trợ các phụ nữ là nạn nhân của bạo hành gia đình.

Dunn cho biết các thực tập sinh đôi khi hay nghẹn ngào trước những câu chuyện đong đầy xúc cảm mà các thân chủ chia sẻ - “gần giống như là sang chấn do thấu cảm.” Điều này khiến một vài sinh viên băn khoăn và tìm đến gặp bà.

Dunn cho biết, “Họ cảm thấy hoảng loạn: Họ có nên đi ra khỏi phòng? Đi vào nhà vệ sinh và cô gắng trấn tĩnh lại? Hay thân chủ có thấy cũng không sao?”

Qua nhiều năm, bà nhận ra rằng “việc nhìn nhận nhà trị liệu như một con người và có thể hiện cảm xúc có thể giúp thân chủ mở lòng thêm một ít.”

Thân chủ nghĩ gì?
Nghiên cứu tìm hiểu suy nghĩ của thân chủ về vấn đề này khá khan hiếm.
Trong một nghiên cứu vào năm 2015 trên Psychotherapy, các nhà nghiên cứu Áshley Treat, Jonathan Kelly và Glenn Waller đã khảo sát 188 thân chủ có rối loạn ăn uống và nhận thấy 57% trong số đó từng chứng kiến nhà trị liệu rơi nước mắt. Đa số đều nhìn nhận điều này một cách tích cực, tuy nhiên điều này không tự nhiên mà có: nó phụ thuộc vào cách họ đánh giá nhà trị liệu.

Nếu họ cho rằng nhà trị liệu “hành xử tốt” (được các nhà nghiên cứu định nghĩa là thể hiện sự vui vẻ, chắc chắn và ổn định), thân chủ sẽ dễ nhận xét nước mắt là tích cực hơn và thường sẽ muốn tiếp tục trị liệu. Nhưng nếu họ cảm thấy nhà trị liệu “hành xử tiêu cực” (lo âu, buồn chán hay tức giận), thân chủ sẽ cảm thấy kém tích cực hơn với nước mắt và tiến trình trị liệu.

Kiểu khóc cũng quan trọng. Đa phần hay mô tả nhà trị liệu chỉ mới “chớm” nước mắt. Một số thì mô tả nhà trị liệu khóc nhiều nhưng vẫn tiếp tục làm việc. Một số ít hơn thì mô tả nhà chuyên môn khóc nhiều đến độ buổi làm việc phải tạm ngưng. Thân chủ thường đánh giá mức độ khóc càng lớn là càng tiêu cực.

Các nhà nghiên cứu kết luận: “Nước mắt nhà trị liệu không thể được nhìn nhận là tích cực hay tiêu cực hoàn toàn – nó phụ thuộc vào cách thân chủ nhìn nhận nhà trị liệu trong vị thế một nhân vị ra sao”

Trong một luận án sắp công bố của tại ĐH Đông London, Alice Watso đã nghiên cứu về phản ứng của thân chủ trước việc nhà trị liệu khóc. Cô có động lực làm đề tài này sau khi chứng kiến hai nhà tham vấn khóc trước mặt mình – và cô đã có hai phản ứng rất khác nhau.

Một trường hợp khiến cô cảm thấy gần gũi hơn với nhà trị liệu, trong khi trường hợp còn lại có tác dụng hoàn toàn trái ngược, nó khiến cô quyết định kết thúc tiến trình trị liệu vốn dĩ đã chẳng êm đẹp gì.

Trong đề án nghiên cứu của mình, Watson phỏng vấn tám người tại Vương Quốc Anh, từ 25 đến 56 tuổi, từng chứng kiến nhà trị liệu khóc trong tiến trình làm việc. Nghiên cứu định tính, tìm hiểu xem điều gì là hiệu quả và không hiệu quả, cho thấy kì vọng của thân chủ về trị liệu và nhà chuyên môn tác động đến nhận thức của họ. Một số sẽ phản ứng tiêu cực, xem nước mắt là điểm trừ cho hình ảnh nhà trị liệu trong mắt họ, đồng thời làm lu mờ vai trò và ranh giới một cách tiêu cực. Số khác lại xem nước mắt nhà trị liệu là sự nhìn nhận những nỗi đau mà thân chủ gặp phải.

Theo Watson, bất kể thân chủ nhìn nhận tích cực hay tiêu cực, tất cả những người tham gia đều cho rằng nước mắt của nhà trị liệu là “thời điểm quan trọng và ảnh hưởng tới mọi việc diễn tiến về sau trong tương quan trị liệu.”

Bạn nên nói gì khi rơi nước mắt?
Nếu bạn rơi lệ trước mặt thân chủ, bạn có nên thừa nhận điều đó? Hay tiếp tục làm việc như chưa có chuyện gì xảy ra?

Kaslow cho rằng điều này còn phụ thuộc vào tình huống và mối quan hệ. Đôi khi tốt nhất là không nói gì cả.

“Nước mắt sẻ chia trong một tình huống đau buồn đôi khi không cần lời giải thích nào cả.” Nhưng nếu thân chủ phản ứng bằng cách cố gắng quan tâm đến nhà trị liệu thì “đó mới là lúc cần lên tiếng.”

Nếu trong trường hợp thân chủ không khóc mà chỉ có nhà trị liệu khóc, Kaslow đề nghị ta nên nói một trong những điều sáu đây: “Tôi nghĩ tôi khóc là vì …” hay “Bạn phản ứng như thế nào khi tôi khóc?” Những điều trên có thể được trao đổi ngay lặp tức hay sau khi buổi làm viêc kết thúc, thậm chí là trong buổi làm việc tiếp theo.

Khi nào nước mắt là không thích hợp
Khóc có thể có nhiều định nghĩa, từ một đôi mắt long lanh đến một dòng lệ nhẹ nhàng lăn trên má cho tới tiếng than van nức nở. Các nhà trị liệu thường cảm thấy tiếc nuối vì đã “khóc lớn, khóc nhiều hay khóc vì những việc liên quan đến tình trạng bản thân”, Blume-Marcovici cho biết.

Một điểm nguy hiểm nữa cần lưu ý: khóc bất kể khi nào bạn thấy người khác có vấn đề.
Nếu cứ mỗi lần thân chủ đề cập đến một vấn đề nhất định mà nhà trị liệu đều khóc, “có lẽ thật sự là bạn chưa giải quyết được vấn đề đó nơi bản thân”, Kaslow chia sẻ. Nếu điều này xảy ra, bản thân bạn có lẽ cần được nhận sự hỗ trợ và bạn nên bàn luận điều này với giám sát của bạn.

Theo Blume-Marcovici, những yếu tố dễ “gây” nước mắt cho nhà trị liệu bao gồm đau buồn, mất mát hay sang chấn. Nhà trị liệu vừa trải nghiệm mất mát hay những sự kiện gây căng thẳng nghiêm trọng trong cuộc sống có thể quay lại làm việc quá sớm – họ sẽ dễ xúc động khi thân chủ chia sẻ những trải nghiệm tương tự những điều họ vừa trải qua.

Bà cho rằng nhà trị liệu cần biết cách đánh giá mức độ sẵn sàng của bản thân trước khi quay trở lại làm việc. Tất nhiên sẽ rất khó để biết được chính xác khi nào – hay liệu có hay không – việc nước mắt sẽ xuất hiện. Tuy vậy, thay vì mù mờ suốt buổi làm việc, nhà trị liệu cần phải nhận biết được rằng phản ứng rất con người này hoàn toàn có thể diễn ra và cần có ý tưởng về việc mình cần phải làm gì khi việc này xảy đến. Một cách lý tưởng nhất, Kaslow và Blume-Marcovici cho rằng các chương trình đào tạo tâm lý cần đề cập đến vấn đề này để đem lại câu trả lời thoả đáng nhất.


Dịch: Hành Lang Tâm Lý
Đọc tiếp

Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2016

INTERNET ẢNH HƯỞNG NHƯ THẾ NÀO TỚI TRI NHỚ CỦA CHÚNG TA?

1
Internet tác động như thế nào lên đầu óc con người 

Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả Kyle Chayka

Mỗi buổi sáng tôi thức dậy và kiểm tra điện thoại, tôi thường nhận được một vài “lời nhắc nhở”. Facebook thì cho tôi biết tôi có những ”ký ức” mới với bạn bè qua tính năng “On This Day” – đó có thể là kỉ niệm lần đầu tôi gặp bất kỳ một người nào hay chỉ là hình ảnh về một bữa tiệc vô chừng nào đó trong quá khứ. Vài tiếng sau, Google lại cho tôi biết rằng hôm nay là sinh nhật mẹ tôi, đồng thời cũng tự đính tôi vào một vài tấm hình tôi chụp cùng với bạn bè tối qua. Bất chợt, tin báo Facebook hie5n lên nhắc tôi về sự kiện tối nay tôi cần tham dự. Tôi chẳng biết rằng liệu công nghệ đang khiến tôi mất dần trí nhớ hay nó đang mang lại quá nhiều ký ức cho tôi.

Trên Tumblr có một trang mục tên Kiến thức giả, nó được định nghĩa là “những thông tin môt người không biết nhưng vẫn có thể tiếp cân khi cần thông qua công nghệ.” Internet, đặc biệt là truyền thông xã hội, đã đem đến cho chúng ta một không gian lưu trữ ký ức theo cách mà trước đây khó thể nào tưởng tượng được – thay vì phải tự nhớ lại, chúng ta không những có thể lên google tìm kiếm dân số của một quốc gia hay địa điểm của một quán ăn đã từng tới, chúng ta còn có thể dùng Facebook hay Twitter để quản lý những mối quan hệ của mình, đó là chưa nhắc đến khả năng vạch sẵn kế hoạch cho cả cuộc đời của chúng ta.
Những kiến thức giả này trông có vẻ khá đáng sợ vì thực chất chúng ta không quản lý chúng. Đôi khi có cảm giác như các mạng truyền thông đã thay thế bộ não của chúng ta, chúng chi phối lịch trình của chúng ta với những tin nhắn nhắc nhở và khiến chúng ta nhớ lại những sự kiện mà chúng ta thậm chí đã cố quên đi – những cuộc chia ly hay tang chế trong gia đình. Như vậy, ký ức của chúng ta đang nằm trong tay những thuật toán vô hồn, vô cảm đang bí mật định hình cuộc sống của mỗi người. May thay, ảnh hưởng của internet lên não bộ của chúng ta lại không đáng sợ đến mức đó.
Thật sự là chúng ta đang phải tự ghi nhớ những thông tin ngẫu nhiên ít hơn các thế hệ trong quá khứ. Tuy nhiên, chúng ta tập trung nhiều hơn vào việc ghi nhớ điều khác – cách thức trích xuất thông tin. Một nghiên cứu do ĐH Columbia thực hiện năm 2011 cho thấy, “khi phải đối mặt với những câu hỏi khó, con người thường nghĩ tới máy tính… khi chúng ta mong muốn tiếp cận với một thông tin nào đó trong tương lai, chúng ta thường ít nhớ lại bản thân thông tin mà sẽ tìm kiếm nơi ta có thể tiếp cận thông tin đó.” 

Nói cách khác, có thể việc ghi nhớ số dân của Hoa Kỳ không quá quan trọng nhưng biết được chỗ nào cho ta biết thông tin đó lại trở nên khá cần thiết (điều này tương tự với việc ghi nhớ ngày sinh của người thân trong gia đình). Trong một nghiên cứu với các thông tin được lưu trữ trong hệ thống tệp hồ sơ để trong máy tính, những nghiệm thể “được cho biết họ có thể tìm lại thông tin thường không ghi nhớ các chi tiết, thay vào đó, họ ghi nhớ màu sắc của các tệp hồ sơ,” Tracy Packiam Alloway, nhà tâm lý và là cựu giám độc của Trung tâm Trí nhớ và Học tập suốt đời Vương quốc Anh cho biết.

Bà cho biết, có những phê bình cho rằng việc dựa vào truyền thông xã hội sẽ khiến chúng ta “mất khả năng lưu giữ mọi thứ”. Thực chất, điều này lại hoàn toàn trái ngược – Internet “giải phóng tài nguyên của não bộ”, thay vì cố gắng ghi nhớ thông tin, chúng ta lại có thể chủ động tiếp cận nhiều hơn. Truyền thông xã hội tăng cường khả năng chắt lọc những thông tin có liên quan đến chúng ta, điều này diễn ra thông qua việc lựa chọn những đoạn tweet vui hay quan trọng giữa hằng hà sa số các tin tức mới xuất hiện.

Trong một nghiên cứu khác, Alloway cho các học sinh cấp 3 thực hiện một bài trắc nghiệm đã được chuẩn hóa. Trong đó, một số bạn chỉ mới dùng Facebook dưới sáu tháng còn một vài bạn khác đã dùng Facebook một thời gian dài. Alloway cho biết “Những bạn học sinh dùng Facebook lâu hơn có trí nhớ làm việc tốt hơn, các bạn cũng có kỹ năng ngôn từ, từ vựng và ngôn ngữ tốt hơn.” Thay vì phá hoại tâm trí, có vẻ Facebook đã giúp các bạn luyện tập việc quyết định đâu là những điều cần chú ý và đâu là những việc cần quên đi. Tuy nhiên, theo kết quả, sử dụng Youtube lại không giúp được gì cho các bạn học sinh do nó quá thụ động. Alloway cho rằng “nó không đem lại cùng một kiểu thông tin”

Chúng ta cũng thường dễ có cảm giác truyền thông xã hội gây ra “bão” thông tin. Chúng ta không thể làm việc với những thông tin đó theo cùng cách chúng ta tiếp cận với sách giấy hay những cuộc đối thoại diễn ra với bạn bè trong quán café. “Bạn sẽ không còn cảm nhận những ký ức tương tác sống động, trí nhớ của bạn đã lưu trú trên internet”, nhà tâm lý phát triển thuộc ĐH New York, Niobe Way, cho biết. “Đó là những trải nghiệm thụ động hơn rất nhiều. Những gì chúng ta biết về trí nhớ hiện này là ký ức càng thụ động bao nhiêu thì chúng ta càng dễ quên lãng bấy nhiêu.” Tuy vậy, thực ra truyền thông xã hội lài cực kỳ dễ nhớ.

Một thực nghiệm vào năm 2013 cho thấy các nghiệm thể có thể nhớ những bài đăng trên Facebook của bạn bè nhanh hơn và lâu hơn những câu chữ trong sách, ngay cả khi chúng được viết bằng ngôn ngữ internet. Báo cáo viết, “Khác biệt không nằm ở chỗ các bài đăng có chứa các ký hiệu cảm xúc, các kí tự đặc biệt hay chữ nhiều hay ít; kết quả vẫn tương tự khi tất cả những thứ đó đã được loại trừ”. Không những thế, Facebook còn giúp chúng ta ghi nhớ gương mặt người khác tốt hơn. “Có thể các bài đăng một cách tự nhiên khiến chúng ta có tư duy xã hội, dẫn tới việc mã hóa ghi nhớ các bài đăng một cách mạnh mẽ hơn…”

Tuy vậy, việc dễ dàng ghi nhớ các ký ức qua mạng truyền thông có thể khiến sự thật bị bóp méo. Mạng xã hội có khả năng “ảnh hưởng tới sự gắn kết giữa cuộc sống thực tế và ký ức” TS Richard Sherry, thành viên sáng lập Hội Phân tâm học Thần kinh cho biết. Do chúng ta có khả năng gợi nhớ lại một cách quá dễ dàng, những thông tin ta chọn để lưu trữ trên internet và mạng xã hội, thay vì làm sáng tỏ, sẽ có xu hướng làm nhiễu các ký ức của chúng ta. Thậm chí một nghiên cứu còn cho thấy, chỉ cần vài lần lặp lại, trí nhớ có thể bị bóp méo một cách nghiêm trọng.

Điều này có nghĩa là tất cả những thứ mà Google hay Facebook liên tục nhắc bạn sẽ trở thành những điều mà bạn ghi nhớ, đây có lẽ là phần đáng sợ nhất. Hãy điều chỉnh một cách có chọn lọc những thông tin trên mạng xã hội của bạn! Điều này sẽ giúp bạn hạnh phúc hơn trong tương lai.

Dịch: Hành Lang Tâm Lý


Đọc tiếp

Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2016

9 CÁCH CẢI THIỆN MỐI QUAN HỆ CỦA BẠN TRONG NĂM MỚI

0
Làm sao để mối quan hệ phát triển?
22/12/2015
Không chỉ loanh quanh các mục tiêu ăn kiêng hay giữ dáng, Năm Mới còn là cơ hội để bạn xem xét lại tình trạng mối quan hệ tình cảm của mình. Liệu mọi việc có trở nên tốt đẹp hơn? Mối quan hệ của cả hai liệu có thể vững vàng và hạnh phúc hơn? Bạn có thể làm gì để cải thiện mọi việc? Mục tiêu nào cũng đòi hỏi sự cố gắng, vậy đây rất có thể là lúc để bạn liệt kê ra đâu là những điều bạn sẽ làm để mối quan hệ của bạn được cải thiện theo chiều hường tích cực nhất. Khi nghĩ về những ưu tiên, bạn hãy cân nhắc những ý tưởng sau đây – và hãy cố gắng tập trung vào những gì bạn có thể tự mình làm hay những gì cả hai có thể cùng nhau làm. Bạn không thể thay đổi người bạn của mình, thay vào đó hãy chú ý thay đổi những tác động của bạn vào mối quan hệ, thay đổi cách bạn phản ứng và đáp trả.
1.    Ngưng tranh cãi về tiền bạc. 
Bạn và người yêu/ vợ/ chồng có bao giờ tranh cãi về tiền bạc chưa? Hãy giải quyết theo một cách mới. Nghiên cứu trên các cặp vợ chồng cho thấy bất đồng về tiền bạc có thể dự đoán khả năng li dị. Vấn đề không nằm ở chỗ hai bên giỏi đến đâu mà nằm ở mức độ hiếu chiến hai bên đặt vào cuộc tranh luận (Dew, Britt, & Huston, 2012).
2.    Thực hiện những cử chỉ thể hiện sự quan tâm.
Chỉ cần một nỗ lực nhỏ cũng đủ giúp cải thiện mối quan hệ đến không ngờ. Nghiên cứu cho thấy những cử chỉ thể hiện sự quan tâm sẽ khiến người còn lại cảm thấy trân trọng. Giữa vợ chồng, chính sự biết ơn đó giúp dự đoán mức độ hài lòng, cảm giác nối kết vào ngày tiếp theo của cả người cho và người nhận (Algoe et al., 2012). Kết quả này cho thấy “quan tâm hơn” là một quyết tâm đúng đắn, tốt đẹp và chu đáo cho Nam Mới. 
3.    Lao động cho chinh mối quan hệ của bạn. 
Bạn có thể tự dọn phòng, đi rửa xe hay đi “chăm sóc sắc đẹp” cho bản thân, nhưng bạn đã làm gì để duy trì “súc khỏe” cho mối quan hệ của mình? Nghiên cứu cho thấy các cặp đôi sẽ gặp khó khăn nếu họ không thực hiện các hành vi giúp duy trì mối quan hệ. Năm nay, hãy cố gắng làm việc này, vì chính việc tham gia tích cực, đem lại sự bảo đảm cho mối quan hệ và chia sẻ công việc là những yếu tố giúp dự đoán sự yêu thích, hài lòng và cam kết trong tương quan giữa hai người (Stafford & Canary, 1991).
4.    Hãy nói chuyện (và lắng nghe) nhiều hơn.
Dành thời gian để trò chuyện không phải là điều dễ dàng -  chúng ta lúc nào cũng bận rộn! Tuy nhiên, minh chứng cho thấy, nó hoàn toàn xứng đáng với công sức chúng ta bỏ ra. Những người có thể chia sẻ cảm xúc của mình đồng thời có người kia biết cách lắng nghe thường có mức độ hài lòng cao về mối quan hệ của mình (Hendrick, 1981). Cải thiện kĩ năng giao tiếp cũng rất quan trọng: Các cặp vợ chống có thể trò chuyện với nhau một cách xây dựng về những chủ đề khó khăn cũng thường cảm thấy thỏa mãn về mối quan hệ (Litzinger & Gordon, 2005). Có thể quyết tâm năm nay của bạn sẽ là lên thời gian và trò chuyện thật sự với người bạn của mình? 
5.    Thiền. 
Thiền hay yoga không chỉ có lợi cho huyết áp và sự tịnh tâm của bạn. Mindfulness là một chỉ báo hữu hiệu cho mức độ hài lòng trong các mối quan hệ, có lẽ lý do là sự tập trung có thể khiến chúng ta cảm nhận được cảm giác an toàn sâu sắc hơn (Jones, Welton, Oliver, & Thornburn, 2011). Luyện tập mindfulness trong mối quan hệ của bạn đồng thời sống với thực tại có lẽ là những cách hữu hiệu để giúp mối quan hệ của các bạn thăng hoa.
6.    Thử làm những điều mới mẻ. 
Nếu bạn đã quen người yêu được một thời gian dài, đừng nghĩ rằng bạn sẽ cảm thấy nhàm chán với mối quan hệ của mình. Những cặp vợ chòng lâu năm vẫn có thể gia tăng đam mê và sự hài lòng bằng cách thử làm những điều mới mẻ và đầy hứng thú cùng nhau (Aron et al., 2000). Hãy thử nghĩ đến việc cùng nhau đi du lịch đến những địa điểm mới, đăng ký cùng tham gia các khóa học nấu ăn hay làm người kia bất ngờ bằng việc cùng tham gia những trò chơi cảm giác mạnh. Khi cả hay cùng tham gia vào hoạt động mới mẻ, hào hứng, trải nghiệm có thể sẽ giúp nâng tầm chất lượng mối quan hệ - đó cũng là một quyết tâm khá thú vị cho năm nay, phải khộng?
7.    Cất điện thoại đi!
Điện thoại có làm bạn xao nhãng hay không? Email hay tin nhắn có “cướp” mất bạn ngay cả khi bạn đang đi với người yêu hay không? Các nhà nghiên cứu thậm chí còn có một thuật ngữ để mô tả hiện tượng này: pphubbing – phone nubbing, phớt lờ người khác vì điện thoại (Roberts & David, 2016). Khi việc sử dụng điện thoại đạt đến mức độ gây ra mâu thuẫn trong mối quan hệ, nó là chỉ báo cho một mối quan hệ có mức độ hài lòng thấp, sau cùng nó sẽ dẫn đến trầm cảm. Năm nay hãy làm cho người yêu của bạn một điều – đừng pphubbing nữa nhé!
 
8.    Hãy cầu nguyện cho người bạn yêu mến. 
Đối với một số người, cầu nguyện là một hoạt động thường nhật. Tuy nhên, trước đây có rất ít nghiên cứu về những tác động tích cực của hành động này lên mối quan hệ tình cảm. Mới đây, một minh chứng mới vừa cho thấy những hiệu quả tích cực của việc cầu nguyện riêng đặc biệt cho người mình yêu mến. Những người làm điều này thường có mức độ hài lòng về mối quan hệ và tính cam kết cao hơn (Fincham & Beach, 2014). Như vậy, cầu nguyện cho người kia cũng là một quyết tâm giúp canh tân mối quan hệ của hai bạn trong năm mới này.
 
9.    Cười nhiều hơn trước! 
Nghiên cứu mới đây cho thấy những cặp vợ chồng hay cùng nhau vui cười thường có một mối quan hệ “khỏe mạnh” hơn. Lượng thời gian cả hai cùng vui cười với nhau sẽ giúp dự đoán chất lượng mối quan hệ, sự hỗ trợ về mặt xã hội và mức độ thân mật (Kurtz & Algoe, 2015), những yếu tố này là rất quan trọng để có được những tương quan lành mạnh và hạnh phúc. Trong năm nay, bạn có thể nghĩ đến việc tập trung cùng nhau tìm kiếm những trải nghiệm vui vẻ và cho phép cả hai cùng vui cười thoải mái.
Tài liệu tham khảo
·         Algoe, S. B., Gable, S. L., & Maisel, N. C. (2010). It's the little things: Everyday gratitude as a booster shot for romantic relationships. Personal Relationships, 17, 217-233.
·         Aron, A., Norman, C. C., Aron, E. N., McKenna, C., & Heyman, R. E. (2000). Couples' shared participation in novel and arousing activities and experienced relationship quality. Journal of Personality and Social Psychology, 78, 273-284.
·         Dew, J., Britt, S., & Huston, S. (2012). Examining the relationship between financial issues and divorce. Family Relations, 61, 615-628.
·         Fincham, F. D., & Beach, S. R. (2014). I say a little prayer for you: Praying for partner increases commitment in romantic relationships. Journal of Family Psychology, 28, 587-593.
·         Hendrick, S. S. (1981). Self-disclosure and marital satisfaction. Journal of Personality and Social Psychology, 40, 1150-1159.
·         Jones, K. C., Welton, S. R., Oliver, T. C., & Thorburn, J. W. (2011). Mindfulness, spousal attachment, and marital satisfaction: A mediated model. The Family Journal,357-361.
·         Kurtz, Laura E., and Sara B. Algoe. Putting laughter in context: Shared laughter as behavioral indicator of relationship well‐being. Personal Relationships, 22, 573-590.
·         Litzinger, S., & Gordon, K. C. (2005). Exploring relationships among communication, sexual satisfaction, and marital satisfaction. Journal of Sex & Marital Therapy, 31, 409-424.
·         Roberts, J. A., & David, M. E. (2016). My life has become a major distraction from my cell phone: Partner phubbing and relationship satisfaction among romantic partners. Computers in Human Behavior, 54, 134-141.
·         Stafford, L., & Canary, D. J. (1991). Maintenance strategies and romantic relationship type, gender and relational characteristics. Journal of Social and Personal relationships, 8, 217-242.


Dịch: Hành Lang Tâm Lý
Đọc tiếp

Thứ Hai, 28 tháng 12, 2015

SUY NGHĨ VỀ CÁI CHẾT KHIẾN CHÚNG TA TRÂN TRỌNG TƯƠNG LAI HƠN

0

ERIC W. DOLAN 12/12/2015

Nghiên cứu vừa cho thấy suy nghĩ về chi chết có thể khiến con người trân trọng tương lai hơn - ít nhất là với vấn đề tiền bạc.

“Cái chết là lời nhắc nhở mạnh mẽ về sự không chắc chắn của tương lai, vì vậy, việc cho rằng suy tư về tính hữu hạn của bản thân sẽ khiến cá nhân trân trọng hiện tại hơn tương lai là hoàn toàn hợp lý” Nicholas J. Kelley và Brandon J. Schmeichel viết trong nghiên cứu.

“Mặt khác, chúng ta cũng lên kế hoạch và thường cố gắng đạt đến những mục tiêu mà chúng chỉ có thể được hiện thực hoá trong tương lai. Những mục tiêu tương lai đó khiến hiện tại trở nên có ý nghĩa và có tác dụng phòng vệ về mặt tâm lý cho chúng ta trước sự đe doạ của cái chết. Dưới góc nhìn này, có vẻ như việc nhắc nhớ một người về cái chết sẽ giúp họ trân trọng tương lai hơn - một tài sản quý giá mà số lương lại rất hạn chế.”  

Trong nghiên cứu được đăng tải trên PLOS One, nhóm nghiên cứu đã yêu cầu 118 sinh viên viết suy nghĩ của họ về cái chết của bản thân hoặc viết về sự đau đớn khi nhổ răng.

Sau đó các nghiệm thể được hỏi liệu họ muốn nhận $50 ngay lập tức hay sẽ đợi 3 tháng để nhận một khoản tiền lớn hơn. Nếu họ lựa chọn phương án thứ hai, tiền thưởng sẽ tăng dần $5, mỗi tháng lên tối đa là $100, điều này cho phép các nhà nghiên cứu biết khi nào thì người tham gia thay đổi quyết định, muốn nhận tiền ngay thay vì chờ đợi.

Các nhà nghiên cứu nhận thấy, các nghiệm thể được yêu cầu viết về cái chết của bản thân thường ít đánh giá cao phần thưởng ngay lặp tức hơn so với những người làm nhiệm vụ còn lại. Nhóm đầu tiên thường ít quan tâm đến việc so sánh lợi nhuận hiện tại so với tương lai, chứng tỏ họ quan tâm đến tương lai nhiều hơn.

Theo Kelley và Schmeichel, suy nghĩ về cái chết “có thể làm tăng giá trị của tương lai, giúp kích hoạt việc theo đuổi các mục tiêu lành mạnh và tập trung vào dài hạn.”

“Khi cái chết không nằm trong phạm vi tập trung chú ý của nhận thức, chúng ta thường dễ đưa ra những quyết định vị kỉ và khó kiếm soát được bản thân.”


Dịch: Hành Lang Tâm Lý
Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter