Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2017

TÂM LÝ HỌC VỀ BẠO HÀNH ĐỘNG VẬT

0
Trẻ em và cách đối xử với động vật

Càng ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy trẻ em có những hành vi bạo lực trên động vật có khả năng sẽ thực hiện các hành vi tương tự với người khác trong tương lai. Lý do và hệ quả của hiện tượng này rất đa dạng. Với sự hướng dẫn của ngừoi lớn, trẻ có thể học cách đồng cảm với mọi người và mọi vật xung quanh. Tuy nhiên, nếu thiếu sự can thiệp trên, trẻ sẽ có thể vướng vào vòng xoáy bạo lực trước những cá nhân yếu thế và không bảo vệ được bản thân.

“Chấm dứt bạo hành động vật là bước quan trọng để chấm dứt mọi loại bạo lực” [1]

Bạo lực gia đình, lạm dụng trẻ em và bạo hành động vậy từ lâu đã được chứng minh là có chung một nguồn gốc [2]. Tuy nhiên, phát hiện này lại không được quan tâm chú ý đúng mức. Frank Ascione,nhà nghiên cứu hàng đầu về bạo hành động vật và mối liên hệ tới bạo lực ở con người, cho rằng: “bao hành động vật đã không được nhìn nhận, thậm chí đôi khi bị loại trừ, như một dấu hiệu nguy cơ hay một hành vi cảnh báo giúp nhận diện những trẻ có nguy cơ thực hiện các hành vi bạo lực với người xung quanh” [3].
Mối liên hệ rõ rang này đã bị đánh giá thấp trong một thời gian dài.

Nghiên cứu về mối liên hệ giữa bạo hành động vật và bạo lực trên con người đã phát triển khá nhanh trong hai thập kỷ gần đây. Các nhà chuyên môn trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã công nhận rằng hiện tượng bạo hành động vât cần phải được liên tục theo dõi.

Đến tận đầu thế kỷ 21, các nhà nghiên cứu mới bắt đầu chấp nhận quan điểm cho rằng bại hành động vật không phải tự nhiên mà có [4] và hành vi này là chỉ báo cho các dạng bạo lực khác. Một phần lý do của điều này là việc đến tận gần đây chúng ta mới chấp nhận động vật là một kiểu “nạn nhân tiềm năng” [5]. Đi kèm yếu tố trên là sự đa dạng trong định nghĩa về bạo hành và lạm dụng, cách đo lường và ghi nhận cũng gây nhiều tranh cãi. Đồng thời, các nhà nghiên cứu thường chỉ tập trung tìm hiểu cách động vật được đối xử hay bị ngược đãi trong bối cảnh xã hội của riêng họ mà thôi [6]. Gần đây, các nhà nghiên cứu mới bắt đầu tranh luận rằng liệu các trường hợp lạm dụng hay bạo hành động vật có nên được xem là một yếu tố can dự vào khuôn khổ vi phạm pháp luật hay không, lý do là vì nó có thể được xem như một chỉ báo cho bạo lực gia đình [7].

Nghiên cứu và đánh giá hiện tượng này thường chỉ giới hạn trong giới học thuật. Tuy nhiên, việc phổ biến cho đại chúng lại khá hiếm và gặp nhiều vấn đề. Với việc những thông tin quan trọng và kịp thời về những khía cạnh bên dưới bạo lực với động vật và con người chỉ hạn chế trong các tạp chí khoa học, vậy chúng ta cần phải hành động như thế nào? Một trong những câu trả lời là thông qua trường lớp và các tổ chức. Tuy nhiên, có vẻ bấy nhiêu là chưa đủ. Dù chúng ta đã biết động vật có vô vàn những đặc điểm và phẩm chất có lợi cho con người, “việc đồng cảm [với động vật] không đơn giản là thứ gì đó có thể dễ dàng đưa vào người như tiêm chủng; nó là một quá trình học tập lâu dài” [8]. Cha mẹ, giáo viên, cũng như động vật là những tác động quan trọng và không thể thiếu cho sự phát triển nhận thức. Động vật đem lại lợi ích cho sức khoẻ con người [9]. Đồng thời, chúng cũng là một trong những nhà giáo dục quan trọng trong việc xây dựng các phẩm chất tích cực trong quá trình phát triển của trẻ. [10]. Những phần tiếp theo sẽ cung cấp những khía cạnh nổi bật và quan trọng về các yếu tố tâm lý trong hành vi bạo hành động vật.

Mối liên hệ giữa bạo hành động vật và bạo lực với người

Đến tận đầu thế kỷ 20, vẫn có rất ít những nghiên cứu về mói quan hệ giữa trẻ em với động vật. Phải đến tận đầu thế kỷ 21 ý tưởng trên mới được phân tích sâu rộng [12]. Các nhà nghiên cứu bắt đầu nhận ra bạo hành động vật không chỉ đơn giản là một ý tưởng ban đầu về bạo lực, đó còn là một hiên tượng phức tạp hơn nhiều. [13].

Các nhà tư tưởng lớn trong lịch sử đã từ lâu cho rằng có tồn tại một mối liên hệ giữa cách chúng ta hành xử với động vật và cách chúng ta cư xử với bản thân và những ngừoi xung quanh [14]. Gandhi, một trong những người tiên phong trong phong trào bất tuân dân sự phi bạo lực, đã tóm gọn như sau: “Sự vĩ đại và đạo đức của một quốc gia có thể được đánh giá qua cách động vật của quốc gia đó được đối xử” [15] Mối liên hệ trên trẻ nên nổi tiếng đến mức nhiều nhà nghiên cứu biết đến nó đơn giản thông qua cụm từ “mối liên hệ”[16]. Các triết gia, nghệ sĩ và các nhà nhân chủng học vẫn luôn đề xuất, thậm chí đòi hỏi chúng ra nhìn nhận và hành động trước mối liên hệ này.

Cuối những năm 1600, triết gia John Locke đã nói “Hãm hại động vật có hệ quả huy diệt đối với những ai thực hiện nó”. Năm 1751, William Hogarth đã mô tả mối liên hệ giữa bạo lực động vật và bạo lức với con người trong một loạt các phù điêu mang tên “Bốn Gia đoạn của sự Tàn ác”. Các phù điêu kể lại cuộc đời của Tom Nero, người đi từ việc hành hạ những chú chó lúc còn nhỏ đến việc hiếp dâm và giết người khi lớn, trước khi bị xử treo cổ [17]. Tiến trình hình thành bạo lực tương tự được đề cập bởi nhà nhân chủng học Margaret Mead vào những năm 60 và bởi Anna Freud vào những năm 80: “Sụ tàn bạo có thể là triệu chứng của rối loạn nhân cách”. Theo những nhà lý thuyết trên, trẻ em và trẻ vị thành niên hãm hại động vật có thể dần dà thực hiện hành vi bạo lực này đến hành vi bạo lực khác, mỗi hành vi sẽ dần làm chúng mất đi cảm giác về bạo lực hay kích hoạt những xu hướng huỷ hoại tiềm tàng. Khi những xung năng trên được giải phóng, “con đập ngăn ngừa bạo lực sẽ mở toang”, khiến cho đối tượng của các hành vi bạo lực chuyển từ động vật lên người, đặc biệt là nhữn người gần gũi với trẻ (nói cách khác, chính gia đình của trẻ) [19].

“Ở đâu có bạo hành động vật, ở đó có bạo lực với con người”[20]

Như Arluke (2006) giải thích, “với mỗi nghiên cứu tìm thấy mối liên hệ giữa bạo hành động vật và xung năng bạo lực […], sẽ có một nghiên cứu khác không tìm thấy mối liên hệ đó”. Điều này có thể do khác biệt trong phương pháp nghiên cứu. Đa phần các nghiên cứu trong lĩnh vực này được thực hiện thông qua khảo sát và bảng hỏi. Phương pháp này bị chỉ trích do khả năng những người thực hiện hay trải nghiệm hành vi bạo lực sẽ không đưa ra những câu trả lời đúng với thực tế. Một giải thích khác phản biện lại mối liên hệ này là tính hai chiều của nó. Nếu vậy, tình thương với động vật cũng sẽ là chỉ báo cho long nhân ái giành cho con người. Tuy nhiên, một ví dụ minh chứng trong trường hợp ngược lại thường được sử dụng là ý kiến cho rằng trong nước Đức Phát xít, phúc lợi giành cho động vật cao hơn giành cho con người, hay Birdman Alcatraz, kẻ giết người hàng loạt lại chăm sóc hàng trăm con chim khác nhau [21].

i) Tam giác Macdonald và ảnh hưởng của văn hoá
Theo tam giác MacDonald, lạm dụng động vật, cùng với đốt lửa và đái dầm ở trẻ là các yếu tố cảnh báo bạo lực về sau ở trẻ [22]. Dù học thuyết này nhần nhiều sự phê bình, có nhiều lý do về văn hoá xã hội vẫn khiến chúng ta phải nghiêm túc xem xét. [23]. Rất nhiều sách báo, phim ảnh đã mô tả những nhân vật có hành vi bạo lực với động vật như là bước đâu tiên trong một chuỗi các hành vi dẫn đến việc cuối cùng sẽ hãm hại nguòi khác. Phần lớn các sát nhân nổi tiếng đều có lịch sử bạo hành động vật, đặc biệt là đều có các triệu chứng mà MacDonald mô tả khi còn nhỏ [24]. Một loạt những người xả sung hàng loạt trong các trương học những năm vừa qua cũng có lịch sử về bạo hành động vật lúc nhỏ, đặc biệt là Luke Woodham,[25] Kip Kinkel[26], và sát nhân tại ĐH Columbine Eric Harris và Dylan Klebold[27].

Dù rõ ràng là đốt lửa, đái dầm, và ngay cả bạo hành động vật là không đủ và chưa chắc hẳn luôn dẫn đến bạo lực, rất nhiều người vẫn xem chúng là những hành vi chỉ báo. Tuy nhiên, quan trọng không kém là cách xã hội phản ứng trước những sự kiện trên [28]. Các nhà phê bình hay tranh luận rằng “tiến trình” bạo lực động vật-con người, trong đó một yếu tố sẽ dẫn đến cái còn lại, vẫn còn nhiều thiếu sót và xem nhẹ những khía cạnh đa chiều của “những hành vi xã hội được thiết chế hoá (institutionalized social practices), trong đó việc bạo hành động vật diễn ra thường xuyên, rộng khắp, và được xã hội chấp nhận” [29]. Đó là mâu thuẫn kinh điển giữa hai yếu tố bẩm sinh và môi trường.

ii) Bạo hành đông vật và Bạo lực gia đình
Các nhà khoa học xã hội và các cơ quan hành pháp mới đây đã bắt đầu nghiên cứu về nguồn gốc của bạo lực. Họ đã liên kết các hành vi bạo hành động vật với việc lạm dụng hay bỏ mặc trẻ em, bạo lực trong gia đình và bạo lực trong cộng đồng. Các nhân viên hành pháp, công tố viên, những cơ quan dich vụ xã hội, bác sĩ, các chuyên gia sức khoẻ tâm thần đã cùng làm việc với các bác sĩ thú y và những nhân viên kiểm soát động vật để đề ra chiến lược bảo vệ những ngừoi yếu thế trong cộng đồng. Lý do là vì những ngừoi thực hiện các hành vi bạo lực thường đe doạ hay thực hiện các hành vi bạo lực để hãm hại động vật, đặc biệt là vật nuôi như một “cách thức giành lấy và duy trì quyền kiểm soát lên gia đình” [30]. Dù diều này ngày càng được thể hiện rõ và trở thành một yếu tố quan trọng [31], các nghiên cứu liên tục cho thấy các dịch vụ và cơ sở xã hội thường ít khi hỏi về vấn đề trên.
·     Theo Văn phòng Thống kê Australia, “có khoảng 1 trên 12 phụ nữ bị lạm dụng về cảm xúc bởi đối tác của mình cho biết vật nuôi của họ từng bị hãm hại” [32]
·     Trong một nghiên cứu trên 200 phụ nữ đang phải tạm trú do bạo lực gia đình, gần 55% cho biết, “thành viên trong gia đình hay đối tác của họ từng đe doạ giết vật nuôi hay gia súc của họ”. Xấp xỉ một phần ba người tham gia nghiên cứu cho biết vật nuôi của họ từng bị giết hay bị gây thương tích trong suốt mối quan hệ. 90% người đe doạ hay gây thương tích/ giết là vợ hay chồng của họ” [33].
·     Một nghiên cứu tại Úc thực hiện vào năm 2012 cho thấy, trong 26 phụ nữ được khảo sát tại các trung tâm dịch vụ xã hội cho người bị bạo lực gia đình, 92% chobiết “họ từng phải nói chuyện về bạo hành động vật cho các bác sĩ thú y”, rất nhiều người trong số họ không biết, hay không có đủ thông tin, về việc họ có thể sử dụng các dịch vụ chăm sóc vật nuôi khi chấm dứt một mối quan hệ có bạo hành gia đình. Ngay cả những người biết về những dịch vụ này cũng “không sẵn sang sử dụng” các dịch vụ đó, nguyên do thường được đưa ra là mối liên kết của họ với vật nuôi” [34].
·     Khoảng 88% vật nuôi trong các gia đình có bạo hành thường bị lạm dụng hay bị giết. Tại Mỹ, 57% phụ nữ trong các trung tâm dịch vụ xã hội cho người bị bạo lực gia đình có vật nuôi bị giết bởi người bạo hành. Việc bỏ bê vật nuôi cũng có thể là chỉ báo cho việc bỏ bê con cái.
·     Trong các trường hợp chứng kiến bạo lực hay ngược đãi động vật, can thiệp sớm có thể có tác dụng ngăn chặn hành vi được thực hiện, dù ngừoi bạo hành là trẻ em hay ngừoi lớn. Các trường hợp bạo hành động vật nghiêm trọng hay liên tiếp xảy ra cần có xử phạt hình sự lẫn điều trị y khoa.

Nghiên cứu liên tục cho thấy lạm dụng động vật cần được các nhà khoa học chú ý cẩn trọng và lâu dài. Lý do vì:
·     Đa số, nếu không phải tất cả, các nhà chuyên môn đều cho rằng tàn bạo với động vật có thể là “hành vi chông đối xã hội nghiêm trọng”, đóng vai trò cảnh báo hay nhận biết bạo lực trong tương lai. Bản thân người ngược đãi động vậy thường là nạn nhân của bạo lực, các nghiên cứ cho thấy lạm dụng vật nuôi thường đi kèm với bạo lực gia đình.
·     Bạo hành động vật “thường xuyên xảy ra”, nhiều nghiên cứu cho thấy “một nửa trẻ em từng chứng kiến và một phần năm từng thực hiên hành vi này” [35].
·     Những hệ quả tiêu cực trong tiến trình phát triển của trẻ có thể có tương quan hay là kết quả trực tiếp của việc ngược đãi động vật. Hành vi này được liệt kê như một triệu chứng của Rối loạn Cư xử (Conduct Disorder), và thường dẫn đến việc “ngăn chặn hay làm biến chất khả năng thấu cảm”.
·     […]

Vấn đề về Định nghĩa?

Xã hội thường phân loại một số loài vật là cần loại trừ, hay gán những ngôn ngữ tiêu cực lên loài vật đó, cố ý cho chúng ta biết là cuộc sống của chúng không quan trọng. Ví dụ như các từ “sâu hại” hay loài gặm nhấm”. Việc giết hay hãm hại các loài vật trên không những không bị chú trọng mà còn được khuyến khích công khai, “bất kể cách thức hay với ý định gì” [38]. Tuy nhiên, mỗi loài vật lại được phân loại khác nhau trong mỗi nền văn hoá, kết quả là đưa đến một định nghĩa khá mong manh về việc “tàn bạo với động vật” thật sự có ý nghĩa gì […]
Định nghĩa về lạm dụng hay ngược đãi động vật thường được các nhà nghiên cứu sử dụng như sau: “hành vi không được xã hội chấp nhận trong việc cố tình gây đau đớn, chịu đựng, căng thẳng hoặc sát hại không cần thiết với động vật” [42]. Tuy nhiên, một số hành vi bạo lực với động vật thường được chấp nhận, cho phép hay thậm chí tán dương bởi một số nguời, lại không nằm trong định nghĩa trên. Săn bắn là một ví dụ. Việc sát hại kinh hoàng và tàn bạo hàng triệu con kangaroo là một ví dụ. Kangaroo là đối tượng bị sát hại trong tự nhiên nhiều nhất trên thế giới chỉ sau hải cẩu Canada [43]. Việc giết hại hàng loạt này được xã hội cho phép. Trong một báo cáo với Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ, Ascione đã lý giải một số ngoại lệ trong các hành vi bạo lực và tàn bạo dựa trên cơ sở rằng các nền văn hoá khác nhau gắn những ý nghĩa khác nhau lên hành vi bạo hành động vật. Thật vậy, hành vi lạm dụng ở văn hoá này có thể lại là một môn thể thao ở nền văn hoá khác [44].
Ascione đưa ra ví dụ về việc dự thảo đưa rodeo (trò chơi cưỡi bò hay bắt bò của cao bồi Mỹ) và đấu bò tại Thế Vận Hội 2002. Đa số người dân sẽ cảm thấy “kinh tởm” về đề xuất này. Tuy nhiên, nếu đề nghị tương tự được đưa ra tại Tây Ban Nha, nó sẽ lại “ít gây tranh cãi hơn”, chủ yếu là do “khác biệt về tiêu chuẩn văn hoá trong việc đối xử với động vật”. Đây chính là chủ nghĩa tương đối trong văn hoá. Một nghiên cứu về sự khác biệt trong các niềm tin và quy luật văn hoá vào năm 1992 của  Robert B. Edgerton đã cho thấy, một số hành vi và thực hành “không mang tính thích ứng về văn hoá”. Chúng ta có khả năng đặt mình vào nhiều vị thế (positivity) khác nhau, thì ngược lại, “chúng ta cũng có khả năng duy trì các niềm tin, giá trị và thiết chế xã hội dẫn đến các hành động tàn bạo phi nghĩa, gây đau khổ không cần thiết và cực kỳ điên rồ đối với nhau cũng như với các xã hội khác cùng môi trường hiện hữu quanh xã hội đó [45]. Điều này đúng với xã hội của chúng ta cũng như với các xã hội khác.

Tại sao trẻ lại hãm hại động vật

Đa số các nhà nghiên cứu đồng ý rằng ngược đãi đông vật không chỉ đơn thuần là hệ quả khiếm khuyết về nhân cách ở người ngược đãi. Đó còn là triệu chứng của một bối cảnh chịu tổn thương nghiêm trọng. Những người bạo hành động vật thường chủ yếu là nam giới ở độ tuổi vị thành niên, có thể đến từ bất kỳ sắc tộc hay điều kiện kinh tế xã hội nào.
Nghiên cứu cho thấy bản thân trẻ em lạm dụng động vật thường là nạn nhân của lạm dụng, từng chứng kiến bạo hành trong gia đình hay học cách phản ứng trước cơn giận hay sự thất vọng thông qua bạo lực từ chính cha mẹ. Những trẻ này sẽ thực hiện hành vi bạo lực lên một thành viên khác yếu thế hơn tron ggia đình, mà thường sẽ là vật nuôi.

Bạn có thể hỗ trợ bằng cách nào:

·     Cần nhận biết mối liên hệ giữa bạo lực với động vật và các loại bạo lực khác, đặc biệt là ở trẻ em. Can thiệp sớm có thể giúp thay đổi vòng xoáy bạo lực trên
·     Đừng làm ngơ trước viêc ngược đãi động vật ở trẻ em bằng cách cho rằng “nó mới là con nít”. Nếu trẻ có hành vi tàn bạo với động vật, đó có thể là dấu hiệu trẻ đang cần sự trợ giúp.
·     Nếu bạn nghe hay thấy trẻ hay động vật bị bạo hành, hãy tìm kiếm sụ hỗ trợ. Không hành động nghĩa là đang chấp nhận hay tham gia vào hành vi bạo hành. […]

Link bài viết: http://animal-lib.org.au/campaigns/animal-rights-theories/the-psychology-of-violence-against-animals
Dịch: Hành Lang Tâm Lý

Tài liệu tham khảo


[1]Flynn, C. P., 2011, ‘Examining the links between animal abuse and human violence,’ Crime, Law and Social Change, vol. 55, pp. 453-468.
[2]Ascione, F. R., 2005, Children and Animals: Exploring the Roots of Kindness and Cruelty, Purdue University Press, Indiana.
[3]Ascione, F. R., 2001, ‘Animal abuse and youth violence,’ US Department of Justice, Office of Juvenile Justice and Delinquency Prevention, Juvenile Justice Bulletin. Available at: https://www.ncjrs.gov/pdffiles1/ojjdp/188677.pdf
[4]The Humane Society of the United States (HSUS), n.d., First Strike: The Violence Connection. Available at:http://www.humanesociety.org/assets/pdfs/abuse/first_strike.pdf
[5]Merz-Perez, L. and Heide, K. M., 2004, Animal Cruelty: Pathway to Violence against People, AltaMira Press, Oxford.
[6]Ascione, F. R., 2005, Children and Animals: Exploring the Roots of Kindness and Cruelty, Purdue University Press, Indiana.
[7]Killeen, A., 2014, ‘Animals and domestic violence,’ New Zealand Law Journal, March, pp. 71-75
[8]Vachss, A., 2005, cited in Ascione, F. R., 2005, Children and Animals: Exploring the Roots of Kindness and Cruelty, Purdue University Press, Indiana.
[9] Wells, D. L., 2009, ‘The effects of animals on human health and well-being,’ Journal of Social Issues, vol. 65, no. 3, pp. 523-543.
[10]Serpell, J., 1999, ‘Animals in children’s lives,’ Society and Animals, vol. 7, no. 2, pp. 87-94.
[11]Hall, 1904, cited in Ascione, F. R., 2005, Children and Animals: Exploring the Roots of Kindness and Cruelty, Purdue University Press, Indiana.
[12]Ascione, F. R., 2005, Children and Animals: Exploring the Roots of Kindness and Cruelty, Purdue University Press, Indiana.
[13]Merz-Perez, L. and Heide, K. M., 2004, Animal Cruelty: Pathway to Violence against People, AltaMira Press, Oxford.
[14]Flynn, C. P., 2011, ‘Examining the links between animal abuse and human violence,’ Crime, Law and Social Change, vol. 55, pp. 453-468.
[15] Quoted in Phillips, C., 2009, The Welfare of Animals: The Silent Majority, Springer Publishing, New York.
[16]Muller-Harris, D. L., 2011, ‘Animal violence court: a therapeutic jurisprudence-based problem-solving court for the adjudication of animal cruelty cases involving juvenile offenders and animal hoarders,’ Animal Law, vol. 17, pp. 313-336.
[17]Muller-Harris, D. L., 2011, ‘Animal violence court: a therapeutic jurisprudence-based problem-solving court for the adjudication of animal cruelty cases involving juvenile offenders and animal hoarders,’ Animal Law, vol. 17, pp. 313-336.
[18]Lockwood, R., 2005, ‘Cruelty toward cats: changing perspectives’. In D J Salem and A N Rowan (eds.), The State of Animals, Humane Society Press, Washington.
[19]Arluke, A., 2006, Just A Dog: Understanding Animal Cruelty and Ourselves, Temple University Press, Philadelphia.
[20]Muller-Harris, D. L., 2011, ‘Animal violence court: a therapeutic jurisprudence-based problem-solving court for the adjudication of animal cruelty cases involving juvenile offenders and animal hoarders,’ Animal Law, vol. 17, pp. 313-336.
[21]Arluke, A., 2006, Just A Dog: Understanding Animal Cruelty and Ourselves, Temple University Press, Philadelphia.
[22]Ascione, F. R., 2005, Children and Animals: Exploring the Roots of Kindness and Cruelty, Purdue University Press, Indiana.
[23]Arluke, A., 2006, Just A Dog: Understanding Animal Cruelty and Ourselves, Temple University Press, Philadelphia.
[24]Petersen, M. L. and Farrington, D. P., 2007, ‘Cruelty to animals and violence to people,’ Victims and Offenders, vol. 2, pp. 21-43.
[25] Beirne, P., 2004, ‘From animal abuse to interhuman violence? A critical review of the progression thesis,’ Society and Animals, vol. 12, no. 1, pp. 39-65.
[26]Leary, M. R., Kowalski, R. M., Smith, L. and Phillips, S., 2003, ‘Teasing, rejection, and violence: case studies of the school shootings,’ Aggressive Behaviour, vol. 29, pp. 202-214.
[27]Finkelstein, S. I., 2003, ‘Canary in a coal mine: the connection between animal abuse and human violence,’ Bellwether Magazine, vol. 1, no. 58, p. 10.
[28]Ascione, F. R., 2005, Children and Animals: Exploring the Roots of Kindness and Cruelty, Purdue University Press, Indiana.
[29] Beirne, P., 2004, ‘From animal abuse to interhuman violence? A critical review of the progression thesis,’ Society and Animals, vol. 12, no. 1, pp. 39-65.
[30]Killeen, A., 2014, ‘Animals and domestic violence,’ New Zealand Law Journal, March, pp. 71-75
[31]Ascione, F. R., Weber, C. V. and Wood, D. S., 1997, ‘The abuse of animals and domestic violence: a national survey of shelters for women who are battered,’ Society and Animals, vol. 5, no. 3.
[32]Australian Bureau of Statistics (ABS), 2014, ‘Australian social trends, 2014: emotional abuse’. Available at:http://www.abs.gov.au/ausstats/abs@.nsf/Lookup/4102.0main+features602014
[33]Killeen, A., 2014, ‘Animals and domestic violence,’ New Zealand Law Journal, March, pp. 71-75
[34]Tiplady, C.M. and Phillips, C. J. C., 2012, ‘Intimate partner violence and companion animal welfare,’ Australian Veterinary Journal, vol. 90, no. 1-2, pp. 48-53.
[35]Flynn, C. P., 2011, ‘Examining the links between animal abuse and human violence,’ Crime, Law and Social Change, vol. 55, pp. 453-468.
[36]Australian Veterinary Association (AVA), 2013, ‘Pet ownership statistics’. Available at: http://www.ava.com.au/news/media-centre/hot-topics-4
[37]RSPCA, 2016, ‘How many pets are there in Australia?’ Available at: http://kb.rspca.org.au/How-many-pets-are-there-in-Australia_58.html
[38]Ascione, F. R., 2005, Children and Animals: Exploring the Roots of Kindness and Cruelty, Purdue University Press, Indiana.
[39]Deery, S., 2012, ‘Conviction, but no jail, for three youths who tortured and killed baby kangaroo,’ Herald Sun. Available at:http://www.heraldsun.com.au/news/law-order/conviction-but-no-jail-for-three-youths-who-tortured-and-killed-baby-kangaroo/story-fnat7jnn-1226521086016
[40]Brice, C., 2016, ‘Tiny dolphin killed by crowd of beachgoers for selfies in Argentina,’ ABC News. Available at:http://www.abc.net.au/news/2016-02-18/baby-dolphin-killed-by-crowd-of-beachgoers-in-argentina/7182070
[41]Bowerman, M., 2015, ‘New ‘cat-punching’ page appears on Facebook,’ USA Today. Available at:http://www.usatoday.com/story/news/nation-now/2015/02/11/animal-cruelty-facebook-cat-punching-back/23228703/
[42]Ascione, F. R., 1993, ‘Children who are cruel to animals: a review of research and implications for developmental psychopathology,’ Anthrozoos, vol. 6, pp. 226-247.
[43]Boom, K., Ben-Ami, D.,Croft, D. B., Cushing, N. and Ramp, D., 2012, ‘ ‘Pest’ and resource: a legal history of Australia’s kangaroos,’ Animal Studies Journal, vol. 1, no. 1, pp. 17-40.
[44]Ascione, F. R., 2001, ‘Animal abuse and youth violence,’ US Department of Justice, Office of Juvenile Justice and Delinquency Prevention, Juvenile Justice Bulletin. Available at: https://www.ncjrs.gov/pdffiles1/ojjdp/188677.pdf
[45]Edgerton cited in Ascione, F. R., 2005, Children and Animals: Exploring the Roots of Kindness and Cruelty, Purdue University Press, Indiana.


Đọc tiếp

Thứ Tư, 14 tháng 12, 2016

BÍ QUYẾT TẶNG QUÀ MÙA GIÁNG SINH

0
Cơ chế tâm lý bên dứoi việc tặng quà
Elizabeth Landau
Không ít người hiện vẫn không biết phải tặng bạn bè và gia đình điều gì trong dịp Giáng Sinh này. Vì vậy, chúng tôi đã tham khảo các tâm lý gia về việc làm thế nào để có được một món quà “ý nghĩa”, nhất là dựa trên cách đầu óc của chúng ta hoạt động.
Không có nghiên cứu nào có thể xác định được một món quà “chính xác” tuyệt đối. Đồng thời, do các nghiên cứu về việc tặng quà cũng khá hạn chế nên cũng không có bất kỳ hướng dẫn “an toàn” nào trong việc thể hiện tấm lòng của bạn. Tuy nhiên, các chuyên gia có thể đem lại một số gợi ý về những cơ chế diễn ra đằng sau hành động tặng quà mà bạn có thể tham khảo trong mùa Giáng Sinh này.

Món quà bằng trải nghiệm vs. hiện vật
Nghiên cứu tâm lý (link)  cho thấy trải nghiệm sẽ khiến chúng ta hạnh phúc hơn vậy chất. Lý do là vì khi bạn quen với việc hàng ngày nhìn thấy những món đồ bạn sở hữu, sự thích thú ban đầu sẽ dần biến mất. Trải nghiệm, ngược lại, vẫn khiến ch bạn cảm thấy vui thích mỗi khi nghĩ về chúng.
Ryan Howell, phó giáo sư tại ĐH Bang San Francisco, đã chủ nhiệm một loạt các nghiên cứu cho thấy khi chúng ta nghĩ về những thứ mình mới mua cho bản thân, chúng ta thường cảm thấy thoả mãn hơn khi những thứ đó được chúng ta xem là trải nghiệm. Điều này diễn ra ngay trong thời điểm mua hàng và cả sau khi trải nghiệm đã kết thúc.
Điều này tương tự với một nghiên cứu vào năm 2003: “Thực hiện hay sở hữu: đó mới là câu hỏi” (link) do Leaf Van Boven và Thomas Gilovich thực hiện. Theo khảo sát từ những người tham gia, nghiên cứu này cũng cho thấy chúng ta thường hạnh phúc với việc mua sắm trải nghiệm nhiều hơn việc mua sắm hiện vật.
Tuy nhiên, vẫn chưa rõ liệu điều này có đúng với mọi kiểu quà tặng hay không. Gilovich cho rằng bản thân tặng và nhận quà đã là một trải nghiệm, và món quà hiện vật mà bạn nhận được có thể có những giá trị tình cảm tăng dần theo thời gian và trở thành một kỷ vật.
Bạn cũng có thể có một món quà hay nếu bạn cho thấy mức độ bạn hiểu biết về người nhận quà và tặng họ một trải nghiệm thể hiện sự thông hiểu đó. Howell nhớ rằng mẹ của ông hay thích thêu thùa nên ông đã tặng bà một chuyến nghỉ dưỡng kết hợp các hoạt động thêu thùa.
“Chìa khoá nằm trong sự kết nối với người đối diện”, Howell kết luận.

Tặng món quà mà người kia mong muốn
Bạn có thể rất thích thú việc suy nghĩ lựa chọn món quà “hoàn hảo” cho ai đó. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy chúng ta có thể bị chính suy nghĩ trên làm lạc hướng.
Yan Zhang và Nicholas Epley năm 2012 đã viết một nghiên cứu trên tạp chí Experimental Psychology (link) chứng minh luận điểm trên. Những người tham gia thường cân nhắc xem họ có thích món quà họ đinh tặng hay không. Và họ chỉ cân nhắc đến suy nghĩ của người nhận khi họ cảm thấy không thích món quà đó – ví dụ, họ có thể nghĩ người nhận sẽ đặt câu hỏi tại sao người tặng lại có thể hình dung một món quà ‘vô duyên’ đến thế?
Dồn sức suy nghĩ về món quà có thể có chức năng phòng vệ đối với người tặng, giáo sư Epley tại trường Kinh doanh, ĐH Chicago, cho biết. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc làm tăng sự thích thú của người nhận đối với món quà.
“Nếu bạn muốn tìm ra một món quà khiến người khác hạnh phúc, món quà khiến họ cảm thấy thật sự trân quý, hãy tặng những gì mà họ muốn.”
Epley ghi nhận, ngừoi tặng quà có được nhiều lợi ích hơn người nhận thông qua việc suy nghĩ về món quà.
“Cách thức suy nghĩ về món quà khiến cho ngừoi tặng qua cảm thấy gần gũi hơn với người nhận”

Lựa chọn an toàn?
Dan Ariely, giáo sư tâm lý học và kinh tế học hành vi tại ĐH Duke, mong muốn chúng ta mạo hiểm hơn trong việc lựa chọn quà tặng.
Khi chúng ta không biết phải tặng ai đó mó quà gì, chúng ta hay có xu hướng tặng những  món quà không lưu giữ được lâu như hoa hay sô-cô-la. Chúng không quá chiếm chỗ và nếu người nhận không thích thì cũng không có vấn đề gì quá lớn, Ariely cho biết. Bạn sẽ không phải chịu quá nhiều trách nhiệm nếu mọi việc không như mong muốn.
Nhưng nếu bạn muốn tạo ấn tượng tốt với người kia, có lẽ sẽ tốt hơn nếu bạn mạo hiểm và lựa chọn món quà nào đó thật sự nổi bật.
“Hãy thử tặng món quà mà ngừoi kia không nghĩ đến việc sẽ tự mua cho bản thân họ,” Ariel nhận xét.
Ví dụ, năm nay, Ariely tặng những món quà như tai nghe hay bút chất lượng cao, những món đồ hơi xa xỉ một chút nhưng hữu dụng và mọi ngừoi thường ít khi tự mua cho bản thân. Ông cũng tặng những chiếc nón và giày “độc”, những món đồ mà ngừoi lớn không phải lúc nào cũng cảm thấy thoải mái khi mua chúng.
Tuy nhiên, Epley vẫn cẩn trọng khi cho rằng việc tặng người kia chính xác món quà mà họ muốn vẫn có thể khiến họ thấy hạnh phúc hơn.
“Chúng tôi phát hiện rằng, trực giác của chúng ta trong việc tặng quà thường không chính xác.”

Thẻ quà tặng hay tiền mặt
Ariely cho rằng, trong cuộc sống thường nhật, nhiều món đồ thường đi kèm với cảm giác có lỗi. Nếu bạn tặng ngừoi khác tiền mặt hay thẻ quà tặng có thể dùng trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, họ thường có xu hướng sử dụng chúng để mua sắm nhu yếu phẩm, trả tiền xăng, điện nước hay những thứ có vẻ trông không giống “quà tặng”.
Ariely cho rằng nếu bạn tặng những thẻ quà tặng chỉ dung được trong một số cửa hàng, nhà hàng hay dịch vụ giải trí nhất định, chúng có thể giúp loại bỏ cảm giác có lỗi nơi người nhận trong việc sử dụng tiền để tưởng thưởng cho bản thân. Thực tế, bạn đang giúp người nhận quà tạo nên những trải nghiệm mới bằng cách “dụ” họ đi những nơi hay mua những thứ mà bình thường họ không nghĩ đến.
Phiếu đi spa là một ví dụ cụ thể. “Nếu bạn sử dụng những thứ mà thông thường bạn không cho phép bản thân trải nghiệm, nó sẽ có giá trị hơn nhiều,” Ariely kết luận.

Đàn ông vs Phụ nữ
Có một số nghiên cúu cho rằng cách đàn ông và phụ nữ nhìn những món quà khá khác nhau. Jeff Huntsinger, giáo sư tâm lý tại ĐH Loyola Chicago, cùng đồng sự đã thực hiện một nghiên cứu về Nhận thức Xã hội (link) vào năm 2008 nhằm tìm hiểu các món quà ảnh hưởng như thế nào đến các mối quan hệ.
Các nhà nghiên cứu thực hiện một loạt các thực nghiệm trên cả đàn ông và phụ nữ, trong đó ngừoi tham gia được hướng dẫn để tin rằng họ đang nhận một món quà ‘tệ’ từ người yêu của mình. Sau đó, người tham gia sẽ nhận xét về người yêu và mối quan hệ của họ.
Kết quả cho thấy, bất kể món quà ra sao, phụ nữ thường tin rằng bạn trai của họ vẫn có nhiều điểm tương đồng với họ và mối quan hệ sẽ bền vững lâu dài. Trong khi đó, đàn ông lại có nhiều phản ứng tiêu cực hơn đối với những món quà ‘tệ’, họ sẽ cho rằng giữa hai người có nhiều điểm khác biệt và dự đoán mối quan hệ sẽ sớm kết thúc.
Đây chỉ là một nghiên cứu đơn lẻ và kết quả không nên được khái quát hoá lên tất cả mọi tình huống. Huntsinger cũng chưa chắc về những ứng dụng của nghiên cứu này. Nhưng có lẽ với những món quà bình thường, phụ nữ sẽ phản ứng ít tiêu cực hơn đàn ông khi nhận những món quà họ không mong muốn. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để đi tới kết luận chắc chắn hơn.
“Một điểm thú vị về các món quà là nó có thể được xem như là dấu hiệu cho thấy chúng ta hiểu rõ người kia đến đâu” Huntsinger nhận xét.

Làm cho mọi người hạnh phúc
Theo Ariely, việc xác định xem bạn đang cố gắng làm cho ai hạnh phúc khi bạn tặng quà là rất quan trọng. Nếu đó là cho người nhận thì hãy tặng món quà mà người kia thích nhất. Nếu mục tiêu là khiến bạn cảm thấy vui, hãy tặng món quà khiến bạn cảm thấy hài lòng. Và chất lượng của mối quan hệ là điều bạn quan tâm nhất, hãy nghĩ: Ngừoi nhận sẽ nhớ và nghĩ đến bạn trong những trường hợp nào?
Nếu bạn mua nhiều món quà cho cùng một người, như vợ/chồng hay con bạn, bạn có thể thử trộn lẫn những món quà mà ngừoi kia yêu cầu và những món quà “bất ngờ”, Epley chia sẻ. Tuy nhiên ông không mấy lạc quan với những món quà bất ngờ.
"Chỉ khi nào bạn công nhận những món quà là giành cho ngừoi nhận, và cũng là giành cho chính bạn, thì tôi nghĩ lúc đó mọi việc mới hợp lý. Và đừng thất vọng nếu người nhận không phản ứng như mong đợi của bạn.”

Dịch: HÀNH LANG TÂM LÝ

Nguồn dịch: http://edition.cnn.com/2012/12/21/health/psychology-holiday-giving/
Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter