Thứ Ba, 14 tháng 11, 2017

MINDFULNESS-CHÁNH NIỆM LÀ GÌ? MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHÁI NIỆM CHÁNH NIỆM

0
Chánh niệm, thiền định là gì?

Có lẽ bạn đã từng nghe qua về chánh niệm (mindfulness). Giống nhiều ý tưởng và thực hành khác xuất phát từ Phật giáo dần trở nên thịnh hành, thuật ngữ này ngày nay xuất hiện ở mọi nơi.
Tuy nhiên, một bài tổng quan trên tạp chí Perspectives on Psychological Science cho thấy có vẻ cơn sốt này đang đi trước cả những bằng chứng khoa học của nó. Một số tổng quan nghiên cứu trên chánh niệm cho thấy nó có thể trợ giúp một số vấn đề tâm lý như lo âu, trầm cảm và stress. Tuy vậy vẫn chưa rõ là chúng ta cần loại chánh niệm hay thiền định nào cho từng vấn đề cụ thể.
Nghiên cứu, được thực hiện bởi một lượng lớn các nhà nghiên cứu, các nhà lâm sàng và thiền định, cho thấy chưa có một định nghĩa rõ ràng về chánh niệm. Điều này có thể có tác động nghiêm trọng. Nếu một lượng lớn nhiều phương thức điều trị và thực hành khác nhau bị đánh đồng như một, các bằng chứng khoa học ủng hộ một loại hỗ trợ có thể bị gán nhầm cho một hỗ trợ khác.
Đồng thời, nếu đặt yêu cầu quá cao hay đi chệch hướng, chúng ta có thể bỏ lỡ những tất cả lợi ích tiềm năng của chánh niệm.
Vậy, chánh niệm là gì?
Chánh niệm có một loạt những kiểu phân loại định nghĩa khác nhau. Các nhà tâm lý học đo khái niệm này dựa trên nhiều tổ hợp các yếu tố như sự chấp nhận, sự chú tâm, ý thức, tập trung vào cơ thể, sự tò mò, thái độ không phán xét, khả năng tập trung vào hiện tại và nhiều yếu tố khác.
Nếu được phân loại thành theo một kiểu thực hành, chánh niệm được định nghĩa khá mơ hồ. Một bài tập ngắn về phản tư (self-reflection-tự nhận thức, tự phản ánh) được hỗ trợ bởi ứng dụng trên điện thoại thực hiện mỗi ngày khi đi làm cũng có thể được đánh đồng với một kì tĩnh tâm thiền định dài cả tháng. Chánh niệm cũng có thể được nhắc đến như thực hành của các nhà sư Phật giáo nhưng cũng được đề cập như những gì giáo viên yoga thực hiện vào 5 phút đầu và cuối mỗi buổi học.
Cần phải làm rõ, chánh niệm và thiền định không phải là một. Có những kiểu thiền định mang tính chánh niệm. Dù vậy, không phải tất cả thực hành chánh niệm đều có liên hệ tới thiền đinh và không phải tất cả thực hành thiền định đều dựa trên chánh niệm.
Chánh niệm chủ yếu thường được đề cập như khả năng tập trung vào thời điểm hiện tại, tuy nhiên không chỉ đơn giản như thế. Nó còn thể hiện một số kiểu thực hành thiền định nhắm tới việc phát triển các kĩ năng nhận thức về thế giới xung quanh cùng những mô hình hành vi và thói quen của bạn. Sự thật, có rất nhiều mâu thuẫn về mục đích thật sự của chánh niệm và khác biệt trong việc xác định đâu là chánh niệm và đâu không phải là chánh niệm.
Chánh niệm có lợi ích gì?
Chánh niệm có lợi ích gì?

Chánh niệm hiện được ứng dụng cho bất kỳ vấn đề nào bạn có thể nghĩ ra – từ vấn đề trong mối quan hệ, vấn đề với rượu hay sử dụng chất, cho tới cả nâng cao kĩ năng lãnh đạo. Chánh niệm còn được các vận động viên sử dụng nhằm tìm kiếm sự “tường minh” trong và ngoài sân cỏ, đồng thời nhiều chương trình chánh niệm khác nhau cũng được đưa vào trường học. Bạn cũng có thể thấy chánh niệm được ứng dụng tại công sở, cơ sở y khoa, hay trong các nhà hưu trí.
Một số tựa sách nổi tiếng cũng đã viết về những lợi ích của chánh niệm và thiền định. Ví dụ, trong một bài phản biện về cuốn sách Altered Traits: Science Reveals How Meditation Changes your Mind, Brain and Body, Daniel Goleman đã cho rằng một trong bốn lợi ích của chánh niệm là tăng cường trí nhớ làm việc. Tuy vậy, một bài tổng hợp nghiên cứu gần đây trên 18 nghiên cứu khác nhau tìm hiểu về tác động của các trị liệu dựa trên chánh niệm lên khả năng chú ý và ghi nhớ đã đặt dấu hỏi cho ý tưởng này.
Một lợi ích khác hay được nhắc đến là chánh niệm giúp giảm căng thẳng. Tác động này cũng chỉ có một số những bằng chứng giới hạn. Những hiệu quả khác như cải thiện khí sắc và tập trung, cải thiện thói quen ăn uống, cải thiện giấc ngủ và cải thiện khả năng quản lý cân nặng cũng không được minh chứng khoa học đầy đủ.
Trong khi vẫn còn những hạn chế trong minh chứng về ích lợi, chánh niệm và thiền định đôi khi lại có tác động tiêu cực, có liên hệ tới loạn thần, hưng cảm, mất căn tính, lo âu, hoảng loạn, tái trải nghiệm các ký ức sang chấn. Các chuyên gia cho rằng chánh niệm không phải phù hợp cho tất cả mọi người, đặc biệt những người có những vấn đề sức khoẻ tâm thần nghiêm trọng như tâm thần phân liệt hay rối loạn lưỡng cực.
Nghiên cứu trên chánh niệm
Một vấn đề khác với những nghiên cứu về chánh niệm là chúng thường có phương pháp nghiên cứu không tốt. Những phương thức đo lường về chánh niệm thường rất khác biệt, chúng đánh giá nhiều hiện tượng nội hàm khác nhau trong khi dùng chung một thuật ngữ. Việc thiếu tương đồng trong đo lường và nghiệm thể đặt ra rất nhiều rào cản cho việc khái quát hoá kết quả của một nghiên cứu cho các nghiên cứu khác.
Những nhà nghiên cứu về chánh niệm thường dựa quá nhiều vào bảng hỏi, yêu cầu người làm phải nội quan (introspect) và đánh giá trạng thái tinh thần, những điều đôi khi mơ hồ và thoáng qua. Những đánh giá chủ quan này rất dễ bị ảnh hưởng bởi định kiến. Ví dụ, một người có cảm tình với chánh niệm thường sẽ hay tự cho mình có chánh niệm vì họ trông đợi điều đó thay vì thật sự đạt tới trạng thái đó.
Chỉ có một lượng nhỏ các nghiên cứu, trong quá trình tìm hiểu xem liệu những can thiêp này có hiệu quả hay không, so sánh với những can thiệp mà hiệu quả đã được chứng minh. Đây mới là cách thức chính yếu khoa học về lâm sàng cho thấy những giá trị bổ sung của các phương thức trị liệu mới. Những nghiên cứu này lại được thực hiện trong các cơ sở thực hành lâm sàng thường xuyên thay vì trong các môi trường nghiên cứu chuyên môn.
Một nghiên cứu tổng quan, được thực hiện bởi Cơ quan Nghiên cứu và Chất lượng Sức khoẻ Hoa Kỳ, cho thấy có nhiều nghiên cứu được thực hiện rất sơ sài đến độ không thể đưa vào bài tổng quan. Kết quả cũng cho thấy các trị liệu chánh niệm tối đa chỉ có hiệu quả trung bình với loa âu, trầm cảm và đau thể lý. Không có bằng chứng về hiệu quả trong các vấn đề chú ý, khí sắc tích cực, lạm dụng chất, rối loạn ăn uống, kiểm soát giấc ngủ hay cân nặng.
Chúng ta nên làm gì?
Chánh niệm chắc chắn là một khái niệm hữu ích và là một dạng thực hành nhiều hứa hẹn. Nó có thể giúp phòng tránh các vấn đề tâm lý và có thể có ích như một thực hành đi kèm với phương thức điều trị đang được sử dụng. Nó cũng có thể hữu hiệu đối với các chứng năng tinh thần và sự viên mãn nói chung. Tuy nhiên những tiềm năng này sẽ không được hiện thực hoá nếu các vấn đề trên chưa được giải quyết.
Cộng đồng những người thực hành chánh niệm cần thống nhất những đặc điểm chính yếu cốt lõi của chánh niệm và các nhà nghiên cứu nên làm rõ cách thức họ đưa các yếu tố trên vào đo đạc và thực hành. Tin tức truyền thông cũng nên đề cập cụ thể những trạng thái tinh thần và thực hành nào mà chánh niệm nói tới thay vì chỉ sử dụng nó như một thuật ngữ chung chung.
Chánh niệm cần được đánh giá, không phải qua khảo sát chủ quan nhưng nên sử dụng những đo lường hành vi và sinh học thần kinh khách quan, ví dụ như nhịp thở. Có thể sử dụng một âm thanh bất kỳ nhằm ‘hỏi’ nghiệm thể xem liệu họ đang tập trung vào nhịp thở (nhấn nút bên trái) hay tâm trí họ đang xao nhãng (nhấn nút bên phải).
Khi nào có thể, các nhà nghiên cứu tìm hiểu về tính hiệu quả của các phương thức trị liệu chánh niệm nên so sánh chúng với những kiểu trị liệu đáng tin khác. Nên tránh phát triển những tiếp cận chánh niệm mới cho tới khi chúng ta biết rõ hơn những tiếp cận đã có. Các nhà khoa học và các nhà lâm sàng nên sử dụng phương pháp nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (randomised control trials) và làm việc với các nhà nghiên cứu bên ngoài lĩnh vực chánh niệm.
Cuối cùng, các nhà nghiên cứu và thực hành chánh niệm nên nhận biết thực tế về những hệ quả tiêu cực đôi khi xuất hiện. Giống như dược phẩm phải công bố những tác dụng phụ tiềm tàng, trị liệu chánh niệm cũng cần như vậy. Các nhà khoa học nên đánh giá một cách hệ thống những tác dụng phụ khi nghiêm cứu về trị liệu chánh niệm. Các nhà thực hành nên cảnh giác với những tác dụng phụ này và không nên đề nghị trị liệu chánh niệm như phương thức đầu tiên nếu có thể tiếp cận với những phương thức khác an toàn hơn và được minh chứng có hiệu quả tốt hơn.
Dịch: Hành Lang Tâm Lý


Đọc tiếp

Thứ Ba, 7 tháng 11, 2017

KHÁI NIỆM TÂM THẦN PHÂN LIỆT NHƯ MỘT RỐI LOẠN RIÊNG BIỆT ĐANG DẦN BIẾN MẤT – NHƯNG SAU ĐÓ SẼ LÀ GÌ?

0
Tâm thần phân liệt
Hoạ sĩ: Amber Christian Osterhout

26/08/2017

Khái niệm về tâm thần phân liệt đang dần biến mất. Sau hàng thập kỷ liên tục bị Tâm lý học chỉ trích, khái niệm này vừa nhận một vết thương chí mạng từ tâm thần học, chính chuyên ngành từng ra sức duy trì nó. Tuy nhiên, sẽ chẳng ai thương tiếc cái kết của khái niệm này.
Ngày nay, có chẩn đoán tâm thần phân liệt được gắn với việc giảm tuổi thọ gần 20 năm. Theo một số tiêu chí, chỉ một trên bảy người hồi phục từ rối loạn này. Mặc cho những công bố về các tiến bộ trong điều trị, qua thời gian, tỉ lệ người phục hồi vẫn không tăng. Có một điều gì đó cực kỳ không đúng.
Một phần của vấn đề hoá ra nằm ở chính khái niệm về tâm thần phân liệt.
Những luận cứ cho rằng tâm thần phân liệt là một rối loạn riêng biệt “đã không được đánh giá đúng một cách rất nguy hiểm”. Như chúng ta hiện có khái niệm về rối loạn phổ tự kỷ, loạn thần (đặc trưng bởi ảo giác, ảo tưởng gây khó chịu và các suy nghĩ rối rắm) được cho rằng tồn tại theo một trục liên tục và có nhiều mức độ. Tâm thần phân liệt là điểm đầu cực về mức độ nghiêm trọng của phổ hay trục trải nghiệm loạn thần.

Jim van Os, giáo sư tâm thần học tại ĐH Maastricht, cho rằng chúng ta không thể chuyển đổi sang cách suy nghĩ mới này mà không thay đổi ngôn ngữ của chúng ta. Ví dụ, ông đề xuất thuật ngữ tâm thần phân liệt “nên bị loại bỏ”. Thay vào đó, ông đề nghị khái niệm về rối loạn phổ loạn thần (psychosis spectrum disorder).

Một vấn đề khác là tâm thần phân liệt thường được mô tả như một “bệnh lý não bộ mạn tính vô vọng”. Kết quả là nhiều người nói với những người có chẩn đoán này, và một số cha mẹ,  là ung thư còn khả quan hơn vì nó vẫn còn dễ chữa trị hơn. Tuy nhiên cách nhìn về tâm thần phân liệt này chỉ khả dĩ nếu loại bỏ những trường hợp có kết quả tích cực. Ví dụ, một số người tuy đã phục hồi nhưng lại được cho rằng  “sau cùng đó chắc hẳn không phải là tâm thần phân liệt”.
Tâm thần phân liệt, khi được hiểu như một bệnh lý não bộ riêng biệt, vô vọng và gây suy giảm, theo Os, là “không tồn tại”.
Phân tích sự phân mảnh
Thay vào đó, tâm thần phân liệt có thể bao gồm nhiều thứ. Nhà tâm thần học nổi tiếng Sir Robin Murray mô tả như sau:
Tôi mong sớm được thấy cái kết của định nghĩa về tâm thần phân liệt…hội chứng này đã bắt đầu bị phân mảnh, ví dụ, thành những trường hợp có nguyên nhân do biến đổi di truyền, lạm dugj chất, nghịch cảnh xã hội, v.v. Nếu hình dung tiến trình này được tăng tốc, thuật ngữ tâm thần phân liệt sẽ sớm đi vào lịch sử, như “bệnh phù”. (dropsy, bị thay thế bởi thuật ngữ edema-chú thích của người dịch)

Nghiên cứu hiện đang tìm hiểu những con đường khác nhau dẫn con người đến với tình trạng mang đặc điểm của tâm thần phân liệt: ảo giác, ảo tưởng, suy nghĩ và hành vi thiếu tổ chức, vô cảm và không biến đổi cảm xúc.
Tất nhiên, một sai lầm trong quá khứ là nhầm lẫn nhiều nguyên nhân với nhau. Ví dụ, dựa trên công trình làm việc với ký sinh trùng Toxoplasma gondii, ký sinh lây sang người thông qua mèo, các nhà nghiên cứu E. Fuller Torrey và Robert Yolken cho rằng “tác nhân quan trọng nhất [gây ra tâm thần phân liệt] là mèo bị nhiễm bệnh”. Điều này không đúng.
Bằng chứng có cho thấy việc phơi nhiễm với Toxoplasma gondii khi còn nhỏ có thể làm tăng khả năng một người bị chẩn đoán với tâm thần phân liệt. Tuy nhiên, kích cỡ ảnh hưởng của nguyên nhân này (size of effect) nhỏ hơn hai lần khả năng tăng tỉ lệ của một người có chẩn đoán tâm thần phân liệt. Nó chỉ cao nhất tương tự với các yếu tố nguy cơ khác và thậm chí có khả năng còn thấp hơn.
Ví dụ, có tuổi thơ khó khăn, sử dụng cần sa (cannabis), và hệ thần kinh trung ương bị nhiễm virus khi còn nhỏ, đều làm tăng ti suất một người có chẩn đoán rối loạn loạn thần (như tâm thần phân liệt) lên hai hay ba lần. Những phân tích sâu hơn cho thấy những con số còn cao hơn. So với những người không sử dụng cần sa, những người sử dụng cần sa “skunk-like” với cường độ cao mỗi ngày có liên hệ tới việc tăng tỉ lệ tới 5 lần phát triển loạn thần. So với những người không có sang chấn, những người chịu 5 kiểu sang chấn khác nhau (bao gồm lạm dụng tình dục và lạm dụng cơ thể) cho thấy mức tăng tỉ lệ lên tới 50 lần.

Những con đường khác đưa tới “tâm thần phân liệt” cũng đang được tiếp tục xác định. Khoảng 1% các trường hợp có vẻ xuất phát từ việc mất một nhánh DNA tạ nhiễm sắc thể số 22, được gọi là hội chứng mất 22q11.2 (22q11.2 deletion syndrome). Cũng có khả năng một số rất nhỏ người có tâm thần phân liệt có những trải nghiệm bắt nguồn từ viêm não do các rối loạn tự miễn dịch, ví dụ như viêm não thụ thể chống-NMDA (anti-NMDA receptor encephalitis), tuy nhiên điều này vẫn còn gây tranh cãi.

Tất cả các tác nhân bên trên có thể đưa tới những trải nghiệm tương tự mà chúng ta trong buổi ban đầu đã cho hết vào một rỗ gọi là tâm thần phân liệt. Trải nghiệm của một người có thể bắt nguồn từ những rối loạn não bộ có liên qua đến di truyền, bị thúc đẩy bởi hoạt động quá mức của tiến trình ‘cắt tỉa’ thông thường các liên kết giữa những tế bào não bộ vào tuổi vị thành niên. Trải nghiệm của một người khác có thể do những phản ứng phức tạp hậu sang chấn. Các tác nhân bên trong và bên ngoài nêu trên cũng có khả năng tương tác với nhau.

Dù sao, nó cũng thể hiện hai phe cánh khác nhau trong cuộc chiến về tâm thần phân liệt – những người xem nó là một rối loạn phát triển thần kinh di truyền và những người xem nó là một phản ứng trước các tác nhân tâm lý-xã hội, ví dụ như nghịch cảnh – cả hai đều nắm giữ những mảnh ghép khác nhau của câu đố. Ý tưởng về việc tâm thần phân liệt là một rối loạn đơn lẻ, bị đưa đến bởi một nguyên nhân, góp phần nuôi dưỡng xung đột này.
Gợi ý cho việc điều trị
Trong nhiều bệnh lý y khoa, như tiểu đường hay cao huyết áp, nhiều nguyên nhân khác nhau có thể tác động cùng một cơ chế sinh học và được điều trị bởi cùng một phương pháp. Tâm thần phân liệt cũng có thể như vậy. Thật vậy, nhiều ý kiến cho rằng những nguyên nhân khác nhau đưa tới tâm thần phân liệt như phía trên có thể có cùng một hệ quả: tăng lượng dopamine quá mức.
Nếu như vậy, những tranh luận về việc nên phân tâm thần phân liệt theo những yếu tố nguyên nhân có thể chỉ mang tính học thuật, vì nó sẽ không giúp định hướng điều trị. Tuy nhiên, có nhiều bằng chứng mới cho thấy những con đường khác nhau đưa đến các trải nghiệm được cho là tâm thần phân liệt có thể cần những hướng điều trị khác nhau.
Những bằng chứng ban đầu cho thấy các thuốc chống loạn thần thường ít hiệu quả với những người có chẩn đoán với tâm thần phân liệt gặp sang chấn lúc còn nhỏ. Tuy nhiên,  cần có thêm nhiều nghiên cứu về vấn đề này, và đương nhiên, những người đang sử dụng thuốc chống loạn thần không nên ngưng uống thuốc mà không có chỉ định y khoa. Bên cạnh đó, với các trường hợp tâm thần phân liệt là một dạng viêm não tự miễn (autoimmune encephalitis), cách điều trị hữu hiệu nhất có thể là liệu pháp miễn dịch (immunotherapy) (ví dụ như corticosteroids) và thay huyết tương (plasma exchange).
Tuy nhiên bức tranh vẫn còn rất mơ hồ. Một số các can thiệp mới, như liệu pháp gia đình theo tiếp cận Đối thoại Mở (Open Dialogue approach), cho thấy kết quả hứa hẹn với nhiều người có chẩn đoán tâm thần phân liệt khác nhau. Cả những can thiệp chung và các can thiệp cụ thể, được thiết kế phù hợp với những nguyên nhân cá nhân đưa tới các trải nghiệm gắn với tâm thần phân liệt, đều cần thiết. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc đánh giá và khảo sát thân chủ về tất cả những tác nhân tiềm tàng có thể liên quan. Nó bao gồm cả lạm dụng trẻ em, yếu tố vẫn còn thường xuyên không được hỏi và xác định.

Khả năng nhiều tiếp cận điều trị khác nhau được sử dụng cho nhiều trường hợp khác nhau giups giải thích thêm về cuộc chiến trong vấn đề tâm thần phân liệt. Các bác sĩ tâm thần, thân chủ hay gia đình quan sát thấy những tác động tích cực của các loại thuốc chống loạn thần thường bảo vệ cho tiếp cận này. Tuy nhiên những bác sĩ tâm thần, thân chủ hay gia đình không quan sát thấy tác động của các loại thuốc trên sẽ ca ngợi những tiếp cận thay thế khác có vẻ mang lại hiệu quả. Mỗi bên sẽ thấy bên còn lại đang từ chối tiếp cận mà mình cảm thấy hữu hiệu. Cũng cần phải khen ngợi những cố gắng bảo vệ trên, tuy nhiên cũng phải cẩn thận việc một người có khả năng bị từ chối tiếp cận có thể hữu hiệu với họ.
Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo?
Tất cả những điều trên không có nghĩa là khái niệm tâm thần phân liệt là vô dụng. Nhiều nhà tâm thần học vẫn xem nó là một hội chứng lâm sàng hữu dụng, giúp định nghĩa một nhóm người rõ rang có nhu cầu về sức khoẻ. Ở đây có thể xem nó như một định nghĩa sinh học chưa được hiểu rõ nhưng chia sẻ một nền tảng chung và có ảnh hưởng di truyền lên nhiều bệnh nhân.
Một số người có chẩn đoán tâm thần phân liệt sẽ cảm thấy nó có ích. Nó giúp họ tiếp cận với điều trị, gia tăng hỗ trợ từ gia đình và bạn bè, gọi tên vấn đề họ gặp, chỉ ra rằng họ đang phải trải qua một căn bệnh chứ đó không phải là một thất bại của cá nhân. Tất nhiên, nhiều người sẽ cảm thấy chẩn đoán không mang lại lợi ích. Chúng ta cần giữ lại những lợi ích và loại bỏ những mặt tiêu cực của thuật ngữ tâm thần phân liệt, nhất là khi đang bước vào thời kỳ hậu-phân liệt.
Hình dạng của thời kỳ này vẫn chưa rõ ràng. Nhật Bản vừa thay tên tâm thần phân liệt bằng “rối loạn thống hợp” (integration disorder). Chúng ta cũng đã biết ý tưởng về “rối loạn phổ loạn thần”. Tuy nhiên, theo lịch sử, việc phân loại các bệnh lý trong tâm thần học được cho là kết quả của những xung đột mà trong đó “giáo sư nào nổi tiếng và có liên hệ nhiều nhất sẽ chiến thắng”. Tương lai cần được dựa trên bằng chứng và đối thoại, trong đó bao hàm góc nhìn của những người phải chịu đựng – và đối mặt hữu hiệu- với những trải nghiệm trên.
Bất kỳ điều gì trỗi dậy từ đống tro tàn của tâm thần phân liệt, nó phải đem lại những cách thế tốt đẹp hơn cho những người đang thật sự vật lộn với căn bệnh.
Tác giả: Simon McCarthy-Jones, Giáo sư Tâm lý Lâm sàng và Tâm lý Thần kinh, Trinity College Dublin


Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter