Thứ Năm, 19 tháng 10, 2017

BÍ MẬT CỦA HẠNH PHÚC ẨN CHỨA CẢ NHỮNG CẢM XÚC KHÔNG DỄ CHỊU

0
"Một cảm xúc có thể tiêu cực trong hoàn cảnh  này nhưng tích cực trong hoàn cảnh khác"
14/08/2017
Nghiên cứu mâu thuẫn với ý kiến cho rằng con người chỉ nên tìm kiếm sự vui thích để đạt được hạnh phúc.

Theo một nghiên cứu được công bố bởi APA, chúng ta sẽ hạnh phúc hơn khi được cảm nhận những xúc cảm mà bản thân mong muốn, kể cả khi đó là những cảm xúc không dễ chịu, như giận dữ hay căm ghét.
“Hạnh phúc không chỉ là những cảm giác vui sướng giản đơn hay việc né tránh đau khổ. Hạnh phúc là có được những trải nghiệm có ý nghĩa và đáng giá, bao gồm cả những cảm xúc mà bạn nghĩ chúng đáng có,” TS. Maya Tamir, giáo sư tâm lý học tại ĐH Hebrew, Jerusalem, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết. “Mọi cảm xúc có thể là tích cực trong hoàn cảnh này và tiêu cực trong tình huống khác, bất kể chúng dễ chịu hay khó chịu.”

Nghiên cứu xuyên văn hóa trên khảo sát 2,324 sinh viên đại học ở 8 quốc gia: Hoa Kỳ, Brazil, Trung Quốc, Đức, Ghana, Israel, Ba Lan và Singapore. Được xuất bản trực tuyến trên Journal of Experimental Psychology: General® , đây là nghiên cứu đầu tiên tìm thấy mối liên hệ giữa hạnh phúc và việc trải nghiệm những cảm xúc mà một người muốn có, kể cả khi đó là những cảm xúc gây khó chịu, Tamir cho biết.

Nhìn chung, những người tham gia mong muốn trải nghiệm nhiều cảm xúc vui tươi và ít cảm xúc khó chịu hơn so với thực tế đời sống của họ. Tuy nhiên không phải mọi trường hợp đều như vậy. Thú vị là, 11% những người tham gia muốn ít trải qua những cảm xúc siêu việt (transcendent emotions) như tình yêu và sự cảm thông so với những trải nghiệm thường nhật của họ. Đồng thời, 10% muốn cảm nhận nhiều hơn những cảm xúc khó chịu như giận dữ hay căm ghét. Chỉ có một số ít trùng lặp giữa hai nhóm này.

Ví dụ, một người không cảm thấy tức giận khi đọc về một trường hợp lạm dụng ở trẻ em, họ có thể nghĩ rằng mình nên giận dữ nhiều hơn trước hoàn cảnh mà nạn nhân phải chịu, vì thế họ mong muốn có nhiều cảm xúc phẫn nộ hơn họ thực sự có trong thời điểm đó, Tamir giải thích. Một phụ nữ muốn rời bỏ một người chồng bạo hành nhưng không sẵn lòng làm điều đó, cô ấy có lẽ sẽ hạnh phúc hơn nếu cô ít yêu anh ta hơn, Tamir cho biết thêm.

Người tham gia được khảo sát về cảm xúc mà họ mong muốn và cảm xúc họ trải nghiệm thực tế trong cuộc sống. Họ cũng được yêu cầu tự đánh giá mức độ hài lòng với cuộc sống và các triệu chứng trầm cảm của bản thân. Xuyên suốt các nền văn hóa trong nghiên cứu, những người tham gia nào trải nghiệm nhiều cảm xúc mà họ mong đợi cho thấy có mức hài lòng cao hơn và ít triệu chứng trầm cảm hơn, bất kể những cảm xúc được mong muốn đó là dễ chịu hay khó chịu. Tuy nhiên, cần có thêm nghiên cứu sâu hơn để kiểm chứng liệu những cảm xúc mà chúng ta mong đợi thực sự có ảnh hưởng đến hạnh phúc hay không hay chỉ đơn thuần là có mối liên hệ với nó, Tamir cho biết.

Nghiên cứu chỉ đánh giá một phạm vi của cảm xúc không dễ chịu được biết đến như các cảm xúc tự-củng cố tiêu cực, gồm có căm ghét, gây hấn, tức giận và coi thường. Nghiên cứu trong tương lai sẽ khảo sát các cảm xúc gây khó chịu khác, như sợ hãi, tội lỗi, buồn bã hay xấu hổ. Cảm xúc dễ chịu được xem xét trong nghiên cứu gồm có thông cảm, yêu thương, tin tưởng, đam mê, mãn nguyện và phấn khởi. Nghiên cứu trước đây cho thấy cảm xúc mà con người mong đợi có liên hệ với các giá trị và tiêu chuẩn văn hóa của họ. Tuy nhiên, những liên kết này không được kiểm chứng trực tiếp trong nghiên cứu.
Theo Tamir, nghiên cứu làm sáng tỏ phần nào những mong đợi phi thực tế mà nhiều người có về chính cảm xúc của họ.

 “Trong các nền văn hóa phương Tây, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, con người lúc nào cũng mong muốn được cảm thấy thoải mái, dễ chịu”, Tamir cho biết. “Thậm chí ngay cả khi họ thấy vui vẻ gần như mọi lúc, họ vẫn nghĩ rằng mình còn có thể cảm thấy dễ chịu hơn thế nữa, chính điều đó cuối cùng lại khiến họ ít hạnh phúc hơn.”

Link nghiên cứu
Dịch: S.N-Hành Lang Tâm Lý


Đọc tiếp

Thứ Năm, 12 tháng 10, 2017

KHI KINH TẾ HỌC GẶP TÂM LÝ HỌC: NHÀ KINH TẾ NHẬN GIẢI NOBEL BẰNG TÂM LÝ HỌC HÀNH VI

0
Thaler, người kết hợp tâm lý học và kinh tế học
10/10/2017
Jay L. Zagorsky-Tựa đề đã được người dịch điều chỉnh, tựa đề gốc: “Economist who helped behavioral ‘nudges’ go mainstream wins Nobel”

Giải thưởng Nobel Kinh tế năm 2017 vừa được trao cho TS. Richard Thaler thuộc ĐH Chicago vì những công trình của ông trong ngành kinh tế học hành vi, một ngành kết hợp giữa kinh tế và tâm lý học.
Dù giải thưởng dành cho ông không hoàn toàn bất ngờ, ông đã sớm có tên trong danh sách đề cử, nó vẫn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tích hợp hành vi thực tế của con người vào tư duy kinh tế. Nó đánh dấu lần thứ hai một nhà tiên phong trong lĩnh vực kinh tế hành vi, một lĩnh vực đang bùng nổ - dù vài thập kỷ trước còn chưa tồn tại – dành được giải Nobel, người đầu tiên là nhà tâm lý học Daniel Kahneman vào năm 2002.
Dù khó tin nhưng trước khi những học giả trên xuất hiện, nhiều nhà kinh tế cho rằng chúng ta hành xử như nhân vật Spock trong “Star Trek”. Con người được xem như những bộ máy tính toán lý trí một cách hoàn hảo, luôn nhìn thông tin và đưa ra những lựa chọn chính xác nhất. Tuy nhiên, chỉ cần một cách nhìn thông thường nhất về thế giới thực cũng có thể cho thấy đây không phải là một giả định đúng đắn.
Vậy Thaler là ai và tại sao những công trình của ông lại quan trọng?
Ảnh hưởng của Thaler
Richard Thaler sinh năm 1945 tại East Orange, New Jersey. Ông theo học tại trường Case Western và ĐH Rochester, nơi ông nhận bằng Tiến sĩ Kinh tế năm 1974.
Luận văn tiến sĩ của ông đưa ra một trong những ước tính đầu tiên về giá trị của việc cứu một sinh mạng, phép tính được chính phủ và các doanh nghiệp dùng để xác định số tiền họ cần phải chi trả nhằm phòng tránh thiệt hại về nhân mạng. Ví dụ, khi một chính phủ xem xét chi phí mà các quy định về quản lý chất lượng không khí ảnh hưởng đến doanh nghiệp, họ sẽ so sánh giữa mức phí thiệt hại và giá trị nhân mạng được đảm bảo khi các thay đổi được thực thi.
Thaler ước tính một mạng sống được cứu sẽ đáng giá US$200,000 vào năm 1967, tức là khoảng 1.5 triệu đô vào năm 2017. Hiện nay, các cơ quan chính phủ đánh giá nhân mạng cao hơn 5 đến 6 lần so với mức trên.
Thaler có thể được biết đến nhiều nhất qua cuốn sách nổi tiếng “Nudge,” mà ông cùng viết với GS luật Harvard Cass Sunstein. “Nudge” được xem đã truyền cảm hứng cho cựu thủ tướng Anh David Cameeron trong việc thành lập Nhóm Nội quan Hành vi (Behavioral Insights Team), một nhóm chuyên trách ứng dụng các nguyên lý tâm lý để làm tăng tính hiệu quả của các dịch vụ công. Cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama cũng thiết lập một nhóm tương tự tại Nhà Trắng.
Thaler và Sunstein cho rằng con người không nên bị ép buộc hành động bởi luật lệ hay cấm đoán. Thay vào đó, cách tốt nhất là sử dụng các can thiệp nhỏ, hay khích lệ, để đưa ra lựa chọn đúng đắn. Hai ông đưa ra các ví dụ như việc đặt các loại thức ăn có lợi cho sức khoẻ ở những chỗ dễ thấy và dễ lấy, đồng thời để các lựa chọn không tốt cho sức khoẻ ra khỏi tầm mắt. Bằng việc giúp chúng ta dễ dàng lựa chọn, việc di chuyển chỗ đặt thực phẩm sẽ làm giảm mức tiêu thụ các loại thức ăn vặt
Một ví dụ khác là việc để điều khoản tự động tiết kiệm hưu trí thành lựa chọn mặc định khi một người bắt đầu một công việc mới. Điều này có nghĩa là các nhân viên mới cần phải làm thủ tục để ngưng tiết kiệm hưu trí thay vì phải làm thủ tục để bắt đầu tiết kiệm. Kết quả là sẽ có nhiều nhân viên tham gia tiết kiệm hưu trí hơn.
Cụ thể hơn, VIện hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thuỵ Điển chọn Thaler vì đóng góp của ông trong ba lĩnh vực: “lý trí hữu hạn” (limited rationality), “cảm xúc xã hội” (social preferences) và “thiếu khả năng tự kiểm soát (lack of self-control).
Những giới hạn trong lý lẽ
Thaler chỉ ra rằng vì con người thường không thể giải quyết nhiều vấn đề kinh tế trong cuộc sống, chúng ta thường sử dụng các nguyên tắc chung đơn giản. Tuy nhiên, những nguyên tắc tối giản đó có thể dẫn đến những lựa chọn kì lạ và đôi khi lại tiêu cực.
Kế toán tinh thần (mental accounting) là một hiện tượng có các lựa chọn kì lạ mà Thaler là người đầu tiên nhận diện. Do các vấn đề tài chính trong cuộc sống chúng ta quá phức tạp, chúng ta thường tự mình phân tiền bạc vào các khoản khác nhau trong tâm trí và chỉ tiêu những khoản tiền có trong từng khoản.
Ví dụ,Thaler mô tả một cặp vợ chồng mới nhận được 300 đô tiền mặt đền bù thiệt hại do hãng hàng không làm thất lạc hành lý của họ. Hai người liền lấy 300 đô đó và chi cho một bữa tối sang trọng. Họ vung tay cho bữa tối chỉ vì trong suy nghĩ, họ xem 300 đô đó là một khoản tiền có được do may mắn. Tuy nhiên, nếu tiền lương cả năm của họ được tăng tổng cộng 300 đô, khả năng cao họ sẽ không chi tiêu nó cho việc ăn uống mà thay vào đó trong tinh thần, sẽ phân khoản tiền trên vào chi tiêu cho việc thuê nhà và các khoản hoá đơn khác.
Đưa cảm xúc vào trong kinh tế học
Ông cũng được nhận giải Nobel cho đóng góp của mình vào cảm xúc và công bằng xã hội.
Thaler, cùng với đồng tác giả Kahneman và nhà kinh tế học người Canada Jack Knetsch, vào năm 1986 đã chứng minh khách hàng không đồng tình với việc các công ty cố gắng tối đa hoá lợi nhuận trong mọi hoàn cảnh. Ví dụ, khi có bão tuyết, mọi người thường không đồng ý với việc các cửa hàng sẽ tăng giá xẻng xúc tuyết, ngay cả khi nhu cầu theo tự nhiên thường sẽ tăng khi có tuyết rơi dày. Thaler cùng các tác giả đã cho thấy khách hàng thường sẽ ‘trừng phạt’ các doanh nghiệp nếu họ tăng giá. Đây là một kết quả bất ngờ do nó cho thấy các doanh nghiệp cố gắng tối đa hoá lợi nhuận ngắn hạn, như nhiều nơi vẫn hay làm, sẽ phải chịu những thiệt hại lâu dài nếu khách hàng cho rằng họ đang hành xử một cách thiếu công bằng.
Đóng góp này vẫn còn hữu dụng đến tận ngày nay khi nó giúp nắm bắt phản ứng của khách hàng khi các công ty thuốc muốn đẩy giá thuốc được cho phép kê đơn cao hơn và với các doanh nghiệp muốn lợi dụng tăng giá sau các trận bão. Thaler chỉ ra rằng cảm xúc, như cảm giác về tính công bằng, đóng vai trò rất quan trọng tuy nhiên hay bị bỏ qua trong lĩnh vực kinh tế.
Trả tiền để tự kiểm soát
Lĩnh vực thứ ba được Viện hàn lâm Thuỵ Điển công nhận là đóng góp của Thaler và nhà kinh tế Hersh Shefrin trong ý tưởng về khả năng tự kiểm soát.
Các nhà kinh tế nhận thấy chúng ta hay chi tiền cho việc tránh đưa ra các lựa chọn tồi tệ hay để tránh vướng vào các kiểu hành vi tiêu cực. Ví dụ, Thaler và Shefrin viết, nhiều người “trả tiền để đến các ‘các khu nghỉ dưỡng dành cho người thừa cân’, các khu nghỉ dưỡng cam kết không phục vụ đồ ăn cho khách hàng”
Chúng ta không chỉ trả tiền để tự kiểm soát mà còn tạo ra những quy định cá nhân nhằm đảm bảo bản thân không đi quá các giới hạn do chính mình đặt ra. Ví dụ, những người hút thuốc thường sẽ mua thuốc lá theo gói thay vì theo cây. Điều này đảm bảo việc hút ít hơn mỗi ngày dù họ phải trả nhiều tiền hơn vị chi trên mỗi điếu thuốc.
Đóng góp của Thaler trong việc tự kiểm soát ngày càng trở nên quan trọng khi internet và dịch vụ giao hàng tức thì ngày càng tạo ra nhiều cách tiếp cận dễ dàng và không phải chờ đợi với các loại sản phẩm ‘cám dỗ’ khác nhau. Việc hiểu cách con người vận hành sẽ đem đến các chính sách công tốt hơn giúp đạt đến cùng một mục tiêu mà không phải tiêu tốn tiền của mọi người.
Tất cả tuỳ thuộc vào chúng ta
Giải thưởng trị giá 9 triệu kronor Thuỵ Điển, theo tỉ giá hiện hành tương đương với 1,1 triệu đô. Không may cho Thaler, do ông là người Mỹ, toàn bộ giải thưởng sẽ bị đánh thuế thu nhập – trừ khi ông dùng nó để làm từ thiện.
Khi được hỏi về việc ông sẽ dùng số tiền này như thế nào, Thaler trả lời: “Đây là một câu hỏi khá hài hước… Tôi sẽ cố xài nó càng phi lý càng tốt”.
Giải Nobel Ghi danh trong Khoa học Kinh tế, giải thưởng duy nhất không được thành lập trong di chúc của Alfred Nobel, cũng mang lại uy tín rất lớn cho người nhận giải. Nhà kinh tế Friedrich Hayek, từng được nhận giải vào năm 1974, cho rằng nó dành cho cá nhân có “ảnh hưởng lên công chúng: các chính trị gia, nhà báo, công chức và tất cả mọi người.”
Ngoài những ảnh hưởng này tại sao chúng ta cần quan tâm đến vấn đề trên? Danh sách những người từng được nhận giải Nobel kinh tế có rất nhiều nhà khoa học có những đóng góp tuyệt vời cho kinh tế học nhưng những ảnh hưởng liên quan đến cuộc sống của những người bình thường từ các đóng góp đó lại rất mờ nhạt.
Các đóng góp của Thaler, tuy vậy, lại trực tiếp chạm đến gần như mọi người. Các nghiên cứu ban đầu của ông giúp cứu người. Các nghiên cứu về sau lại giúp mọi người tiết kiệm tiền hưu và giúp chúng ta thoát khỏi những khuynh hướng tiêu cực nhất của bản thân. Viện Hàn lâm Thuỵ Điển đã rất chính xác khi dành giải thưởng này cho các đóng góp của ông.
Link nguồn: https://theconversation.com/economist-who-helped-behavioral-nudges-go-mainstream-wins-nobel-85430

Dịch: Hành Lang Tâm Lý
Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter