Hiển thị các bài đăng có nhãn Phân tâm học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phân tâm học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 7 tháng 7, 2017

NỖI SỢ VỀ CÁI CHẾT ĐẰNG SAU CÁC ÁM ẢNH

1
Làm sao đối mặt với cái chết

Đây là bài đầu tiên của series “Đương đầu với sự hữu hạn của cuộc sống”. Xuyên suốt series là những bài viết về nỗi sợ cái chết, sợ sự mất mát ở từng độ tuổi và cách để đối diện, đương đầu với cái chết không thể tránh khỏi ở mỗi người. Bài thứ 2 của series sẽ nói về cách giúp trẻ nhận thức, hiểu và thích nghi được dần với cái chết ở một người.

Tác giả
·      Lisa Iverach: Hợp tác danh dự tại khoa Tâm lý, Đại học Macquarie và Nghiên cứu sinh tại University of Sydney
·      Rachel Menzies: Ứng viên tiến sĩ Tâm lý Lâm sàng tại đại học Sydney
·      Ross Menzies: Phó giáo sư của đại học Sydney


Nhận thức được sự hữu hạn của đời sống là một phần trong sự tồn tại của con người. Với tư cách là một tác giả và là một nhà triết học hiện sinh, Irvin Yalom từng nói, chúng ta “sẽ mãi bị ám ảnh bởi việc biết rằng chúng ta sẽ luôn theo trình tự lớn lên, nở rộ - đỉnh cao, và không thể tránh khỏi - xuống dốc và chết.”
Ngày càng có nhiều nghiên cứu tìm hiểu nỗi lo lắng quá mức về những gì cái chết, và sự mơ hồ về thời điểm nó xảy ra, gây ra cho chúng ta. Một học thuyết tâm lý xã hội, được gọi là TMT “Terror management theory – Thuyết kiểm soát sự khiếp sợ”, là một cách giúp chúng ta hiểu nỗi lo lắng trên ảnh hưởng đến hành vi cùng cảm thức bản thân như thế nào.
Cơ chế phòng vệ
Theo học thuyết này, chúng ta quản lý nỗi sợ chết của mình bằng cách tạo ra cảm giác trường tồn và ý nghĩa cho cuộc sống. Chúng ta tập trung vào những thành tích cá nhân và thành tựu của những người chúng ta thương yêu; chúng ta chụp vô số hình ảnh nhằm kéo dài ký ức; chúng ta cũng có thể đến nhà thờ và tin vào cuộc sống ở kiếp sau.
Những hành vi này làm tăng giá trị của bản thân chúng ta và giúp ta có được cảm giác mạnh mẽ khi đối diện với cái chết. Tuy nhiên với một số người, những giai đoạn stress hoặc các mối đe dọa đối với sức khỏe của họ, hay của những người thân có thể dẫn tới những cơ chế đương đầu bệnh lý và kém hiệu quả.
Những người này sẽ hướng nỗi sợ chết của họ sang mối đe dọa nào nhỏ và dễ kiểm soát hơn, ví dụ như nhện hoặc vi khuẩn. Những ám sợ này nhìn chung có vẻ an toàn và nằm trong khả năng kiểm soát hơn là nỗi sợ về cái chết.
Điều này hợp lý vì khi chúng ta nhìn kỹ vào các triệu chứng của một vài rối loạn có liên quan đến lo lắng, chủ đề cái chết hiện lên khá rõ.
Khi một đứa trẻ trải nghiệm rối loạn lo âu chia cách, chúng thường gắn sự khiếp sợ mất mát một hình tượng gắn bó quan trọng trong cuộc sống - như cha mẹ hoặc thành viên trong gia đình- với những mối đe doạ hay thảm kịch gây ra bởi tai nạn giao thông, thiên tai hoặc bệnh tật hiểm nghèo.
Người có hành vi hay kiểm tra thái quá sẽ liên tục kiểm tra ổ điện, bếp lò, ổ khóa nhằm nỗ lực ngăn chặn các mối nguy hiểm hay chết chóc. Người có chứng rửa tay cưỡng chế thường có mối bận tâm với các bệnh mạn tính và nguy hiểm đến tính mạng.
Người có rối loạn hoảng loạn thường xuyên phải ghé bác sĩ vì họ sợ mình sẽ chết do đau tim bất cứ lúc nào. Trong khi đó, người có các rối loạn về triệu chứng tâm thể, kể cả những người được chẩn đoán với rối loạn hay nghi ngờ mình mang bệnh nào đó, sẽ thường xuyên đề nghị được kiểm tra sức khoẻ và chụp quét toàn thân nhằm xác định các bệnh nghiêm trọng.
Cuối cùng là các ám sợ thường được mô tả là gắn với nỗi sợ thái quá trước độ cao, nhện, rắn, hoặc máu – tất cả đều gắn kết với cái chết. Các phản ứng ám sợ khi nhìn thấy nhện, ví dụ, thường bao gồm hành động như nhảy, la hét và run rẩy. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, các hành động trên thực ra đại diện cho các phản ứng hợp lý khi đối diện trước mối đe dọa lớn hơn, như nhìn thấy một người mang theo vũ khí.
Cái chết tiềm ẩn
Các bằng chứng cho giả thuyết TMT xuất phát từ những nghiên cứu chứng minh rằng lo lắng về cái chết có thể làm tăng các phản ứng mang tính lo âu và ám sợ.
Những nghiên cứu này dùng kĩ thuật nổi tiếng “Mortality salience induction – Dẫn dắt vào sự hạn hữu của cuộc sống” để xem xét nỗi lo âu về cái chết ở những người có rối loạn lo âu. Kĩ thuật này yêu cầu người tham gia viết lại những cảm xúc trỗi dậy khi họ nghĩ về cái chết của chính mình, đồng thời ghi lại chi tiết hình dung của họ những gì sẽ xảy ra khi họ hấp hối và qua đời.
Ám sợ nhện khi đi kèm với kĩ thuật trên, khi so với ám sợ không đi kèm việc nhắc nhớ về cái chết, sẽ tạo phản ứng mạnh hơn khi nhìn thấy nhện ví dụ như tránh né việc nhìn vào hình ảnh có liên quan tới nhện. Người rửa tay thái quá cũng sẽ dành nhiều thời gian hơn để rửa tay và dùng nhiều khăn giấy hơn khi bị kích thích với cái chết.
Tương tự như vậy, người có ám sợ xã hội mất nhiều thời gian hơn để tham gia tương tác với bên ngoài. Sau khi được nhắc về cái chết, họ sẽ đánh giá những khuôn mặt hạnh phúc cũng như giận dữ mang tính đe dọa nhiều hơn – vì chúng biểu thị sự đánh giá- thay vì chỉ là những khuôn mặt trung tính.
Vậy nỗi sợ chết có bình thường hay không?
Khi hiểu được rằng chúng ta rồi cũng sẽ chết ở một thời điểm nào đó, lo âu về cái chết sẽ chỉ đơn giản là một trải nghiệm thường gặp của cuộc đời con người. Với nhiều người trong số chúng ta, nghĩ về cái chết có thể khơi gợi các nỗi sợ chia ly, mất mát, đau đớn, cam chịu và lo âu khi phải bỏ người chúng ta yêu thương lại phía sau.
Theo thuyết TMT, thật ra nỗi sợ này có sức mạnh để khích lệ ta sống một cuộc đời trọn vẹn. Nó khuyến khích ta trân trọng những người ta yêu thương, tạo nên những kỉ niệm lâu dài, theo đuổi niềm hi vọng và những ước mơ, đồng thời khơi phá những tiềm năng nơi bản thân.
Nỗi sợ chết chỉ trở nên bất thường khi nó là nền tảng tạo nên những suy nghĩ, hành vi bệnh lý ảnh hưởng tới đời sống thường ngày. Nhiều người ám ảnh thái quá việc rửa tay hay kiểm tra sẽ dành phần lớn thời gian trong ngày để thực hiện những hành vi mang tính nghi thức được tạo ra để làm giảm sự đe doạ từ bụi bẩn, vi khuẩn, lửa, đột nhập hoặc bất kỳ mối nguy nào có thể làm hại họ cùng người thân.
Tương tự, người với các rối loạn ám sợ có thể làm mọi cách để tránh né những gì họ sợ và phản ứng thái quá, đau đớn khi phải đối diện với nó. Khi suy nghĩ và hành vi dẫn đến khiếm khuyết chức năng, lo âu không còn được nhìn nhận là bình thường nữa.
Điều trị cho các rối loạn khác nhau, ví như liệu pháp nhận thức hành vi, cần kết hợp với nhiều phương pháp mới để đề cập trực tiếp tới lo âu về cái chết. Nếu thiếu đi những hướng tiếp cận mới, hình ảnh về cái chết sẽ mãi ám ảnh họ trong suốt cuộc đời, cho tới tận đến khi mọi chuyện đã quá muộn màng.
Dịch A.T-Hành Lang Tâm Lý






Đọc tiếp

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2015

HIỆU QUẢ CỦA TRỊ LIỆU TÂM ĐỘNG VÀ TRỊ LIỆU GIA ĐÌNH VỚI RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở TRẺ

0
Tỉ lệ trầm cảm ở trẻ em tại Hoa Kỳ theo giới tính và tuổi

JOURNAL OF PSYCHOTHERAPY AND PSYCHOSOMATICS 5/9/2014

Một nhóm các nhà tâm lý tại Hi Lạp đã công bố trên tạp chí Psychotherapy and Psychosomatics nghiên cứu tìm hiểu về vai trò của lòng tự tín (đánh giá cao, cho rằng bản thân mình có giá trị - self-esteem) và khả năng điều chỉnh xã hội của trẻ em và trẻ vị thành niên. Cả hai yếu tố trên đều cho thấy giúp trẻ có khả năng đối mặt hiệu quả trước các tình huống gây stress thường ngày và có chức năng bảo vệ trẻ trước trầm cảm.

Nhóm nghiên cứu tiến hành trị liệu trong vòng 9 tháng với 72 thân chủ từ 9 đến 15 tuổi. Trong đó , một nhóm được chỉ định tham gia trị liệu hệ thống gia đình thống hợp (systems integrated family therapy – FT) trong 90 phút đều đặn 8-14 tuần với trọng tâm xoay quanh các vấn đề gia đình nhưng không chú trọng đến quá khứ tuổi thơ hay các xung đột nội tâm lý chưa được giải quyết. Một nhóm khác được chỉ định tham gia các buổi trị liệu tâm động tập trung vào cá nhân (PP) trong vòng 50 phút xuyên suốt 16-30 tuần, tập trung vào các mối quan hệ liên cá nhân, những căng thẳng trong đời sống cùng việc gắn bó gây rối loạn chức năng bên cạnh các buổi làm việc với cha mẹ (cứ 2 buổi làm việc với trẻ sẽ có một buổi vói cha mẹ), chú ý vào cùng những vấn đề trên, do một nhà chuyên môn khác thực hiện.
Kết quả cho thấy cả hai phương pháp đều giúp cải thiện một cách có ý nghĩa các triệu chứng trầm cảm. Những ca “khó” thường có cải thiện đáng kể nhất, giảm thiểu gánh nặng trên các vấn đề điều chỉnh xã hội và lòng tự tín ở các buổi theo dõi về sau. Những phát hiện này phản ánh tầm quan trọng của lòng tự tín và khả năng điều chỉnh xã hội trong rối loạn trầm cảm của trẻ có stress mạn tính. Cả hai yếu tố trên đều giúp trẻ đối mặt với những môi trường gây căng thẳng, như cha mẹ có rối loạn tâm lý, ngược đãi, xung đột gia đình hay thiếu vắng sự hỗ trợ, tình cảm từ cha mẹ.
Thêm vào đó, lòng tự tín và khả năng điều chỉnh xã hội còn có thể giúp giảm thiểu các phản ứng tim mạch (như nhịp tim hay sự thay đổi nhịp tim) và viêm nhiễm trước stress, từ đó giúp bảo vệ trẻ khỏi trầm cảm. Tuy nhiên, khác biệt giữa số lượng các buổi làm việc (8-14 với FT và 16-30 với PP) dấy lên quan ngại về sự chênh lệch giữa mức độ hiệu quả về mặt chi phí giữa hai cách tiếp cận. Trong tương lai, cần có thêm các nghiên cứu so sánh tính hiệu quả giữa FT hay PP với phương thức điều trị trầm cảm cho trẻ đang được khuyến nghị hiện tại là CBT, trị liệu nhận thức hành vi và trị liệu liên cá nhân.
Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Psy Post (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Psy Post http://www.psypost.org/2014/09/better-troubled-adolescents-psychodynamic-therapy-family-therapy-27896 và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/09/tri-lieu-tam-ly-tram-cam-tre-em.html . Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Psy Post và thông báo cho người dịch.


Đọc tiếp

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2015

MÔI LIÊN HỆ GIỮA VIỆC TRẺ THƯỜNG XUYÊN GẶP ÁC MỘNG VỚI CÁC TRIỆU CHỨNG LOẠN THẦN KHI TRƯỞNG THÀNH

0
Trẻ thường xuyên gặp ác mộng

ĐH WARWICK 19/5/2015
Trong một nghiên mới đây được công bố trên tạp chí British Journal of Psychiatry, một nhóm nghiên cứu có trụ sở tại Đơn vị Sức khỏe Tâm thần thuộc Trường Đại học Y Warwick đã chứng minh việc thường xuyên gặp ác mộng lúc nhỏ, vào cả hai giai đoạn 2-9 tuổi và 12 tuổi đều có tương quan ý nghĩa với khả năng trải nghiệm các triệu chứng loạn thần vào năm 18 tuổi.  
ĐH Warwick dẫn đầu một nhóm nghiên cứu, bao gồm các nhà khoa học đến từ ĐH College London, ĐH Cardiff, ĐH Bristol và ĐH Kings London, đã tìm hiểu 4060 nghiệm thể sinh tại Anh. Nhóm nghiên cứu đã hỏi các bậc phụ huynh về tần suất trẻ gặp ác mộng từ lúc 2 đến 9 tuổi. Sau đó, các nhà khoa học phỏng vấn nghiệm thể để đánh giá tần suất gặp ác mộng, hoảng sợ ban đêm và mộng du vào năm 12 tuổi cùng các triệu chứng loạn thần năm 18 tuổi.
Vào năm 12, 24.9% nghiệm thể cho biết có gặp ác mộng trong vòng 6 tháng trở lại và trong toàn bộ mẫu nghiên cứu, 7.9% cho thấy có các triệu chứng loạn thần sau này. Đối với những nghiệm thể gặp ác mộng, tỉ lệ có triệu chứng loạn thần tăng gấp đôi.
Chủ nhiệm nghiên cứu, TS Andrew Thompson, cho biết: “Việc các triệu chứng lo âu và trầm cảm đóng vai trò tạo nên hiện tượng rối loạn giấc ngủ có thể giúp giải thích kết quả trên. Trải nghiệm các sự kiện căng thẳng cũng có thể đóng vai trò quan trọng, đồng thời có liên hệ đến việc xuất hiện ác mộng và các triệu chứng loạn thần vào cuối tuổi nhỏ.”
TS Thompson cho biết, nghiên cứu chỉ ra cách nhìn ác mộng và hoảng loạn ban đêm theo một hướng khác, đồng thời có thể hỗ trợ công việc của các nhà chuyên môn hay người chăm sóc.
Ông chia sẻ: “Có thể đối với một vài cá nhân, ác mộng và hoảng loạn ban đêm chẳng có liên hệ gì đến tình trạng tâm bệnh sau này. Tuy nhiên, đối với những người có các nguy cơ như gia đình có tiển sử tâm thần hay đã gặp những sang chấn trong quá khứ do người lớn hay bạn bè gây nên, những vấn đề về giấc ngủ trên có thể có tầm quan trọng khá lớn và giúp cảnh báo những vấn đề tâm bệnh hay sang chấn chưa được nhận diện.”
TS Thompson cho rằng tuy cần có thêm nhiều nghiên cứu nhưng những kết quả ban đầu này cho thấy các rối loạn giấc ngủ như việc thường gặp ác mộng ở trẻ em có thể là một chỉ báo nguy cơ về khả năng phát triển các triệu chứng và những rối loạn tâm thần.
Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Psy Post (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Psy Post http://www.psypost.org/2015/05/persistent-nightmares-in-childhood-could-be-linked-to-psychotic-experiences-in-later-life-34440 và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/08/van-de-tre-thuong-xuyen-gap-ac-mong.html. Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Psy Post và thông báo cho người dịch.


Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter