Thứ Ba, 2 tháng 2, 2016

ĐIỀU GÌ ẢNH HƯỞNG TỚI THÓI QUEN ĂN UỐNG CỦA BẠN?

0
Cách nào để lựa chọn thực phẩm tốt cho sức khoẻ?

Năm Mới đang đến gần, một trong những điều mà mọi người hay mong mỏi thay đổi là sức khoẻ và cân nặng của mình. Với việc “dư ký thừa cân” ngày càng trở nên đáng báo động, các nhà tâm lý xã hội và tâm lý nhân cách đang làm hết sức để hiểu được những động cơ tâm lý ảnh hưởng tới thói quen tiêu dùng và việc lựa chọn thực phẩm lành mạnh.
Ấn tượng đầu tiên về thức ăn: Ảnh hưởng dài hạn của hoàn cảnh gia đình lên thói quen ăn uống

Nghiên cứu về việc lựa chọn thực phẩm của TS Sarah Hill thuộc ĐH Công Giáo Texas cho thấy, hoàn cảnh kinh tế xã hội vào thời thơ ấu có thể ảnh hưởng đến thói quen ăn uống ở tuổi trưởng thành. “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy việc lớn lên trong cảnh nghèo khó sẽ thúc đẩy hoạt động ăn uống ngay cả khi không đói ở tuổi trưởng thành, bất kể tình trạng kinh tế xã hội hiện tại khi lớn ra sao”.
Theo kết quả nghiên cứu, quá trình phát triển có thể đóng vai trò quyết định đối với việc ăn uống và cân nặng của cá nhân, cụ thể những người có hoàn cảnh kinh tế xã hội kém sẽ dễ bị tăng cân hơn.
Trong một tập hợp 3 nghiên cứu với 31 phụ nữ trong mỗi thực nghiệm, Hill đã đo lường và kiểm soát nhu cầu năng lượng của các nghiệm thể đồng thời chuẩn bị đồ ăn vặt để họ tự do sử dụng. Các nghiệm thể đồng thời chia sẻ về tuổi thơ và tự đánh giá hoàn cảnh kinh tế xã hội trong thời điểm hiện tại. Kết quả cho thấy những người có hoàn cảnh tốt trong thời thơ ấu thường ăn khi cần nhiều hơn khi không cần. Trong khi đó, kết quả của những người có hoàn cảnh thơ ấu khó khăn lại không tương đồng. Họ thuòng tiêu thụ nhiều thức ăn bất kể nhu cầu ăn đang cao hay thấp.
Hill cùng nhóm nghiên cứu nhận thấy họ đang làm việc với một biến nằm trong môt nhóm các yếu tố rất phức tạp ảnh hưởng tới tình trạng béo phì và khả năng quản lý cân nặng. Các nghiên cứu tiếp theo đang được thực hiện để kiểm tra các cơ chế dẫn đến tương quan giữa hòan cảnh kinh tế xã hội khi nhỏ và hoạt động ăn uống khi không đói.
Thực phẩm “Lành mạnh”: Thứ tự phục vụ và tên gọi món ăn ảnh hưởng như thế nào đến việc ăn uống lành mạnh?

Nghiên cứu về cách thuyết phục mọi người lựa chọn thực phẩm lành mạnh, TS Traci Mann và nhóm nghiên cứu tại ĐH Minnesota đã tiến hành các thực nghiệm thực tế và trong phòng thí nghiệm để tìm hiểu cách mọi người phản ứng với những lựa chọn thực phẩm được định sẵn.
Thực nghiệm cho thấy trong căn tin trường tiểu học, nếu phục vụ bông cải hay ớt chuông trước, trẻ sẽ ăn rau củ nhiều gấp bốn lần bình thường nếu chỉ phục vụ rau củ cùng lúc với các thức ăn khác. Các nhà nghiên cứu tiếp tục thực nghiệm trong môi trường có kiểm soát với nhiều loại đồ ăn vặt khác nhau, kết quả vẫn cho thấy xu hướng tương tự.
Thực nghiệm còn cho thấy người trưởng thành thường đáp ứng với các biểu tượng đại diện cho sức khoẻ nhiều hơn bốn lần so với việc chỉ sử dụng từ “lành mạnh” hay “sức khoẻ”.
Trong một thực nghiệm thực tế với 400 người trưởng thành; 65% sẽ chọn táo (thay vì kẹo) nếu có ký hiệu trái tim trên bảng hiệu, trong khi chỉ có 45% chọn táo nếu bảng hiệu có chữ “khoẻ mạnh”. Trong một thực nghiệm khác với trên 300 khách thể, 20% chọn cà rốt (thay vì khoai tây chiên) nếu bảng hiệu có chữ “sức khoẻ” trong khi có tới 30% chọn rau củ nếu bảng hiệu có biểu tượng trái tim.
Theo TS Mann, “Dòng chữ ‘lành mạnh’ có vẻ khiến mọi người chán nản, đặc biệt là với những món ăn chắc chắn là ‘lành mạnh’. Những thông điệp ngầm, như biểu tượng hình trái tim, có vẻ hữu hiệu hơn trong việc định hướng mọi người lựa chọn các thức ăn tốt cho sức khoẻ.”

Dịch: Hành Lang Tâm Lý
Đọc tiếp

Thứ Ba, 26 tháng 1, 2016

TÂM LÝ HỌC vs DÂN CHỦ: TẠI SAO CHÚNG TA LẠI BẦU CHO NHỮNG NGƯỜI KÉM THÔNG MINH?

0
Tâm lé chính trị

Dean Burnett

Các chiến dịch tranh cử ở Mỹ cùng một số nước đã và đang bắt đầu diễn ra, nhưng kì lạ thay, những hành động hay lời nói “kém thông minh” có vẻ sẽ chẳng ảnh hưởng gì tới khả năng thành công của các ứng viên. Thật vậy, không may là luôn tồn tại một số cơ chế tâm lý khiến cho một người dù “dốt đặc cán mai” vẫn có thể được bầu vào các vị trí đầy quyền lực.
Các chính trị gia, uy tín của họ thường khá tệ hại (thua cả môi giới nhà đất và nhân viên ngân hàng: Link). Công bằng mà nói, phần lớn đều do lỗi của họ, nhưng cũng thật thiếu suy xét nếu ta cho rằng chính trị gia nào cũng như thế vì nếu không thì toàn bộ hệ thống đã sụp đổ từ lâu rồi. Tuy vậy, mọi người vẫn thường cho rằng chính trị gia là những người không đáng để tin tưởng, vậy nên chúng ta hãy cứ tạm thời giả định tình huống xấu nhất.

Một chính khách đưa ra một chính sách tồi? Người ấy quả là một thảm hoạ. Ông ấy/ Bà ta thay đổi ý kiến và muốn rút lại chính sách đó? Thật yếu đuối và chẳng đáng mặt lãnh đạo. Họ cam đoan thay đổi? (giảm thuế hay tăng phúc lợi) Rõ ràng đang nói láo. Chính khách đó hứa hẹn một điều khác thường (tăng thuế, giảm chi tiêu)? Chắc chắn nó sẽ xảy ra. Rõ ràng kiểu gì họ (các chính trị gia) đều bị thiệt thòi, vậy tại sao họ lại phải bận tâm? Tuy nhiều người chỉ tham gia chính trường vì bản thân nhưng may mắn thay, nhiều người cũng còn muốn làm hết sức mình và luôn lắng nghe các ý kiên tiêu cực đổ lên đầu họ.

Vậy nên không phải chính trị gia nào cũng ngu dốt (dù định nghĩa ngu dốt của bạn có thể dao động rất nhiều) nhưng rõ ràng nhiều người không được thông minh cho lắm. Hoa Kỳ xem ra là một ví dụ điển hình; Sarah Palin, Ted Cruz,… những người đã và đang chạy đua cho chức tổng thống. Và cũng đừng quên tổng thống George W Bush, người nắm cả nền kinh tế và kho đạn hạt nhân với sự mơ màng và lơ ngơ cao độ, đã ngồi ở vị trí cao nhất tận 8 NĂM.  

Vậy liệu điều gì đang diễn ra? Một cách logic, chúng ta sẽ muốn một người thông minh, am hiểu tường tận cách thức và tiếp cận tốt nhất để điều hành đất nước một cách tối ưu. Nhưng không! Mọi người lại thường hay hành xử và đưa ra lựa chọn theo cách khiến chúng ta phải đặt dấu hỏi về khả năng trí tuệ của họ. Giải thích cho hiện tượng này, rất nhiều yếu tố khác nhau có thể liên quan như tư tưởng hệ, văn hoá, xã hội, lịch sử, kinh tế,…, bởi lẽ chính trị là tập hợp của tất cả các thành tố trên. Nhưng chưa dừng lại ở đó, hiện tượng này còn bị tác động bởi một số tiến trình tâm lý nổi tiếng mà có thể bạn không nghĩ tới.

Tự tin, tự tin nữa, tự tin mãi
Những người tự tin thường hay dễ thuyết phục người khác. Nhiều nghiên cứu đã khẳng định điều này (Link). Đa phần các nghiên cứu dạng này thực hiện trong bối cảnh các phiên xét xử tại toà án, các nhân chứng tự tin thường dễ thuyết phục bồi thẩm đoàn hơn các nhân chứng lo lắng, ngập ngừng. Ta còn có thể thấy hiện tượng này ở một số khung cảnh khác. Ví dụ, những người bán xe cũ hay các nhân viên buôn bán địa ốc đã tận dụng kĩ thuật này suốt nhiều thập kỷ. Các chính trị gia đương nhiên biết việc này, họ đều được huấn luyện về truyền thông và quản trị quan hệ công chúng; bất kỳ chính trị gia nào không xuất hiện với dáng vẻ chắc chắn và tự tin đều sẽ bị “nốc ao” ngay từ vòng “gửi xe”. Vậy nên tự tin là rất quan trọng trong chính trị.

Tuy vậy, hiệu ứng Dunning-Kruger (Link) cho thấy những người kém thông minh thường hay tự tin quá mức (Link). Trong khi đó, những người thông minh thì ngược lại. Tự đánh giá là một kỹ năng nhận thức quan trọng (Link), tuy nhiên bạn cần trí tuệ để làm điều này; nếu không đủ tinh tường, bạn sẽ không có khả năng nhìn nhận mình là bất toàn và thiếu sót.

Vì thế, nếu bạn muốn một người “bẩm sinh” tự tin đại diện cho đảng phái của mình thì chọn lựa người thông minh là sai lầm trên nhiều phương diện. Tuy nhiên nó cũng có những hiệu ứng ngược; nghiên cứu cho thấy khi một người tự tin bị chỉ ra rằng đang nói sai/ nói dối, sau đó họ sẽ bị đánh giá là không đáng tin hơn so với người thiếu tự tin (Link). Điều này giúp giải thích mặt tối của chính trị, đó là một chuỗi các cá nhân tự tin hứa hẹn những điều lớn lao rồi thất bại thảm hại trong việc thực hiện những cam kết đó. Những điều này thật sự khiến chúng ta cảm thấy ngán ngẩm.

Chính trị rất phức tạp
Lãnh đạo hiệu quả một đất nước hàng chục triệu dân, mà mỗi cử tri đều có những yêu cầu và đòi hỏi riêng, quả là một công việc cực kỳ phức tạp. Có quá nhiều biến số cần phải giải quyết. Bất hạnh thay, chuyện gom góp tất cả các vấn đề trên rồi giải quyết như biên tập âm thanh hay phim ảnh truyền thông hiện đại là điều bất khả thi. Vì vậy, nhân cách thường là yếu tố xuất hiện đầu tiên. Những nhân cách kém thông minh thì thường tự tin, nó khiến cho người khác dễ bị thuyết phục, và cứ thế mà lan truyền.

Trong mọi hoàn cảnh, con người thường cảm thấy ngán ngẩm những chủ đề và thảo luận mang tính học thuât, phức tạp. Họ có thể không có kinh nghiệm với vấn đề, hay cảm thấy quá sợ hãi để mong muốn tham gia vì lẽ nếu làm vậy họ sẽ mất rất nhiều thời gian và công sức. Nhưng chính trị, đặc biệt là nền dân chủ, lại yêu cầu con người phải tham gia.

Các nghiên cứu về nhân cách cho thấy rất nhiều người thường có tính định hướng mục tiêu -  “xu hướng phát triển hay thể hiện khả năng trong các tình huống cá nhân tin rằng năng lực của mình sẽ được lượng giá và có khả năng thành công”. Cảm giác bạn chủ động tác động lên một điều gì đó (như kết quả bầu cử) có thể là một yếu tố tạo động lực rất mạnh mẽ, nhưng nếu một người bắt đầu phát biểu về những thứ “đao to búa lớn” như tỉ lệ lãi suất hay quản trị niềm tin với hệ thống sức khoẻ, bạn sẽ nhanh chóng khó nắm bắt, không theo kịp và dần cảm thấy bị tách ly. Vậy nếu một người tự tin nói rằng có một giải pháp đơn giản hay cam kết sẽ khiến cho những thứ phức tạp “tan biến”, hình ảnh của họ xem ra hấp dẫn hơn nhiều.

Điều này cũng được thể hiện thông qua Luật tầm thường của Parkinson (Link), chúng ta hay có xu hướng giành thời gian và công sức để tập trung vào những điều tầm thường mà chúng ta hiểu nhiều hơn so với cho những điều phức tạp mà ta không hiểu nổi. Con người thường thích những thứ tầm thường (Link), những người kém thông minh hay bóp nắn những vấn đề lớn thành các các mảnh nhỏ (nhưng thiếu chính xác) lại là những người hay được lựa chọn.

Liên hệ đến cử tri
Một trong những phẩm chất tích cực nơi George W Bush là người dân cảm thấy họ có thể “ngồi uống bia với ông”. Họ cảm thấy có liên hệ tới ông. Ngược lại, đẳng cấp ưu tuyển nhiều khi lại là một đặc điểm tiêu cực. Ý tưởng về một người nằm ngoài quy chuẩn thông thường của xã hội lại đi lãnh đạo đất nước có thể khiến nhiều người cảnh giác. Điều này dẫn đến việc các chính trị gia không ngừng tìm cách “sâu sát” với quần chúng.

Phần lớn cử tri rất dễ chịu tác động bởi các định kiến, thiên kiến, thành kiến tiềm thức (Link) và thường chỉ yêu thích “nhóm” của mình (Link). Không có điều gì trong những điều trên là có logic và được ủng hộ bởi bất kỳ bằng chứng hay thực tế nào cả, con người cũng không thích nghe những thứ người ta không muốn nghe (Link). Họ cũng nhận thức rất rõ địa vị xã hội (Link); chúng ta cần cảm thấy mình ưu việt hơn người khác theo cách nào đó để duy trì cảm giác giá trị của bản thân. Kết quả là những người thông minh nói những thứ phức tạp dung chứa những thông tin gây khó chịu (nhưng chính xác) lại chẳng hấp dẫn được ai, trong khi những người thể hiện kém trí tuệ, chẳng đe doạ được ý thức giá trị của ai, cũng chỉ chú tâm nói những thứ đơn giản, ủng hộ những thành kiến sẵn có và chối bỏ những thông tin gây khó chịu, lại có vẻ được yêu thích.

Quả là một tình huống đáng buồn nhưng xem ra đó lại là chính cách đầu óc chúng ta vận hành. Tất nhiên ngoài những gì đề cập vẫn còn nhiều thứ khác liên quan đến vấn đề này, tuy nhiên nói thêm chỉ làm mọi sự phức tạp hơn mà thôi, và như những gì đã được trình bày, đó hẳn không phải là cách khôn ngoan để lôi kéo người khác.


Dịch: Hành Lang Tâm Lý
Đọc tiếp

Thứ Năm, 21 tháng 1, 2016

LỜI NÓI DỐI LÀ DẤU HIỆU PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CỦA TRẺ

0
Khi trẻ nói dối

SUSAN PINKER 13/1/2016
Các xu hướng nuôi dạy con cái thường hay “cuốn theo chiều gió”, tuy nhiên đa phần người trưởng thành sẽ đồng ý rằng trẻ mẫu giáo đang tập nói không nên nói dối. Tuy nhiên hoá ra học nói dối nhìn chung lại là một phần quan trọng trong học tập – và là điều cần tách bạch khỏi những khái niệm đạo đức về vấn đề này.
Khả năng “bẻ cong sự thật” là một cột mốc phát triển quan trọng, tương tự tập đi hay tập nói. Một nghiên cứu do Kang Lee, Giáo sư Tâm lý tại ĐH Toronto, đứng đầu cho thấy nói dối thường xuất hiện sớm nơi các trẻ “lớn trước tuổi”. Vào khoảng 2 tuổi, 30% trẻ bắt đầu thử nói dối cha mẹ. Vào năm lên 3, 50% trẻ thường xuyên nói sai sự thật. Nói dối vặt rất phổ biến trong số 80% các trẻ 4 tuổi và trở thành “bình thường” nơi trẻ 5 – 7 tuổi.
Nói cách khác, Theo TS. Lee, nói dối chẳng có gì là khác thường nơi trẻ nhỏ. Bất ngờ hơn nữa, các trẻ “vẽ chuyện” lại có các ưu thế về nhận thức so với các trẻ “thành thật”. “Nói dối cần có hai thành phần. Trẻ cần có khả năng hiểu người khác nghĩ gì – để nắm được họ biết và không biết điều gì. Chúng tôi gọi đây là khả năng ‘xây dựng học thuyết về tâm trí’. Các trẻ có khả năng này thường sẽ nói dối giỏi hơn.”
Yêu cầu thứ hai, theo TS Lee, là khả năng điều hành – năng lực xây dựng trước kế hoạch và kiểm soát các hành động không mong muốn. “Nhóm 30% trẻ dưới 3 tuổi ‘biết’ nói dối có khả năng điều hành tốt hơn,” “cụ thể là khả năng ức chế sự thôi thúc nói ra sự thật và chuyển sang nói dối.”
Ông còn nhận xét thêm, khả năng tư duy tinh tế đó là dấu hiệu cho thấy các trẻ biết nói dối sẽ thành công hơn trong học tập và trong việc “xử trí” khi chơi với các trẻ khác.
Dù mấy chục năm nay TS Lee đã biết rằng các trẻ giỏi trong việc “xây dựng học thuyết tâm trí” cũng sẽ nói dối tốt hơn, tuy nhiên ông không biết cái nào có trước cái nào. Vậy liệu nói dối có giúp trẻ đoán được người khác nghĩ gì tốt hơn không? Vì dù gì thì không nói thật cũng giúp trẻ “thu hoạch” được những phản hồi từ người lớn và những phản hồi đó sẽ tiết lộ đôi điều về tâm trí của họ. Hay nếu chúng ta dạy ai đó cách hình dung ra suy nghĩ của ngươi khác,  họ sẽ trở nên những người dựng chuyện hoàn hảo hơn? TS Lê đã kiểm tra nhưng phát biểu trên trong một thực nghiệm được xuất bản trên tạp chí Psychological Science tháng 11 vừa qua.

Luyện tập khả năng “xây dựng học thuyết về tâm trí” đã trở thành một công cụ khá thông dụng trong làm việc với trẻ có rối loạn phổ tự kỷ và với các trẻ có những vấn đề hành vi khác. Việc luyện tập sẽ đưa trẻ đi qua các tình huống khác nhau, qua đó giúp trẻ khám phá ra rằng người xung quanh có thể có những hiểu biết và niềm tin khác biệt với chính trẻ. Trong thực nghiệm của TS Lee, các trẻ được cho đọc những câu chuyện có nhiều chi tiết về trạng thái tinh thần của người khác. “Chúng tôi tự hỏi, các tác dụng phụ ở đây là gì? Liệu chúng ta có thể làm tăng lời nói dối thông qua luyện tập xây dựng học thuyết về tâm trí hay không?” TS Lee cho biết.

Sau khi đã kiểm tra trí thông minh, khả năng nói dối và chức năng điều hành của trẻ, ông cùng nhóm các nhà nghiên cứu đến từ Canada, Mỹ và Trung Quốc đã chia 58 trẻ mẫu giáo trong một thành phố tại Trung Quốc thành hai nhóm. Một nhóm sẽ trải qua 6 buổi luyện tập xây dựng học thuyết về tâm trí, nhóm còn lại sẽ trải qua số buổi học tương đương nhưng lại về các kỹ năng giải quyết vấn đề về số và không gian.

Sau sáu buổi trong suốt 8 tuần, các nhà nghiên cứu nhận ra rằng các trẻ trong nhóm xây dựng học thuyết về tâm trí không chỉ nói dối giỏi hơn trước mà còn giỏi hơn một các có ý nghĩa so với các trẻ trong nhóm còn lại – nhóm kiểm soát. Tác động trên kéo dài trong một tháng, TS Lee dự tính sẽ tiếp tục theo dõi để tìm hiểu những kết quả này liệu có kéo dài hay không.

“Như vậy, lần đầu tiên trẻ nói dối không phải là một dấu hiệu đáng báo động nhưng lại là một dịp đáng để vui mừng. Đó là thời điểm chúng ta có thể chỉ dạy trẻ”, ông chia sẻ “là thời điểm để bàn luận liệu nói dối là gì, sự thật là gì và ảnh hưởng của nó lên người khác ra sao.”

Dịch: Hành Lang Tâm Lý.


Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter