Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2015

BÍ QUYẾT HỌC NGOẠI NGỮ QUA ĐIỆU BỘ

0

Bí quyết học ngoại ngữ

Một nghiên cứu mới cho thấy, sử dụng cử điệu khi học ngoại ngữ mới có thể giúp nâng cao trí nhớ.
Hệ vận động, một phần của não bộ giúp điều khiển chuyển động, có vẻ như đóng một phần rất quan trọng trong việc học tập ngôn ngữ.
Trong khi nhiều phương pháp học ngoại ngữ đã tích hợp tranh ảnh để thúc đẩy ghi nhớ, đây chỉ mới là nghiên cứu đầu tiên về tác động của cử điệu lên lĩnh vực này.
Trong thực nghiệm được công bố trên tạp chí Current Biology, những người tham gia được yêu cầu cố gắng học một ngôn ngữ “tự chế” mang tên ‘Vimmish’, ngôn ngữ mang âm hưởng tiếng Ý nhưng được thiết kế sao cho họ chưa bao giờ nghe thấy trước đây (Mayer et al., 2015).
Nhóm nghiệm thể được dạy tiếng Vimmish theo nhiều cách khác nhau nhằm kiểm tra xem phương pháp  nào giúp ghi nhớ tốt nhất.
TS Katja Mayer, thành viên nhóm nghiên cứu cho biết kết quả:
“Khả năng ghi nhớ của các nghiệm thể có kết quả tốt nhất khi đi chung với cử điệu.
Ngoài ra, khi người tham gia nghe một từ mới [bằng tiếng Vimmish] và từ được dịch, đồng thời quan sát hình ảnh tương ứng, họ cũng có khả năng ghi nhớ từ mới tốt hơn
Ngược lại, viết lại từ hay quan sát cử điệu cho kết quả không khá hơn việc đơn thuần nghe từ mới là bao,”
Các nhà nghiên cứu phát hiện cử điệu giúp nghiệm thể học từ vựng mới tốt hơn một ít so với học bằng hình ảnh.
Theo lý thuyết đa giác quan mà nghiên cứu ủng hộ, càng nhiều giác quan được kích thích khi học tập thì khả năng ghi nhớ càng cao.
Giáo sư Katharina von Kriegstein, người đứng đầu nghiên cứu cho biết
“Ví dụ, nếu chúng ta nói chuyện điện thoại với người quen, những khu vực não chịu trách nhiệm cho việc ghi nhớ khuôn mặt vẫn được kích hoạt.
Có vẻ như não bộ vẫn kích thích và tự tạo ra các thông tin không được ghi nhận bởi mắt,”
Có thể chính việc những khu vực khác nhau được sử dụng trong quá trình học tập giúp cải thiện trí nhớ.
GS von Kriegstein cho biết thêm:
“Tuy nhiên, chúng ta không biết việc có thêm giác quan giúp cải thiện kết quả học tập đến mức độ nào.
Một cách lý tưởng tất cả các giác quan phải được phối hợp với nhau.
Nói cách khác, để học từ ‘trái táo’ bằng tiếng Tây Ban Nha, bạn nên cùng lúc ra hiệu trái táo, nếm một trái táo và nhìn một trái táo”.


Đọc tiếp

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2015

TÂM LÝ HỌC VỀ FACEBOOK

0
Facebook và tâm lý

Với hơn một tỉ người sử dụng, Facebook đang thay đổi cuộc sống xã hội của toàn thể nhân loại. Các nhà phê bình vẫn đang cân nhắc những tác động của hiện tượng này mang lại, nó mang chúng ta lại gần nhau hay đang đào sâu khoảng cách? Các nhà tâm lý học cũng có những câu trả lời cho riêng mình – danh sách tìm kiếm trên Google Scholar cho thấy hơn 27000 tài liệu tham khảo có “Facebook” trong tiêu đề. Những nghiên cứu thường tìm hiểu mối liên hệ giữa việc sử dụng Facebook và nhân cách, đồng thời kiểm tra xem liệu mạng xã hội giảm nhẹ hay thúc đẩy sự cô đơn. Lượng dữ liệu mới xuất hiện một cách choáng ngợp nhưng đa phần lại mâu thuẫn với nhau. Sau đây là một số thông tin tâm lý học về Facebook (các bạn có thể tìm nghiên cứu liên quan bằng cách click vào các đường dẫn có màu chữ khác):

Ai sử dụng Facebook?

Theo một khảo sát trên một ngàn người, “phụ nữ, thanh niên, và người chưa kết hôn là những người sử dụng Facebook nhiều nhất”. Về khía cạnh nhân cách, một nghiên cứu trên 1000 người Úc cho thấy “người sử dụng Facebook thường hướng ngoại, ái kỷ nhiều hơn, ít tận tâm nhưng cũng ít cô đơn hơn những người không sử dụng”. Một nghiên cứu về sử dụng Facebook (FB) thực tế trên hơn một trăm sinh viên cho thấy nhân cách là yếu tố tác động quan trọng hơn giới và kinh nghiệm sử dụng FB, những người có số điểm lo âu – nhạy cảm (neuroticism - theo trắc nghiệm nhân cách 5 yếu tố) cao thường dành nhiều thời gian hơn để sử dụng FB. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng phát hiện người hướng ngoại có nhiều bạn trên FB hơn người hướng nội (“10% người trả lời có số điểm hướng ngoại cao nhất có trung bình nhiều hơn 484 người bạn so với 10% người trả lời có số điểm hướng ngoại thấp nhất”).
Người dùng Facebook


Cũng có bằng chứng cho rằng nhiều người dùng FB nhằm liên kết với những người xung quanh với những mục đích đặc biệt, ví dụ những bệnh nhân tiểu đường dùng FB để chia sẻ thông tin và kinh nghiệm, đồng thời những người có chứng tự kỷ đặc biệt thích tham gia tương tác thông qua FB cùng những mạng lưới trực tuyến khác.

Tại sao có người dùng Twitter và có người dùng Facebook?

Đa phần mọi người sử dụng Facebook “nhằm giao tiếp và liên hệ tức thời với bạn bè” (thay vì chia sẻ hình ảnh, giữ liên lạc như ta vẫn nghĩ!), nhưng tại sao lại sử dụng FB thay vì Twitter? Một nghiên cứu vào năm 2014 cho rằng việc này có liên quan đến tính ái kỷ, tuy nhiên, tác động này lại phụ thuộc vào độ tuổi của người sử dụng: những sinh viên có tính ái kỷ thường thích dùng Twitter, trong khi những người trưởng thành có tính ái kỷ lại thích dùng FB hơn. Những nghiên cứu khác còn tìm ra mối liên kết rất thú vị giữa nhân cách và lý do sử dụng FB. Những người cho rằng mình dùng FB như một công cụ thông tin (thay vì công cụ giao tiếp xã hội) thường có điểm số cao ở yếu tố lo âu – nhạy cảm, xã giao, hướng ngoại và tính cởi mở, tuy nhiên họ có điểm tận tâm và “nhu cầu nhận thức” thấp. Các nhà nghiên cứu dự đoán rằng việc sử dụng FB để tìm kiếm và chia sẻ thông tin ở một số người có thể là cách né tránh những nguồn thông tin mang tính đòi hỏi nhận thức cao hơn, ví dụ như bài báo khoa học và xã luận báo chí. Nghiên cứu trên cũng phát hiện việc những người có điểm xã giao, lo âu – nhạy cảm và hướng ngoại cao sẽ thích sử dụng FB hơn, trong khi những người có điểm “nhu cầu nhận thức” cao sẽ ưa chuộng Twiter hơn.

Chúng ta chia sẻ những thông tin gì về bản thân trên Facebook?


FB xem ra là cách thức hoàn hảo để giới thiệu “phiên bản tuyệt mỹ” của bạn với thế giới. Tuy nhiên, một phân tích thực hiện trên trang FB của hơn 200 người tại Đức và Mỹ cho thấy những người tham gia thường phản ánh nhân cách thực của mình thay vì cái tôi lý tưởng của họ, một nghiên cứu khác phát hiện rằng những người thường được đánh giá là thân thiện ngoài đời cũng được đánh giá tương tự khi dựa trên trang FB của họ. Những thứ bạn “like” trên FB cũng có ý nghĩa. Một nghiên cứu cho thấy việc phân tích lượt “like” của bạn bằng chương trình máy tính có thể giúp tạo ra một hồ sơ thông tin về nhân cách còn chính xác hơn những gì bạn bè và họ hàng ghi nhận.

Riêng tư trên Facebook

Nếu trang FB cá nhân bộc lộ cái tôi thật của chúng ta, điều này hẳn sẽ dấy lên những vấn đề về quyền riêng tư. Một nghiên cứu vào năm 2013 cảnh báo rằng các ông chủ thường lần mò vào FB của các ứng viên và đánh giá những bức hình ăn nhậu như “tín hiệu xấu”, họ có thể xem đó là những dấu hiệu cho thấy ứng viên thiếu sự tân tâm (thực tế nghiên cứu cho thấy các bức ảnh như vậy có liên hệ tới mức hướng ngoại cao chứ không phải mức tận tâm thấp).

Các nhà nghiên cứu khác lại đặc biệt tìm hiểu cách thức nhân cách liên hệ tới những nội dung mọi người đăng lên FB. Một nghiên cứu vào năm 2014 cho thấy "mức độ ái kỷ cao có liên hệ tới việc tự bộc lộ nhiều và nội dung tự tôn bản thân trong những thông điệp trên. Đồng thời, những người có nhu cầu “thuộc về” cao cũng sẽ bộc lộ nhiều thông tin thân mật hơn". Một nghiên cứu khác cũng cho biết những người cô đơn thường chia sẻ nhiều thông tin riêng tư nhưng lại ít bày tỏ ý kiến cá nhân hơn.
Bạn cũng có thể muốn cân nhắc những bạn bè bạn có trên FB – nghiên cứu cho thấy  mức độ thu hút và những thông điệp bạn bè để lại trên tường FB sẽ tác động đến cách người khác nhìn nhận trang FB của bạn. Bạn cũng nên để ý về mặt số lượng – tuy khá nghịch lý nhưng nghiên cứu cho thấy con số bạn bè “khổng lồ” có thể dẫn tới những ghi nhận tiêu cực về hình ảnh của bạn.

Cuối cùng, chúng ta đã biết rằng các chủ doanh nghiệp thường khó chịu trước những cảnh tiệc tùng, ngoài ra, bạn còn thể hiện điều gì qua những tấm hình đại diện của mình? Nó có thể cung cấp thông tin về nền văn hóa của bạn, một nghiên cứu vào năm 2012 cho thấy người Đài Loan thường đăng hình cá nhân với góc rộng, chứa cả người và khung cảnh trong khi người Mỹ thường thích để hình cận cảnh với gương mặt chiếm phần lớn diện tích khung hình. Hình FB đồng thời cũng chia sẻ mối quan hệ tình cảm hiện tại của bạn. Khi bạn cảm thấy bất an về cảm xúc của người yêu mình, bạn thường thể thể hiện công khai mối quan hệ của mình nhiều hơn thông qua hình ảnh.

Còn một việc, trong trường hợp bạn còn băn khoăn, tất nhiên, những người đăng nhiều hình “tự sướng” có thể có tính ái kỷ cao hơn.

Facebook có khiến chúng ta buồn bã hay cô đơn không?

Đây có lẽ là câu hỏi hóc búa thu hút nhiều bài báo và sách chuyên ngành. Một nghiên cứu vào năm 2012 đã tiếp cận vấn đề trên bằng phương pháp thực nghiệm. Một nhóm người được yêu cầu đăng cập nhật trên FB nhiều hơn bình thường trong vòng 1 tuần – điều này cuối cùng khiến họ cảm thấy bớt cô độc và liên kết nhiều hơn với bạn bè của mình. Tương tự, một khảo sát thực hiện trên 1000 người sử dụng FB cho thấy mối liên hệ giữa việc sử dụng mạng xã hội và việc có nhiều cảm giác thuộc về hơn, đồng thời họ còn thấy tự tin hơn trong việc bắt nhịp với bè bạn, đặc biệt ở những người có lòng tự trọng (tự tín – self esttem) thấp. Một nghiên cứu khác vào năm 2010 phát hiện việc những sinh viên nhút nhát sử dụng FB sẽ cảm thấy gần gũi hơn với bạn bè (trên FB) của mình và có cảm giác được hỗ trợ xã hội nhiều hơn. Kết quả tương tự cũng được ghi nhận trong một nghiên cứu vào năm 2013, trong đó cho rằng cảm giác liên kết trên FB có liên hệ tới “mức trầm cảm và lo âu thấp cùng cảm nhận thỏa mãn nhiều hơn với cuộc sống”, đồng thời FB “có thể đóng vai trò như một phương tiện xã hội riêng biệt… mang một loạt những hệ quả tâm lý tích cực.” Một báo cáo mới đây cũng ghi nhận việc FB giúp phục hồi các mối quan hệ lâu năm.
Giao tiếp ngày nay

Tuy nhiên, cũng có những bằng chứng về ảnh hưởng tiêu cực của FB. Một nghiên cứu vào năm 2013 nhắn tin hỏi các nghiệm thể trong suốt một ngày, liệu họ cảm thấy như thế nào trước và sau khi sử dụng FB. Các nhà nghiên cứu chia sẻ, "Sử dụng FB tại một thời điểm càng nhiều thì trong lần hỏi tới, cảm giác của nghiệm thể sẽ càng tệ hơn” [đồng thời] qua hai tuần, nghiệm thể sử dụng FB càng nhiều bao nhiêu thì mức độ hài lòng với cuộc sống sẽ giảm đi bấy nhiêu.”

Các kết quả khác còn tô đậm sự khác biệt hơn nữa. Nghiên cứu năm 2010 (không chỉ tập trung vào FB) cho thấy việc sử dụng internet nhằm kết nối với bạn bè hiện tại có liên hệ đến việc giảm thiểu sự cô đơn, nhưng nếu sử dụng nhằm kết nối với người lạ (những người chỉ biết qua mạng) thì có tương quan với cô đơn nhiều hơn. Khảo sát trên những người trưởng thành mang chứng tự kỷ cho thấy sử dụng mạng xã hội trực tuyến (kể cả FB) liên hệ đến việc có nhiều tình bạn thân thiết hơn, nhưng chỉ những mối quan hệ ngoài đời mới có tác dụng giảm thiểu cảm giác cô độc.

FB cũng có thể gây ra ghen tức. Năm 2012, các nhà nghiên cứu phát hiện những người dành nhiều thời gian trên FB sẽ cảm thấy người khác hạnh phúc hơn mình và cuộc đời sao lắm bất công. Tương tự, một nghiên cứu thực hiện trên hàng trăm sinh viên cho thấy thời gian sử dụng FB đi đôi với cảm giác ghen tuông. Một nghiên cứu trong năm qua còn kết luận "nhiều người sẽ cảm thấy thất vọng sau khi dành nhiều thời gian trên FB vì họ cảm nhận tiêu cực khi so sánh bản thân với người khác." Tuy nhiên, một nghiên cứu mới (về mạng xã hội nói chung, chứ không chỉ FB) cho thấy người “ghiền” FB không bị căng thẳng nhiều hơn mức trung bình, nhưng lại cảm nhận cảm giác căng thẳng nơi người khác nhiều hơn.

Facebook ảnh hưởng đến học tập?
Facebook có làm ảnh hưởng đến học tập không?

Đây lại là một vấn đề nổi cộm khác được báo chí cùng những nhà bình luận xã hội đề cập. Một phân tích trên điểm số và thời gian sử dụng FB trên gần 4000 sinh viên Hoa Kỳ cho thấy sinh viên càng sử dụng mạng xã hội để giao tiếp nhiều bao nhiêu thì điểm số của các bạn càng thấp bấy nhiêu (tất nhiên là có thể có nhiều yếu tố nguyên nhân riêng rẽ bên dưới mối liên hệ này). Tuy nhiên không phải cách sử dụng FB của mọi người đều giống nhau – nghiên cứu cho thấy sử dụng FB để thu thập và chia sẻ thông tin trên thực tế có liên hệ đến điểm số cao hơn. Khảo sát trên 200 sinh viên cũng cho thấy những bạn “nghiện” FB thường có điểm học tập thấp, nhưng cũng cần ghi nhận đây không phải là mối liên hệ nguyên nhân – kết quả. Nhưng một nghiên cứu khác của ĐH Chicago, bao gồm một dữ liệu chiều dọc đáng tin cậy, lại cho thấy không có bằng chứng ủng hộ mối liên hệ giữa việc sử dụng FB và điểm thấp. FB lại có thêm thông tin tích cực khi nghiên cứu mới đây cho thấy FB, cùng những công cụ mạng xã hội khác, có thể mang lại những lợi ích về nhận thức nơi người cao tuổi.

Cuối cùng là một số nghiên cứu đáng chú ý khác:

·                     Facebook có luật bất thành văn
·                     Cảm xúc có tính lây lan trên Facebook (đây là nghiên cứu gây tranh cãi mới đây khi FB điều khiển trang cập nhật của người dùng mà không thông báo)
·                     Có nhiều lí do khiến mọi người đăng những thứ khiến bản thân phải hối tiếc về sau, trong đó có việc đăng những thông tin khi họ đang có nhiều cảm xúc hoặc đang hiểu lầm những người mình quen biết. 


Đọc tiếp

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2015

KHẢ NĂNG LÃNH ĐẠO CỦA PHỤ NỮ VÀ ĐÀN ÔNG ĐƯỢC ĐÁNH GIÁ NGANG NHAU

0

Phụ nữ được đánh giá là những nhà lãnh đạo hiệu quả với tỷ lệ ngang bằng với đàn ông, và đôi khi còn cao hơn - một kết quả nói lên sự thay đổi của xã hội về vai trò giới và nhu cầu về một phong cách  lãnh đạo khác trong môi trường làm việc toàn cầu hóa, theo phân tích đa chiều xuất bản bởi APA.
  
"Khi xem xét toàn bộ các bối cảnh, nam và nữ được nhìn nhận như nhau về hiệu quả lãnh đạo." Chủ nhiệm nghiên cứu Samatha C. Paustian-Underdahl, TS., ĐH Quốc tế Florida cho biết. "Khi ngày càng có nhiều phụ nữ thành công ở vị trí lãnh đạo, dường như những hiểu lầm về mối tương quan giữa quyền lãnh đạo và sự nam tính đã dần được loại bỏ".

Trong khi nam giới có khuynh hướng tự đánh giá bản thân là làm việc hiệu quả nhiều hơn so với nữ giới tự đánh giá, thì những nhận định khách quan lại cho thấy, hóa ra nữ giới mới được nhìn nhận là hiệu quả hơn. 

Paustian-Underdahl và cộng sự đã mở rộng "Học thuyết vai trò tương thích” (“role congruity theory”), học thuyết về định kiến đối với phụ nữ làm lãnh đạo, cho rằng "phụ nữ điển hình" không được nhìn nhận là có khả năng lãnh đạo. Các tác giả viết: “Phụ nữ thường được mô tả và mong đợi là có tính cộng đồng, hướng đến các mối quan hệ và mang tính hỗ trợ nhiều hơn là đàn ông, trong khi đó, đàn ông được tin và kì vọng là mang tính cá nhân, cạnh tranh và độc lập hơn phụ nữ.” Các nhà nghiên cứu mở rộng học thuyết bằng cách áp dụng cả hai nội dung lên hai giới, “Bởi lẽ các tổ chức đã trở thành những môi trường có nhịp độ nhanh, toàn cầu hóa, một số nhà nghiên cứu tổ chức đã đề xuất cần có một phong cách lãnh đạo nữ tính hơn nhằm nhấn mạnh nhu cầu tham gia và mở rộng giao tiếp nhằm đạt được thành công.”

Các nhà nghiên cứu đã phân tích 99 nhóm dữ liệu từ 58 bài báo được xuất bản, 30 bài tham luận và luận án, 5 cuốn sách và 6 nguồn khác (như các bài giới thiệu, dữ liệu chưa được xuất bản). Cỡ mẫu trong phạm vi từ 10 đến 60470 nhà lãnh đạo. Cỡ mẫu trung bình là 1,011 và tuổi trung bình của các nhà lãnh đạo (trên 40 mẫu có báo cáo tuổi) là 39. Các nghiên cứu được xuất bản từ 1962 – 2011. 86% mẫu có dữ liệu đến từ những nghiên cứu thực hiện tại Mỹ hoặc Canada.

Khi chỉ xét đến đánh giá bởi người khác (không phải là tự đánh giá), phụ nữ được nhìn nhận là những nhà lãnh đạo hiệu quả hơn nam giới ở vị trí quản trị cấp trung, trong các tổ chức kinh doanh và giáo dục.  Hơn nữa, những phụ nữ nắm giữ các vị trí quản trị cao cấp cũng được đánh giá là hiệu quả hơn. Những nhà nghiên cứu giả định rằng hiệu ứng này xảy ra vì “tiêu chuẩn nhân đôi năng lực”, ám chỉ rằng các nữ lãnh đạo phải có khả năng vượt trội mới vươn lên được vị trí cấp cao như thế.

Paustian-Underdahl nói “Kết quả này cho thấy điều đáng ngạc nhiên rằng đàn ông nói chung vẫn tiếp tục được trả nhiều hơn và thăng tiến lên vị trí quản trị cấp cao hơn phụ nữ”. “Nghiên cứu trong tương lai cần kiểm tra lý do vì sao phụ nữ được nhìn nhận là những nhà lãnh đạo hiệu quả bằng (hoặc hơn) đàn ông song họ lại không được tưởng thưởng tương xứng như vậy.”

Nguồn: 
“Gender and Perceptions of Leadership Effectiveness: A Meta-Analysis of Contextual Moderators,” Samantha C. Paustian-Underdahl, PhD, Florida International University; Lisa Slattery Walker, PhD, and David J. Woehr, PhD, University of North Carolina at Charlotte, Journal of Applied Psychology, online April 28, 2014.

http://www.apa.org/news/press/releases/2014/04/women-leaders.aspx
Dịch: Ngọc Anh.
Link bài dịch:
http://iopsyhr.blogspot.com/2014/02/su-gan-bo-voi-to-chuc-ket-qua-cua-muc-o.html 

Đọc tiếp

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

TRẺ CÓ KHẢ NĂNG NHẬN THỨC CAO HƠN KHI ĐƯỢC TỰ LẬP

0
Trẻ tự lập

ĐH MONTREAL 18/01/2015

Theo một nghiên cứu được thực hiện tại ĐH Montreal, những trẻ được người mẹ liên tục hỗ trợ khả năng phát triển ý thức độc lập sẽ có các kỹ năng nhận thức tốt hơn. Các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến chức năng điều hành, bao gồm những tiến trình then chốt của nhận thức, cùng những chức năng xã hội và tâm lý khác.

“Chúng tôi đã chứng minh rằng chức năng điều hành của trẻ có liên hệ đến khả năng người mẹ hỗ trợ sự độc lập nơi trẻ. Khả năng này, chẳng hạn, bao gồm viêc dạy trẻ các kỹ năng giải quyết vấn đề, đặt mình vào góc nhìn của trẻ trong khi vẫn đảm bảo trẻ đóng vai trò chủ động trong việc hoàn thành các nhiệm vụ của mình”, Célia Matte-Gagné, người đứng đầu nghiên cứu, chia sẻ. “Quan trọng hơn, nghiên cứu còn cho thấy những điều đó không chỉ đem lại một khởi đầu thuận lợi cho trẻ. Tuy nhiều nghiên cứu đã xác nhận sự hỗ trợ của người mẹ là rất cần thiết nhưng vẫn còn ít công trình cho thấy cách thức những kỹ năng của trẻ thay đổi theo thời gian ra sao và những tác động mang lại cho trẻ là gì.”

78 bà mẹ cùng con mình đã tham gia nghiên cứu. Nhóm nghiên cứu đến nhà các nghiệm thể 2 lần – một lần khi trẻ 15 tháng và lần thứ hai khi trẻ 3 tuổi – mỗi chuyến đi kéo dài 60 đến 90 phút. Trong khoảng thời gian này, các bà mẹ được yêu cầu hỗ trợ trẻ hoàn thành các hoạt động với độ khó vừa đủ để trẻ không thể tự mình hoàn thiện (xây tháp và ráp hình trong lần đầu, sắp xếp các khối vào lần thứ 2).

Các hoạt động diễn ra trong 10 phút và được ghi hình nhằm giúp các nhà nghiên cứu lượng giá các hành vi hỗ trợ sự độc lập nơi người mẹ:
·         Người mẹ khuyến khích con hoàn thành nhiệm vụ đến mức nào (đưa ra các phản hồi tích cực và sử dụng giọng điệu tích cực);
·         Đặt mình vào quan điểm của con và thể hiện sự linh hoạt trong việc cố gắng giúp con thực hiện nhiệm vụ;
·         Theo sát tốc độ của con;
·         Cung cấp cho con cơ hội để chọn lựa và đóng vai trò tích cực;
·         Can thiệp và điều chỉnh nhiệm vụ phù hợp với nhu cầu của con trong khi vẫn giảm thiểu việc sử dụng các kỹ thuật kiểm soát.

Chức năng điều hành của trẻ được đánh giá vào lúc trẻ 3 tuổi bằng cách sử dụng một loạt các trò chơi thích ứng giúp trẻ bộc lộ khả năng kiềm chế, năng lực trí nhớ làm việc và khả năng tư duy liên tục nhiều khái niệm khác nhau.

Kết quả, những trẻ có điểm cao nhất là những trẻ có mẹ nằm trong số những người thúc đẩy hành vi độc lập ổn định nhất; và trường hợp các trẻ có điểm thấp thì ngược lại. Tuy nhiên, không có một lượng thời gian cụ thể giúp dự đoán sự tiến bộ nơi trẻ.

Matte-Gagné giải thích, “Cần chú trọng đến sự ổn định trong hành vi của cha mẹ khi ta muốn dự đoán sự phát triển trong tương lai của trẻ,” “Nghiên cứu này cho thấy rất có thể, chức năng điều hành của trẻ không chỉ cần có việc nuôi dạy tốt mà còn cần sự ổn định trong chất lượng. Điều này được kết luận từ mối tương quan giữa điểm số hỗ trợ độc lập của người mẹ cùng chức năng điều hành nơi trẻ, đồng thời từ kết quả cho thấy những khác biệt rõ ràng nhất được thể hiện giữa các nhóm trẻ được nhận mức độ hỗ trợ độc lập ổn định cao và nhóm có sự hỗ trợ kém ổn định. Phát hiện này đem lại những đường hướng mới trong việc tìm hiểu mối quan hệ tạo giữa việc tạo khung độc lập và chức năng tiến hành được xây dựng như thế nào trong tiến trình phát triển của trẻ.”


Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter