Thứ Sáu, 10 tháng 10, 2014

CHẤP NHẬN ĐAU ĐỚN LÀM GIẢM CƠN ĐAU: KHẢ NĂNG TƯƠNG ĐỒNG Ở CẢ NAM LẪN NỮ

0
Khả năng chấp nhận đau đớn


PLATAFORMA SINC 11/09/2014


Năng lực phục hồi (sức bật), khả năng vượt lên nghịch cảnh của con người, là phẩm chất quan trọng nhất  liên hệ tới khả năng chịu đau và thích ứng với đau mãn tính nơi bệnh nhân. Đây là kết quả của một nghiên cứu vừa được thực hiện tại ĐH Malaga, trong đó cho thấy yếu tố giới tính không có nhiều tác động như chúng ta thường nghĩ lên khả năng này.
Trong một thời gian dài, một loạt các thử nghiệm lâm sàng đã cho thấy sự quan trọng của khác biệt về giới trong hiệu quả của thuốc, tính mẫn cảm với đau qua bệnh tật và trong việc hồi phục sau gây mê. Đi xa hơn, các kết quả này lại trùng hợp với quan niệm chung thường cho rằng phụ nữ chịu đựng tốt hơn nam giới.
Tuy nhiên, nghiên cứu mới được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu thuộc ĐH Malaga với mục đích phân tích sự khác biệt giữa nam và nữ trong trải nghiệm với đau mãn tính lại cho thấy một góc nhìn khác. Kết quả tiết lộ rằng những sai khác này rất nhỏ.
Không phải giới tính mà là chính sức bật của cá nhân mới quyết định khả năng chấp nhận đau cao hay thấp. Lý do là vì nó liên hệ đến một loạt các đặc điểm đem lại nguồn lực để đương đầu với đau đớn nơi chúng ta.
400 bệnh nhân bị đau cột sống mãn tính (190 đàn ông và 210 phụ nữ) điều trị tại trung tâm chăm sóc tuyến đầu đã tham gia vào nghiên cứu. Kết quả cho thấy giữa hai nhóm giới tính tồn tại sự tương đồng nhiều hơn là khác biệt.
“Những người có sức bật cao thường chấp nhận được cơn đau của mình, họ hiểu rằng những cơn đau nhức là mãn tính và ngưng tập trung vào việc làm sao để đau đớn kết thúc. Họ tập trung năng lượng để nâng cao chất lượng sống của bản thân,” Carmen Ramirez-Maestre, tác giả và là nhà nghiên cứu tại Viện Andalusian cho biết.
Bà nói thêm, “Theo cách này, những bệnh nhân có khả năng chấp nhận được cơn đau sẽ cảm thấy ít đau đớn hơn, họ chủ động trong mọi ngày và có tâm trạng tích cực hơn”.
Sợ đau
Bên cạnh đó, những phát hiện vừa được đăng trên “Tạp chí đau” cho thấy các bệnh nhân sợ đau đồng thời cũng trải nghiệm nhiều lo âu và trầm cảm hơn.
Tác giả kết luận, “Dù vậy, nỗi sợ hãi này chỉ liên hệ với mức độ đau đớn cao ở các mẫu nam giới và đó chính là khác biệt duy nhất giữa hai giới tính.”

http://www.psypost.org/2014/09/pain-tolerance-levels-men-women-similar-28059
Từ vựng:

Khả năng phục hồi, sức bật:               Resilience
Đau mãn tính:                                     Chronic pain
Tính mẫn cảm:                                    Susceptibility
Gây mê:                                             Anaesthetic
Sự chịu đựng, lòng khoan dung:          Tolerance
Chất lượng cuộc sống:                        Life quality
Lo âu:                                                Anxiety
Trầm cảm:                                          Depression
Đọc tiếp

Thứ Tư, 8 tháng 10, 2014

ĐỐI VỚI NHÀ TUYỂN DỤNG, TÍNH CÁCH NÀO CỦA ỨNG VIÊN LÀ QUAN TRỌNG NHẤT?

0
Tính cách quan trọng của nhân viên


Trong khi đa phần các nhà tuyển dụng [employer] đánh giá ứng viên [candidate] cho một vị trí dựa trên kỹ năng và kinh nghiệm của họ, một số công ty đang sử dụng ngày một nhiều hơn các công cụ đo lường nhân cách nhằm xác định xem liệu ứng viên nào là phụ hợp nhất. Theo một khảo sát của Hiệp hội Quản trị Nguồn Nhân lực [Society of Human Resources Management], gần 20% các ông chủ cho biết họ sử dụng các loại trắc nghiệm tâm lý [personality test] khác nhau như một phần của tiến trình tuyển dụng.

Trong một nghiên cứu mới công bố [publish] trên tạp chí Perspectives in Psychological Science, hai nhà tâm lý Paul R. Sackett và Philip T. Walmsley thuộc ĐH Minnesota đã phân tích một số bộ dữ liệu rộng lớn về thông tin tuyển dụng và năng lực làm việc nhằm tìm ra tính cách nào góp phần hình thành giá trị của các công ty nhiều nhất.

Sackett and Walmsley đã sử dụng mô hình đo lường nhân cách Big Five nổi tiếng để làm nền tảng lý thuyết [theoretical basis] cho nghiên cứu của mình. Mô hình này cho rằng nhân cách của một cá nhân có thể được mô tả thông qua năm nét tính cách: tận tâm [conscientiousness], dễ chịu [agreeableness], ổn định cảm xúc [emotional stability], hứơng ngoại [extraversion], và cởi mở với trải nghiệm [openness to experience].

Các nhà nghiên cứu [researchers] đã phân tích một kho dữ liệu những buổi phỏng vấn xin việc nhằm xác định nét tính cách nào mà các công ty thường tìm kiếm khi tuyển dụng. Các thông tin chủ yếu đến từ việc phân tích các buổi phỏng vấn có cấu trúc [structured job interview], trong đó nhà tuyển dụng đánh giá ứng viên về những nét tính cách cụ thể nhằm mục đích đảm bảo họ phù hợp với vị trí và môi trường làm việc [work environment] nói chung. Ví dụ, một công ty tuyển nhân viên bán hàng sẽ muốn đánh giá ưng viên cho công việc dựa trên các nét hướng ngoại và sự thân thiện nhằm đảm bảo người đó có khả năng làm việc hiệu quả với khách hàng.

Sau khi xử lý các con số, Sackett và Walmsley phát hiện ra rằng sự tận tâm-bao gồm đáng tin cậy [dependable], kiên trì [persevering], và trật tự [orderly]-là nét tính cách được trông đợi nhiều nhất nơi các nhân viên tương lai. Sự dễ chịu-khả năng hợp tác [cooperative], linh hoạt [flexible] và khoan dung [tolerant]- là nét tính cách được đánh giá cao xếp thứ hai.

Tuy nhiên, liệu những nét tính cách này có tiên đoán được khả năng thực hiện tốt công việc trên thực tế không? Nhằm tìm ra câu trả lời, các nhà nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa nét tính cách và ba tiêu chí hiệu suất công việc [work performance criteria]: khả năng hoàn thành công việc như mong đợi, mức độ làm việc vượt năng suất, và số lượng hành vi tiêu cực.

Một lần nữa, sự tận tâm và dễ chịu lại đứng đầu bảng [came out on top]. Khi phân tích [analysis], sự tận tâm là nét tính cách gắn chặt nhất với hiệu quả công việc nói chung, sự dễ chịu xếp ngay sau đó.

Các nhà nghiên cứu cũng xem xét thông tin được trích từ cơ sở dữ liệu [database] O*NET của Bộ Lao động [Department of Labor] chỉ ra đâu là các kỹ năng và phẩm chất [quality] cụ thể cần có để đạt được thành công nơi hàng ngàn công việc. Họ kì vọng sẽ xác định được nét tính cách nào trong Big Five được nhắc đến nhiều nhất khi nói đến những phẩm chất quan trọng để thành công nơi lực lượng lao động [workforce] Hoa Kỳ.

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu nhận thấy sụ tận tâm, tính dễ chịu và ổn định cảm xúc là những nét được cho là quan trọng xuyên suốt các ngành nghề đa dạng, từ xây dựng cho tới y tế.

“Kết luận, phát hiện [findings] của chúng tôi là bằng chứng mạnh mẽ [robust evidence] cho việc Sự tận tâm và Dễ chịu là hai nét tính cách rất quan trọng đối với sự chuẩn bị nguồn lao động cho nhiều ngành nghề, điều này cần có một loạt các yêu cầu huấn luyện và kinh nghiệm khác nhau,” Sackett và Walmnsley viết.

Dù sự tận tâm là nét được đánh giá trung bình cao nhất, nhưng các nhà nghiên cứu cảnh báo rằng từng công việc [occupation] cụ thể sẽ có những thứ hạng khác nhau về nét tính cách. Dẫu vậy, Sacklett và Walmsley cũng cho rằng việc biết được phẩm chất nào nhìn chung được xem trọng sẽ là thông tin rất hữu ích cho sinh viên hay những người chưa có quyết định cụ thể về mục tiêu nghề nghiệp [career goals] của mình.

Tài liệu tham khảo
Sackett, P. R, Walmsley, P. T. (2014). Which Personality Attributes Are Most Important in the Workplace? Perspectives on Psychological Science, 9(5), 538-551. DOI: 10.1177/1745691614543972

http://www.psychologicalscience.org/index.php/news/minds-business/which-personality-traits-are-most-important-to-employers.html
Đọc tiếp

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014

CÁCH CHA MẸ PHẢN ỨNG VỚI TIẾNG BẬP BẸ CÓ THỂ THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CỦA TRẺ

0
Tiếng bập bẹ của trẻ


ĐH IOWA 29/8/2014

Cha mẹ có thể không hiểu được tiếng ê a của con, nhưng bằng cách lắng nghe và đáp trả, họ giúp trẻ nhỏ [infant] biết rằng chúng có thể giao tiếp. Điều này khiến trẻ hình thành những thanh âm phức tạp [complex sounds] và sẽ bắt đầu sử dụng ngôn ngữ nhanh hơn.
Theo một nghiên cứu mới thực hiện bởi ĐH Iowa và ĐH Indiana, cách thức cha mẹ đáp trả với tiếng bập bẹ [babbling] của trẻ thực sự có thể định hình cách trẻ giao tiếp và sử dụng thanh âm.
Phát hiện này thách thức niềm tin cho rằng việc giao tiếp của con người là bẩm sinh [innate] và không thể chịu ảnh hưởng bởi phản hồi của cha mẹ. Thay vào đó, các nhà nghiên cứu lập luận rằng, những cha mẹ tham gia một cách có ý thức [conciously engage] vào hoạt động bập bẹ của con có thể đẩy nhanh khả năng phát âm [vocalizing] và học ngôn ngữ của các bé.
“Tầm quan trọng của việc đáp ứng [responsiveness] chưa phải là điều chúng tôi tìm thấy” Julie Gros-Louis, phó giáo sư Tâm lý học tại ĐH Iowa, đồng tác giả nghiên cứu được xuất bản vào phiên bản Tháng Bảy/ Tám của Tạp chí Trẻ sơ sinh, cho biết. “Mà chính cách thức người mẹ đáp trả mới có ý nghĩa.”
Các nhà nghiên cứu quan sát sự tương tác giữa 12 bà mẹ cùng các bé sơ sinh 8 tháng tuổi trong các buổi chơi tự do [free play] hai lần mỗi tháng, kéo dài 30 phút, trong khoảng thời gian 6 tháng. Họ ghi nhận cách thức người mẹ đáp trả lại các phát âm tích cực của con mình, ví dụ như bập bẹ và thầm thì [cooing], đặc biệt khi những tín hiệu này hướng trực tiếp đến người mẹ. Nghiên cứu đang tiến hành trong phòng thí nghiệm của Gros-Louis tìm thấy cả cha và mẹ đáp ứng với tiếng bập bẹ của con tương đương nhau.
Nghiên cứu khám phá ra rằng các bé có mẹ trả lời lại những tiếng ê a, mà họ nghĩ rằng là con họ đang nói, cho thấy có sự tăng tiến trong những phát âm phụ âm-nguyên âm [consonant-vowel vocalizations] vượt mức phát triển, điều này có nghĩa là tiếng bập bẹ đã trở nên đủ tinh tế [sophisticated] để nghe giống từ ngữ. Qua thời gian, các bé cũng bắt đầu định hướng những tiếng ê a hướng về người mẹ nhiều hơn.  
Mặt khác, các trẻ sơ sinh mà người mẹ không cố gắng hiểu con mình, thay vào đó lại hướng sự chú ý của trẻ khi ấy vào một điều gì khác, không cho thấy mức độ phát triển tương đương trong kỹ năng ngôn ngữ và giao tiếp.
Gros-Louis cho rằng sự khác biệt đến từ việc người mẹ cùng tham gia với con khi chúng bập bẹ giúp trẻ biết được rằng chúng có thể giao tiếp. Do đó, những trẻ này sẽ thường xuyên hướng về mẹ và bập bẹ nhiều hơn.
 “Theo một nghĩa nào đó, trẻ sơ sinh sử dụng phát âm như cách thức giao tiếp do chúng học được rằng chúng mang tính tương tác,” Gros-Louis chia sẻ.
Trong một khảo sát diễn ra một tháng sau khi nghiên cứu kết thúc, các bà mẹ chú ý đến tiếng ê a của con nhiều nhất cho biết, lúc 15 tháng, con của mình nói được nhiều từ và thực hiện nhiều cử chỉ hơn.
Gros-Louis lúc ấy là một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ ở Indiana, khi cô, Andrew King, một nhà khoa học tâm lý kỳ cựu, cùng với Meredith West, giáo sư tâm lý học tại Indiana, thực hiện một nghiên cứu về người mẹ và trẻ sơ sinh với tựa đề “Tính đáp ứng nơi người mẹ và sự phát triển phát âm có định hướng trong tương tác xã hội [social interaction].”
 “Julie đang chứng minh rằng các kích thích [stimulation] xã hội định hình những gì trẻ có thể làm được từ rất sớm,” King cho biết. “Nếu bạn có thể minh chứng rằng cha mẹ có khả năng định hình những gì trẻ học biết được, thì cũng có khả năng họ định hình được việc trẻ sẽ nhạy bén với điều gì. Trẻ đang học cách để học.”
Nghiên cứu này được xây dựng trên nghiên cứu trước đây của King và West, xuất bản vào năm 2003 trong tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences. Trong nghiên cứu đó, các bà mẹ được hướng dẫn cách phản hồi tích cực – như cười hay tiếp xúc – mỗi khi trẻ nhìn mình và bập bẹ. Kết quả cho thấy trẻ sẵn sàng học phát âm các âm tiết khó và giống âm thanh nhiều hơn các trẻ điển hình.
Greg-Louis và cộng sự đẩy nghiên cứu trên đi xa hơn bằng cách quan sát tương tác giữa mẹ và trẻ trong một khoảng thời gian dài hơn mà không có bất kỳ chỉ dẫn cách thức đáp ứng nào cho các bà mẹ từ trước. Do vậy, họ thêm vào một nhóm kiểm soát [control group]-các bà mẹ hướng sự chú ý của trẻ vào nơi nào khác, trái ngược với nhóm các người mẹ tham gia tích cực khi trẻ nhìn họ và bập bẹ.
Một lần nữa, các kết quả cho thấy trẻ sơ sinh có mẹ chú ý kỹ càng hơn đến tiếng bập bẹ sẽ phát ra các thanh âm phức tạp hơn, đồng thời cũng phát triển các kỹ năng ngôn ngữ sớm hơn.
Gộp chung lại, hai nghiên cứu này có thể thay đổi cách thức chúng ta suy nghĩ về sự phát triển giao tiếp của con người. Tuy nhiên, các nhà khoa học cho biết, cần có thêm các nghiên cứu bổ trợ [additional research] có sự tham gia của nhiều nghiệm thể hơn nhằm xác nhận các phát hiện trên.
King phát biểu “Đây là một cuộc tranh luận rất lớn”
Đọc tiếp

Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2014

NHỮNG THỰC PHẨM NÀO CÓ LIÊN HỆ ĐẾN SỨC KHỎE TINH THẦN?

0
Trái cây rau củ và sức khỏe tinh thần

Các thực phẩm nào có liên hệ tới tính lạc quan, sự hạnh phúc, lòng tự trọng cao và những mối quan hệ tốt đẹp.

Một nghiên cứu mới chỉ ra, tiêu thụ trái cây và rau củ không chỉ tốt cho sức khỏe thể lý mà còn có lợi cho sức khỏe tinh thần.
Nghiên cứu thực hiện trên 14000 người ở Anh cho thấy những người sử dụng càng nhiều trái cây và rau củ thì càng hạnh phúc về mặt tinh thần (Stranges et al., 2014).
Sức khỏe tinh thần không chỉ là không bị trầm cảm: nó còn có nghĩa là cảm thấy thoải mái một cách tích cực.
Những người có sức khỏe tinh thần cao thường lạc quan, hạnh phúc hơn, có lòng tự trọng và những mối quan hệ tốt đẹp hơn những người khác.
TS. Saverio Stranges, chủ nhiệm nghiên cứu cho biết:
“Bên cạnh việc không hút thuốc, tiêu thụ trái cây và rau củ là hành vi sức khỏe liên hệ nhất quán nhất với cả hai mức độ sức khỏe tinh thần cao và thấp.
Những phát hiện mới cho thấy trái cây và rau củ có thể đóng vai trò quan trọng trong việc hướng tới sức khỏe không chỉ thể lý mà còn tinh thần cho đại bộ phận dân số.”
Kết quả cho thấy trong số những người ăn 5 phần (hoặc hơn) trái cây và rau củ mỗi ngày, 33.5% có sức khỏe tinh thần tốt hơn.
Tỉ lệ trên rớt xuống còn 6.8% đối với những người chỉ tiêu thụ 1 phần mỗi ngày.
Những nhân tố khác về lối sống cũng quan trọng, nhưng chỉ việc không hút thuốc mới gắn liền chặt chẽ với mức độ sức khỏe tinh thần như sử dụng trái cây và rau củ.
Tuy nghiên cứu này chỉ cho chúng ta biết mức độ sức khỏe tinh thần cao có liên hệ với việc sử dụng trái cây và rau củ, một số các nghiên cứu khác cho thấy mối liên kết mạnh mẽ hơn.
Một nghiên cứu yêu cầu các nghiệm thể theo dõi tâm trạng cùng số lượng trái cây và rau củ họ ăn trong vòng 21 ngày (White et al., 2013). Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng tiêu thụ nhiều trái cây và rau củ trong một ngày sẽ dự đoán được tâm trạng tích cực hơn vào ngày hôm sau.
Cũng có những bằng chứng liên kết trái cây và rau củ với sức khỏe thể lý, vậy nên việc nó nâng cao sức khỏe tinh thần cũng không phải là điều gì quá khó hiểu.
GS. Sarah Stewart-Brown, một trong những đồng tác giả của nghiên cứu, kết luận:
“Bệnh lý tâm thần tác động rất lớn đến cả cá nhân và xã hội, sức khỏe tinh thần cũng góp phần hình thành các bệnh tật thể chất, những lối sống thiếu lành mạnh và các bất công xã hội về sức khỏe.
… tiêu thụ [nhiều] trái cây và rau củ có thể [giúp] chúng ta nâng cao sức khỏe tinh thần, đồng thời, phòng tránh các bệnh tim mạch và ung thư.”
http://www.spring.org.uk/2014/09/these-everyday-foods-have-a-powerful-connection-with-mental-wellbeing.php
Đọc tiếp

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014

KHI TRẺ CẦN ĐƯỢC TRỊ LIỆU NHƯNG LẠI KHÔNG MUỐN ĐẾN

0
Trẻ em và trị liệu

MARGARITA TARTAKOVSKY, M.S. 

Trị liệu là việc khó khăn ngay cả với người lớn. Sự xấu hổ ngăn cản nhiều người trong chúng ta nhấc điện thoải lên và đặt hẹn. Thêm vào đó, tiến trình trị liệu còn rất vất vả. Nó thường đòi hỏi ta bộc lộ những yếu điểm, dấn thân vào những thử thách khó nhằn, thay đổi các hành vi không lành mạnh và học hỏi những kỹ năng mới.

Vì thế, chẳng có gì bất ngờ khi trẻ không muốn được trị liệu. Sự phản kháng này chỉ leo thang khi các em hiểu sai cách thức tiến trình trị liệu diễn ra. “Nhiều trẻ cảm thấy sợ hãi hay lo lắng khi đi trị liệu, đặc biệt nếu các em tin rằng mình đang gặp rắc rối hay cho rằng bản thân mình là ‘tồi tệ’”, Clair Mellethin, Nhân viên CTXH Lâm sàng, nhà trị liệu trẻ em và gia đình, cho biết.

Bà nói, trẻ nhỏ có “niềm tin sai lầm rằng chúng đang đến phòng khám của bác sĩ và sẽ bị tiêm chích hay phải trải qua những quy trình khó chịu khác.”
Vậy cách nào chúng ta có thể khuyến khích trẻ đi trị liệu khi đó là nơi cuối cùng chúng muốn đặt chân tới? Sau đây là những điều nên và không nên.
Một sai lầm cha mẹ thường phạm phải khi cố đưa trẻ đi trị liệu là không nói trước cho trẻ biết chúng đang đi trị liệu ngay từ đầu. Một lần nữa, như đã đề cập, những ngộ nhận trẻ có về trị liệu sẽ khiến các em thêm sợ hãi.

 “Thông thường, tôi phát hiện rằng trên đường đến buổi hẹn trị liệu, các bậc phụ huynh mới thông báo cho con mình. Như vậy hoàn toàn không có thời gian để trẻ bộc lộ ý muốn, đặt câu hỏi, thể hiện sự lo lắng hay thậm chí nói rằng mình một cái ôm hay được trấn an,” Mellethin nói, bà cũng là một nhà trị liệu thông qua hoạt động chơi và là giám đốc lâm sàng ở Phòng Trị liệu gia đình Wasatch.

Bà nói thêm, một sai lầm “khổng lồ” nữa chính là việc “bêu xấu và quở trách những triệu chứng của trẻ”. Bà chia sẻ ví dụ: “Nếu mày không không ngưng làm vậy, tao đưa mày đến gặp Cô Clair bây giờ!!!”

Việc cha mẹ tránh gặp nhà trị liệu cũng làm mọi việc thêm khó khăn. Molly Gratton, Nhân viên CTXH Lâm sàng, nhà trị liệu chơi và là người sáng lập Trung tâm Huấn luyện và Tham vấn Molly Và Tôi, cho biết, “Nhiều phụ huynh sắp xếp đưa đón cho con mình đi trị liệu nhưng lại chẳng bao giờ đến phòng tham vấn.” Điều này cản trở sự tiến triển và ngăn trẻ học cách làm việc cùng cha mẹ - “những người hỗ trỡ tuyến đầu” của các em.

Hãy thành thật về lý do tại sao bạn muốn con mình đi trị liệu. Dù là trẻ nhỏ hay tuổi teen, hãy nói chuyện với trẻ về hiệu quả của trị liệu và tại sao bạn muốn các em đến trung tâm, Mellenthin chia sẻ.
Bà đưa ra ví dụ sau về những điều chúng ta cần nói (có thể điều chỉnh tùy vào tuổi của con bạn):
“Chúng ta đi trị liệu là vì_______xảy ra trong nhà mình. Đó là một nơi đặc biệt mà con có thể nói về những cảm xúc cùa mình và những điều con lo lắng trong một không gian an toàn. Nó cũng rất thú vị và cô/chú hỗ trợ chúng ta cũng rất dễ thương.”

Bình thường hóa trị liệu. Trẻ thường đón nhận tiến trình trị liệu nhanh hơn nhiều nếu cha mẹ để việc trị liệu “là một trải nghiệm thông thường, không bí ẩn cũng như không xấu hổ” Mellethin nói. Tiếp cận vấn đề một cách có hệ thống. Theo Gratton, “đừng nói những điều như ‘con cần được giúp đỡ’ hay ‘con cần nói chuyện với nhà trị liệu’” Những câu nói đó có thể khiến trẻ cảm thấy chúng phải chịu trách nhiệm cho vấn đề của gia đình, bà chia sẻ. “Như vậy, các em sẽ phải mang vác gánh nặng của nỗi đau.” Thay vào đó, hãy cùng tham gia với con trẻ và “vui thú với tiến trình.”

Là người ủng hộ. Hãy để trẻ biết rằng chúng có thể nói chuyện với bạn về những gì chúng cảm nhận về nhà trị liệu và tiến trình, Gratton chia sẻ. Vì con bạn là người phải đối mặt với những vấn đề khó khăn trong trị liệu, chúng rất cần sự ủng hộ của bạn.

“Nhiều trẻ đang cố gắng học những cách bày tỏ cảm xúc mới và hiệu quả hơn, nếu cha mẹ không mở lòng lắng nghe và cho phép con mình bộc lộ bản thân, điều đó có thể rất nguy hại cho tiến trình chữa lành.”

Hãy nói chuyện với nhà trị liệu của con bạn về những phản kháng của chúng với các buổi làm việc. Theo Gratton, “đa số các nhà trị liệu vô cùng sẵn lòng giải quyết khúc mắc và khám phá những rào cản.” Bên cạnh đó, đa phần cũng sẵn sàng chuyển ca nếu họ không phù hợp với trẻ hay gia đình, bà cho biết.

Tuy nhiên, Gratton ghi nhận rằng việc “không chạy trốn những khó chịu và chán ghét” là rất quan trọng. Đầu tiên, hãy cân nhắc cùng làm việc với nhà trị liệu để giúp trẻ kiểm soát sự khó chịu của chúng, điều này “sau hết cũng là cách tốt để luyện tập một kỹ năng mà chúng cần phải có.”

Gratton chứng kiến nhiều trẻ nhỏ và vị thành niên không muốn đi trị liệu khi cha mẹ tiết lộ những vấn đề của các em với nhà trị liệu trước mặt chúng. “Thông thường, những điều cha mẹ nói đều không tích cực. Bạn có muốn đi trị liệu khi cha mẹ bạn nói ra toàn những thứ tệ hại?”

Bà đề nghị nên trao đổi riêng với nhà trị liệu về những khó khăn cũng như những thay đổi tích cực ít nhất một tháng một lần. Bà thường yêu cầu cha mẹ gửi mail cập nhật tình hình.

Chữa lành và thay đổi không chỉ xảy ra bên trong phòng tham vấn. Việc thực hiện can thiệp tại gia là rất quan trọng, đây là một yếu tố then chốt khác trong việc cha mẹ cần tham dự vào tiến trình. Gratton đề nghị cần cân nhắc và áp dụng những gợi ý của nhà trị liệu. Sau đó, cung cấp phản hồi cho nhà trị liệu về những gì hiệu quả hay chưa hiệu quả.

“Tôi tin rằng chúng ta nên đi theo sự dẫn dắt của trẻ: Nếu chúng nói rằng chúng không muốn đi, có thể đây chưa phải là thời điểm và các em cần được nghỉ ngơi,” Gratton nói. Tuy nhiên, điều này phải được đánh giá cẩn trọng, vì bạn không hề muốn ngưng việc trị liệu trừ khi con bạn thật sự cần như vậy.

Bà đưa ra những ví dụ sau về những vấn đề cấp bách cần được trị liệu: con bạn bị trầm cảm; các em tự giam mình; điểm số tụt giảm rõ rệt; trẻ không hứng thú với những điều vẫn khiến chúng vui vẻ trước đó; các em đề cập đến cảm giác vô vọng hay bất lực; hay chúng tự tử.

Khi trị liệu là cần thiết, Mellethin cho rằng nên nói những câu như: “Cha mẹ yêu con rất nhiều đến độ sẵn sàng không bắt con làm thế ngay lúc này. Cha mẹ yêu con nhiều đến mức cho phép nỗi đau mà con đang cảm nhận tiếp tục diễn ra mà không trợ giúp [vì con không muốn].”

Có thể hiểu được rằng, trị liệu có thể rất khó khăn với con trẻ. Nhưng khi cha mẹ giải thích tiến trình, sẵn sàng ủng hộ, giao tiếp thường xuyên với nhà trị liệu và tỏ ra cho trẻ thấy việc gặp nhà trị liệu không phải là điều đáng xấu hổ, tình hình có thể sẽ được cải thiện. Đây thật sự là một hành động đòi hỏi rất nhiều sự mạnh mẽ.

http://psychcentral.com/blog/archives/2014/10/02/when-your-child-doesnt-want-to-go-to-therapy-but-needs-to/
Đọc tiếp

Thứ Tư, 1 tháng 10, 2014

MẶT TÍCH CỰC CỦA CẠNH TRANH: TĂNG ĐỘNG LỰC, NÂNG NĂNG SUẤT

0
Kình địch Bill Gates và Steve Jobs

04/09/2014


30 năm cạnh tranh quyết liệt giữa hai “đại gia” công nghệ Bill Gates và Steve Jobs đã giúp sản sinh ra những phần mềm và thiết bị không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta hiện nay, những màn thi đấu khốc liệt giữa “Magic” Johnson và Larry Bird [2 vận động viên bóng rổ nổi tiếng] đem lại số lượt theo dõi trên TV cao nhất trong lịch sử bóng rổ. Từ phòng giám đốc cho đến sân bóng, cạnh tranh giữa những kình địch từ lâu đã đem lại thành công và cải tiến.

Một nghiên cứu mới của nhà khoa học tâm lý Gavin J. Kilduff thuộc ĐH New York đã tìm ra rằng cạnh tranh với kình địch không chỉ mang lại hiệu suất cao hơn mà còn giúp cải thiện “thời gian thi đấu” .

Không giống những đua tranh khác, đối đầu kình địch xảy ra giữa hai cá nhân đã hiểu biết lẫn nhau và đem lịch sử đối đầu trong quá khứ vào cuộc thi đấu. Với cả hai, phần thắng về tâm lý còn quan trọng hơn bất kỳ giải thưởng hay danh hiệu nào khác.

Kilduff cho biết, “Lấy sự canh tranh giữa Andre Agassi và Pete Sampras [2 vận động viên tennis nổi tiếng vào những năm 90] ra làm ví dụ. Những năm vừa qua, cả hai đã tổ chức nhiều trận đấu biểu diễn với mục đích từ thiện, và mặc cho sự thật là cả hai đều đã giải nghệ từ lâu cùng với việc không hề có phần thưởng tiền bạc, họ vẫn thi đấu rất quyết liệt.” 

Những nghiên cứu chứng minh rằng cạnh tranh có thể làm tăng động lực đã được bắt đầu thực hiện từ năm 1898, khi tâm lý gia Norman Triplett phát hiện ra các tay đua xe đạp sẽ đạp nhanh hơn khi có sự xuất hiện của những cua-rơ khác.

Kilduff cho rằng những mối quan hệ liên cá nhân có thể có tác động lớn lên động lực, điều này lý giải cho việc vì sao quan hệ kình địch làm tăng hiệu suất cao hơn những cạnh tranh thông thường. Ví dụ, nhiều nghiên cứu cho thấy, khi nhiệm vụ ảnh hưởng tới việc tự lượng giá bản thân, con người thường trở nên tranh đua với bạn bè nhiều hơn so với người lạ. Hiện tượng tương tự cũng có thể xảy ra với mối quan hệ kình địch.

Trong một nghiên cứu, một bản khảo sát trực tuyến yêu cầu 317 nghiệm thể nghĩ về một lần họ cạnh tranh với một ai đó. Một nửa số người tham gia được chỉ định vào trong “điều kiện kình địch”, họ được yêu cầu nhớ lại việc mình ganh đua với một “kỳ phùng địch thủ”. Còn những nghiệm thể trong “điều kiện không kình địch” được hướng dẫn nhớ lại lần cạnh tranh với một người bất kỳ, nhưng không phải là kình địch.

Đúng như dự đoán, những người suy nghĩ về kình địch cho biết hiệu suất được tăng lên nhiều hơn, họ cảm thấy cả hai ngang bằng hơn và có nhiều động lực hơn.
Để tìm ra xem liệu kình địch có thật sự tác động đến năng suất hay không, Kilduff đã xem xét và phân tích 6 năm dữ liệu lưu trữ của một câu lạc bộ chạy đường dài nghiệp dư.

Sau khi chạy số liệu từ 82 thành viên trong 112 cuộc đua, kết quả xác nhận rằng việc có mặt  kình địch làm tăng tốc độ chạy lên 4.92 giây/ kilometer. Điều này có nghĩa là trong một cuộc đua 5 cây số, chạy với kình địch sẽ giúp bạn nhanh hơn 25 giây.


“Cách chúng ta hành xử trong những tình huống cạnh tranh phụ thuộc vào mối quan hệ và quá khứ tương tác với đối thủ của chúng ta,”  Kilduff viết trong tạp chí Social Psychological and Personality Science. “Điều này gợi ý rằng chúng ta có thể làm tăng mức độ động lực và năng suất của mình bằng cách hình thành sự kình địch hay củng cố mối quan hệ ta đang có. Nó cũng khiến ta phải suy nghĩ về việc liệu những ai ta quen biết có thể nhìn nhận ta như kình địch của họ.”

Tài liệu tham khảo
Kilduff G. J. (2014). Driven to Win: Rivalry, Motivation, and Performance. Social Psychological and Personality Science. DOI: 10.1177/1948550614539770


http://www.psychologicalscience.org/index.php/news/minds-business/the-upside-of-rivalry-higher-motivation-better-performance.html
Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter