Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

NGUYÊN NHÂN CỦA THAM NHŨNG: QUYỀN LỰC CÓ KHẢ NĂNG ĐÁNH GỤC CẢ NHỮNG NGƯỜI LƯƠNG THIỆN

0
Tham nhũng


01/10/2014
Khi bầu một người lãnh đạo mới, các cử tri thường lựa chọn dựa trên một số yếu tố và thường quan tâm đặc biệt đến những người lãnh đạo có những phẩm chất tốt như thành thật và đáng tin cậy. Tuy nhiên, đến khi những người đứng đầu nắm quyền lực trong tay, liệu chúng ta còn có thể tin tưởng họ sẽ tiếp tục phục vụ xã hội một cách đắc lực nữa hay không?
Một nghiên cứu mới được công bố trên The Leadership Quarterly đã tìm cách khám phá xem liệu quyền lực có làm mờ mắt người lãnh đạo hay không. Tác giả nghiên cứu John Antonakis và cộng sự từ  trường ĐH Lausanne giải thích, “Chúng tôi tìm cách kiểm tra lời phát biểu của Lãnh Chúa Acton đã nói hơn 100 năm trước ‘Quyền lực làm băng hoại và quyền lực tuyệt đối sẽ băng hoại một cách tuyệt đối.’”
Để tìm hiểu, các tác giả đã sử dụng phương pháp thực nghiệm để phân tách các nhân tố tình huống và chủ quan; đồng thời xác định xem liệu quyền lực làm băng hoại con người hay những người băng hoại lại được chọn để giao quyền lực.
Sau khi hoàn thành các trắc nghiệm đo lường tâm lý nhằm tìm hiểu những khác biệt cá nhân, trong đó có sự thành thật, những người tham gia sẽ chơi “trò chơi độc tài”. Trong đó, họ được trao toàn quyền kiểm soát những quyết định về việc lấy tiền cho bản thân hay cho những người cấp dưới.  Những người trong vị trí lãnh đạo có thể lựa chọn đưa ra những quyết định phù hợp hay chống lại xã hội. Lựa chọn thứ hai sẽ làm giảm tổng lượng tiền lấy được của nhóm nhưng lại làm tăng “thu nhập” của người đứng đầu.
Kết quả cho thấy, ít nhất là ban đầu, những người có kết quả trắc nghiệm là ít trung thực thường có nhiều hành vi  xấu hơn; tuy nhiên về sau, ngay cả những người lúc đầu có số điểm trung thực cao dần dần cũng không thể tránh khỏi tác động hủy hoại của quyền lực.
Antonakis kết luận, “Chúng tôi nghĩ rằng cơ chế quản lý chặt chẽ và tổ chức vững mạnh là chìa khóa cho việc giám sát lãnh đạo.” “Các tổ chức cần hạn chế khả năng “gặm nhấm” của người đứng đầu trước sức hấp dẫn của “hủ gạo” quyền lực.”

Đọc tiếp

Thứ Ba, 21 tháng 10, 2014

12 HỘI CHỨNG VÀ HOANG TƯỞNG TÂM THẦN KỲ LẠ NHẤT

1
Hội chứng Alice và xứ sở thần tiên


Hoang tưởng có thể xuất hiện với nhiều kích thước và hình dáng khác nhau, từ các giai đoạn ngắn cho tới những bệnh lý tâm thần nan y và toàn diện.
Tuy nhiên chúng dều có chung một đặc điểm: tách rời khỏi thực tế. Hoang tưởng không quan tâm tới lý lẽ và cũng chẳng chịu thua thực tế. Sau đây là 12 dạng hoang tưởng kỳ lạ nhất mà bạn từng nghe.

1. Hội chứng Alice và xứ sở thần tiên

Được đặt tện theo tiểu thuyết của Lewis Carroll, hoang tưởng này ảnh hưởng đến tri giác về không gian và thời gian. Người mắc phải thường thấy một số đồ vật trở nên nhỏ hơn hay lớn hơn so với trong thực tế. Họ cũng gặp khó khăn trong việc xác định thời gian.
Đây không nhất thiết phải là một dạng bệnh lý tâm thần, vì nó có thể là một hoang tưởng khá thông dụng mà chúng ta đôi khi có thể đã trải qua khi còn nhỏ hay thậm chí trước khi chúng ta rơi vào giấc ngủ. Thông thường, hoang tưởng này là do chứng đau nửa đầu gây nên, Lewis Carroll cũng mắc phải chứng này và có thể đã sử dụng nó để sáng tác truyện.

2. Hội chứng Cotard

Hay còn gọi là “Hội chứng Xác Chết Biết đi”, là khi người mắc phải tin rằng mình đã chết, không còn tồn tại hay mất hết nội tạng.
Thông thường, những bệnh nhân Cotard điển hình sẽ chối bỏ việc họ tồn tại, có nghĩa là họ cảm thấy rất khó chấp nhận thực tại. Họ trở nên thu mình với mọi người và có xu hướng không chăm sóc bản thân một cách kỹ càng.
Hoang tưởng này thường được nhận thấy nơi những người bị tâm thần phân liệt

3. Hoang tưởng Capgras

Dù cơ chế thần kinh tương tự như hội chứng Cotard, những người có hoang tưởng Capgras lại tin rằng những người xung quanh mình bị thay thế bởi những người giả mạo, tuy bề ngoài vẫn y chang nhưng lại là một con người khác.
Hoang tưởng này được đặt tên theo bác sĩ người Pháp, Joseph Capgras, người đầu tiên mô tả chứng bệnh trên. Capgras thường đi kèm với tâm thần phân liệt nhưng nó cũng có thể xảy ra dưới tác động của tổn thương não và suy giảm trí nhớ.

4. Cặp đôi điên loạn

Nó có nghĩa đen là “cơn điên được hai người cùng chia sẻ”, hay hơn nhiều so với tên gọi theo kỹ thuật “rối loạn loạn thần chia sẻ”.
Nó xảy ra khi hai người (hay nhiều hơn) sống gần nhau cùng có chung một hoang tưởng.

5. Thay thế suy nghĩ

Thay thế suy nghĩ là rối loạn mà người bệnh hoang tưởng rằng tư tưởng của mình không phải do mình làm chủ. Họ đôi khi sẽ nghĩ rằng có một người cụ thể “nhập” vào mình và vài lúc không biết mình từ đâu tới.
Hoang tưởng thay thế suy nghĩ thường là một triệu chứng của tâm thần phân liệt.

6. Hội chứng Paris

Hội chứng Paris là một trải nghiệm ngắn hạn tác động đến những khách du lịch tại Paris khi họ nhận thấy rằng Kinh đô Ánh sáng không lung linh như mong đợi. Họ có thể trải qua ảo ảnh, ảo giác, hoang tưởng bị hại và nhiều triệu chứng tâm thể khác.
Hội chứng Paris nghe cứ như một chuyện đùa, thế nhưng mỗi năm, có khoảng 20 khách du lịch người Nhật Bản được cho là phải nhập viện vì lý do trên. Vài người cho rằng chính sốc văn hóa là nguyên nhân của hiện tượng này, vì người Nhật thường đặc biệt lý tưởng hóa hình ảnh Paris.
Cách điều trị thông thường là đi về nhà.

7. Hội chứng Jerusalem

Paris không phải là nơi duy nhất khiến du khách gặp bệnh lý tâm thần. Một vài du khách sau khi viếng thăm Jerusalem có thể bị thành phố này ám ảnh.
Những người mắc phải hội chứng này thường bị lo âu, bắt đầu mang toga (trang phục truyền thồng Israel), tụng kinh và đọc lớn tiếng những câu trong Kinh Thánh. Một vài người thậm chí còn giảng đạo một cách dở tệ ở nơi công cộng. Theo ước tính, có khoảng 40 người phải nhập viện mỗi năm vì hội chứng này.
Cũng như hội chứng Paris, cách điều trị thường thấy là xách vali về nước.

8. Hội chứng Othello

Những người có hội chứng này thường tin rằng người yêu/ bạn đời đang “cắm sừng” mình, mặc dù chẳng hề có bằng chứng nào chứng minh chuyện đó.
Nó nặng nề hơn ghen tuông thông thường và người mắc chứng này thường có những suy nghĩ ám ảnh rất mạnh mẽ. Họ có thể liên tục kiểm tra, theo dõi, tra hỏi người yêu của mình rằng họ đã ở đâu, và trong những trường hợp trầm trọng, có thể dẫn đến bạo lực.

9. Hội chứng Ekbom

Đây là một dạng ác mộng. Với loại bệnh tưởng đặc biệt này, người mắc phải thường nghĩ rằng cơ thể mình bị ký sinh trùng xâm nhập
Việc họ liên hệ chuyên gia diệt trừ côn trùng và bác sĩ da liễu thay vì tâm lý gia hay nhà trị liệu không phải là chuyện hiếm thấy.
Hội chứng được đặt tên theo nhà thần kinh người Thụy Điển, Karl Axel Ekbom, người viết về rối loạn này vào những năm 30.

10. Hóa sói lâm sàng

Những người có chứng Hóa sói  Lâm sàng thường cho rằng mình có khả năng, hay đang trong tiến trình biến thành một loài động vật.
Họ không chỉ tin rằng bản thân đang biến thành sói. Theo những trường hợp đã được công bố, còn có người tin rằng mình đang hóa thành ếch, mèo, ngựa, chim, linh cẩu và thậm chí cả ong. Hội chứng này rất hiếm gặp.

11. Loạn trí nhớ sao chép

Hội chứng này có nguyên nhân từ tổn thương não, dẫn đến việc bệnh nhân tin rằng một địa điểm hay nơi chốn đã bị sao chép và/hoặc chuyển đến nơi khác.
Binh lính bị thương ở đầu có thể cho rằng bệnh viện nơi họ đang hồi phục nằm ở quê nhà của mình, dù thật sự nó nằm xa vạn dặm.
Hội chứng này có chung một số đặc điểm với hội chứng Cotard và Capgras, trong đó, con người, nơi chốn hay đồ vật sẽ bị thay thế hay biến đổi theo cách nào đó.

12. Hội chứng nhân đôi chủ thể

Nó xảy ra khi một đối tượng thật sự tin rằng họ có một bản sao với bề ngoài tương tự nhưng lại có nhân cách và một cuộc đời khác hẳn. Đôi khi bản sao đó có thể là một người hoàn toàn xa lạ, đôi khi đó có thể là một thành viên trong gia đình.
Trong một vài trường hợp, chủ thể có trở nên giận dữ với những người họ cho rằng đang đánh cắp bề ngoài của mình, điều này có thể dẫn đến việc tấn công về mặt thể lý hay tâm lý.
Dù rất hiếm gặp, hội chứng này thường được nhận thấy nơi những người có rối loạn lưỡng cực hay tâm thần phân liệt.

Hội chứng:                   Syndrome
Đau nửa đầu:               Migraines
Tâm thần phân liệt:       Schizophrenia
Triệu chứng:                Symptom
Bệnh tưởng:                 Hypochrondia
Rối loạn lưỡng cực:     Bipolar Disorder


http://www.spring.org.uk/2014/03/12-most-mind-blowing-mental-delusions-and-syndromes.php
Đọc tiếp

Chủ Nhật, 19 tháng 10, 2014

NHÂN VIÊN CÓ THÊM QUYỀN KIỂM SOÁT CÔNG VIỆC: MỌI NGƯỜI CÙNG THẮNG

0
Nhân viên-quản lý
Phần lớn nhân viên đều mong mình có thêm quyền kiềm soát trong công việc. Với một số người, đó có thể là được phép về sớm đón con, trong khi với một số khác là được phép làm những dự án mang tính thử thách nhiều hơn.
Một nghiên cứu vừa thực hiện tìm ra rằng, cho phép nhân viên đóng vai trò chủ động hơn trong việc điều chỉnh công việc có thể đem lại lợi ích cho cả hai phía, nhân viên và quản lý. Những thỏa thuận kiểu này được biết đến như các thỏa thuận “đặc biệt”

Một đội nghiên cứu quốc tế do Severin Hornung, ĐH Bách Khoa Hong Kong, dẫn đầu đã phát hiện rằng những người lao động có khả năng bàn luận những thỏa thuận trên với quản lý thường có nhiều phản ứng tích cực, bao gồm giảm căng thẳng, tăng động lực, và cảm thấy hào hứng hơn với công việc.

Các nhà nghiên cứu đã khảo sát 187 nhân viên y tế tại một bệnh viện xem liệu họ có thể đàm phán thành công thỏa thuận trên trong công việc được hay không. Các nghiệm thể được yêu cầu tự đánh giá 3 loại thỏa thuận “đặc biệt” khác nhau: điều chỉnh nhiệm vụ công việc trở nên thú vị hơn, tiếp cận những cơ hội thăng tiến chuyên môn, thu xếp thời gian làm việc linh động hơn.
Hornung và đồng sự đặt giả thuyết rằng những kiểu thỏa thuận này sẽ có những tác động khác nhau lên năng suất làm việc. Ví dụ, những nhân viên đề nghị có thời gian biểu linh hoạt sẽ có thể cảm thấy ít stress hơn vì họ được phép xử lý hiệu quả hơn những mâu thuẫn về thời gian giữa công việc và gia đình.
Để đo đạc xem liệu các thỏa thuận đặc biệt có tác động tích cực lên hiệu quả công việc hay không, các cấp quản lý của bệnh viện sẽ điền vào bảng lượng giá năng suất của từng người tham gia nghiên cứu.

Đúng như dự đoán, nghiên cứu cho thấy các thỏa thuận có liên hệ rõ ràng với những yếu tố tích cực trong công việc, và mỗi kiểu thỏa thuận ảnh hưởng đến hành vi theo những hướng khác nhau- dẫn đến những kết quả khác nhau trong công việc.

Ví dụ, các nhân viên đề nghị có quyền kiểm soát nhiệm vụ công việc nhiều hơn sẽ nhận đươc nhận xét về hiệu suất tốt hơn và cũng cảm thấy thích thú hơn với việc làm của mình. Trong khi đó, người lao động có giờ giấc làm việc linh động cho thấy có mức độ căng thẳng tâm lý và khó chịu về cảm xúc thấp hơn. Nhân viên đàm phán để có được nhiều cơ hội thăng tiến chuyên môn cho thấy mức độ tự lực và khả năng tiếp thu kỹ năng cao hơn.

“Thiết kế công việc và đàm phán các thỏa thuận “đặc biệt” đem lại những phương thế giúp nhân viên cảm thấy thỏa nãm và có động lực hơn trong công việc-đi kèm với những hiệu quả tích cực tiềm năng trong hiệu suất làm việc.” Hornung và đồng sự viết trong European Journal of Work and Organizational Psychology.
Nhóm nghiên cứu cũng cảnh báo rằng thỏa thuận đặc biệt cần được thực hiện một cách công bằng và phải tuân theo những chính sách cùng nội quy của tổ chức. Các thỏa thuận cần được thiết kế nhằm giúp nhân viên sắp xếp trách nhiệm công việc của mình sao cho phù hợp với những quyền lợi cá nhân, giúp nâng cao môi trường làm việc mà không cần phải luồn lách nhờ quen biết hay được “đối xử đặc biệt”

Hornung và đồng sự tìm ra rằng bên cạnh việc giúp nhân viên hạnh phúc hơn, các thỏa thuận đặc biệt cũng đem lại những lợi ích cho cấp quản lý và tổ chức, “Kết quả nghiên cứu cho thấy việc các thỏa thuận làm tăng mức độ phù hợp công việc-cá nhân nơi nhân viên cũng là nhân tố giúp mối quan hệ trao đổi cấp trên-cấp dưới thành công. Nó đem lại lợi ích cho tổ chức thông qua những tác động tích cực lên khả năng gắn bó, động lực, hiệu quả trong công việc cũng như trong môi trường của người lao động.

Tài liệu tham khảo
Hornung, S., Rousseau, D.M., Weigl, M., Müller, A., Glaser, J. (2013). Redesigning work through idiosyncratic deals. European Journal of Work and Organizational Psychology, 23(4), 608-626. DOI: 10.1080/1359432X.2012.740171

http://www.psychologicalscience.org/index.php/news/minds-business/everyone-wins-when-employees-have-more-control-at-work.html


Đọc tiếp

Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2014

NGHIÊN CỨU CHO THẤY CÁCH ĐIỀU TRỊ TỐT NHẤT CHO RỐI LOẠN LO ÂU XÃ HỘI

0
Rối loạn âu lo xã hội

Rối loạn ám sợ xã hội thường được điều trị với thuốc chống trầm cảm, tuy nhiên, đây lại không phải là phương pháp hữu hiệu nhất.
Nghiên cứu mới cho thấy Trị liệu nhận thức hành vi (CBT) có tác dụng tốt hơn, đồng thời lợi ích vẫn kéo dài sau khi điều trị ban đầu chấm dứt.

Nghiên cứu được xuất bản trên The Lancet Psychiatry đã phân tích 101 ca lâm sàng, trong đó xem xét nhiều loại dược phẩm và các phương pháp trị liệu bằng lời nói khác nhau đối với rối loạn lo âu xã hội (Mayo-Wilson et al., 2014). Rối loạn này nghiêm trọng hơn việc chỉ ngại ngùng, mắc cỡ, và cứ 8 người thì có 1 người được cho là bị chứng này ảnh hưởng.

Các tình huống thường xảy ra vào những thời điểm quan trọng trong đời sống của thân chủ, dẫn đến việc giảm thiểu đáng kể chất lượng cuộc sống.
Chủ nhiệm nghiên cứu, Evan Mayo-Wilson, cho biết: “Những người mang rối loạn này có thể phải chịu những thiệt thòi nghiêm trọng, từ việc lảng tránh bè bạn cho tới việc khước từ đề bạt trong công việc, những điều đòi hỏi khả năng tương tác xã hội nhiều hơn.
Tuy nhiên nghiên cứu của chúng tôi mang lại tin vui là lo âu xã hội hoàn toàn có thể chữa khỏi.
Giờ đây, khi biết được phương pháp nào là hiệu quả nhất, chúng ta cần nâng cao cơ hội tiếp xúc với tâm lý trị liệu nơi những người có rối loạn này.”
Nghiên cứu bao gồm tiến trình phân tích tổng cộng 13.164 nghiệm thể, tất cả đều bị lo âu xã hội nghiêm trọng và kéo dài.
Trong số đó, 9000 người được cho uống thuốc, bao gồm cả giả dược và thuốc chống trầm cảm thật, thông thường là SSRI (chất ức chế vịêc tái hấp thu có chọn lọc serotonin, tương tự Prozac hay Zoloft).
4000 người tham gia còn lại tiếp cận với trị liệu tâm lý.
Đôi khi, các phương pháp trị liệu bằng lời nói có phối hợp sử dụng thuốc chống trầm cảm, tuy nhiên trong nghiên cứu này, có rất ít các ca sử dụng kết hợp như thế.
Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng trị liệu tâm lý là phương pháp hiệu quả nhất.
Vì thế, đây nên là lựa chọn trị liệu hàng đầu.
Thuốc chống trầm cảm cũng có tác dụng nhưng lại đi kèm với tác dụng phụ và không có tác động trên một số cá nhân.
Quan trọng hơn, các ích lợi của hóa dược thường mất đi sau khi ngưng uống thuốc.
Mặt khác, tác dụng của trị liệu tâm lý vẫn tiếp diễn sau khi thân chủ ngưng điều trị.
Kết quả của nghiên cứu này ngay lập tức đem lại tác động khi một bản hướng dẫn điều trị đã được giới thiệu ở Vương quốc Anh.
Nó được kì vọng sẽ giúp thay đổi chính sách y tế ở Hoa Kỳ và các nước khác.
Mayo-Wilson kết luận:
“Tập trung nhiều hơn vào trị liệu tâm lý sẽ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, làm tăng năng suất nơi công sở, và giảm thiểu chi phí chăm sóc sức khỏe.
Hệ thống y tế chưa điều trị sức khỏe tâm thần một cách bình đẳng, tuy nhiên, việc đáp ứng các đòi hỏi này không chỉ đơn giản là bắt các công ty bảo hiểm chi trả cho dịch vụ tâm lý, [nó còn phức tạp hơn thế rất nhiều].”

Từ vựng

Rối lọan ám sợ xã hội:             Social Anxiety Disorder
Thuốc chống trầm cảm:           Antidepressants
Tâm lý trị liệu:                         Psychotherapy
Giả dược:                                 Placebo
Chất ức chế:                             Inhibitor
Tái hấp thu:                              Reuptake
Trị liệu bằng lời nói:                Talking therapy
Điều trị:                                    Treatment
Mất dần/ phai nhạt:                  Wear off
Bản hướng dẫn:                      Guideline
Năng suất/ sản lượng:             Productivity
Đọc tiếp

Thứ Năm, 16 tháng 10, 2014

BẠO HÀNH TÂM LÝ Ở TRẺ EM CÓ TÁC HẠI TƯƠNG ĐƯƠNG LẠM DỤNG THỂ CHẤT HAY TÌNH DỤC

0
Bạo hành lời nói

8/10/2014

Các trẻ em bị bạo hành và bỏ mặc cảm xúc thường phải đối mặt với những vấn đề sức khỏe tâm thần tương đương hay đôi khi nặng nề hơn những trẻ bị lạm dụng thể lý và tình dục. Tuy vậy, theo một nghiên cứu mới công bố bởi Hiệp hội Tâm lý Hoa kỳ (APA), bạo hành về tâm lý vẫn hiếm khi được đề cập trong các chương trình phòng tránh và trong việc điều trị cho các nạn nhân.

Chủ nhiệm nghiên cứu, TS. Joseph Spinazzola thuộc Trung tâm Sang chấn, Viện Nguồn lực Công lý, Brookline, Massachusetts, cho biết, “Với mức độ bạo hành tâm lý hiện nay cùng những tác hại nghiêm trọng lên các bạn trẻ, vấn đề này cần được đặt lên hàng đầu trong việc đào tạo huấn luyện dịch vụ xã hội và sức khỏe tâm thần.” Nghiên cứu sẽ xuất hiện trong ấn bản đặc biệt trên tạp chí Psychological Trauma: Theory, Research, Practice, and Policy® APA.

Các nhà nghiên cứu sử dụng Bộ Dữ liệu Mạng lưới Cốt lõi Stress Sang chấn Trẻ em để phân tích số liệu từ 5616 bạn trẻ trong quá khứ từ bị ít nhất một trong ba dạng bạo hành: ngược đãi tâm lý (bạo hành hay bỏ mặc cảm xúc),  lạm dụng thể lý và lạm dụng tình dục. Phần lớn các bạn (62%) đều từng bị ngược đãi tâm lý và gần ¼ (24%) các trường hợp chỉ bị duy nhất ngược đãi tâm lý. Trong nghiên cứu, bạo hành tâm lý được định nghĩa là khi người chăm sóc bắt nạt, đe dọa, kiểm soát cưỡng chế, lăng mạ nghiêm trọng, hạ nhục, đòi hỏi quá mức, lãng tránh và/hay cô lập trẻ.

Các bé bị bạo hành tâm lý thường bị lo âu, trầm cảm, có lòng tự trọng thấp, xuất hiện những triệu chứng stress sau sang chấn, có ý định tự tử với mức độ tương đương và, trong vài trường hợp, còn cao hơn các trẻ bị bạo hành thể lý và tình dục. Trong cả ba loại lạm dụng, ngược đãi tâm lý có liên hệ chặt chẽ nhất đến trầm cảm, rối lọan âu lo toàn thể, rối loạn lo âu xã hội, các vấn đề gắn bó và lạm dụng chất. Nghiên cứu còn cho thấy, ngược đãi tâm lý xuất hiện bên cạnh lạm dụng thể lý và tình dục có liên hệ với những hậu quả tiêu cực nghiêm trọng và rộng khắp hơn rất nhiều so với khi trẻ bị lạm dụng thể chất và tình dục mà không có ngược đãi tâm lý. Hơn nữa, đối với các vấn đề hành vi tại trường học, vấn đề gắn bó và hành vi tự hại, lạm dụng thể chất và tình dục phải cùng xảy ra trong một thời điểm để đạt được mức tác hại tương đương với một mình ngược đãi tâm lý.

“Vì không có các thương tổn thể lý, các nhân viên bảo vệ trẻ em có thể gặp nhiều khó khăn để nhận diện và xác nhận những trường hợp bạo hành và bỏ mặc cảm xúc” Spinazzola cho biết. “Đồng thời, nhiều người không xem bạo hành tâm lý như điều cấm kỵ xã hội giống lạm dụng tình dục và thể lý trẻ em. Chúng ta cần khơi gợi nhận thức của cộng đồng nhằm giúp mọi người hiểu được mức độ tác hại của việc ngược đãi tâm lý trẻ em và trẻ vị thành niên.”

Theo Cục Trẻ em Hoa Kỳ, hàng năm, gần 3 triệu trẻ em Hoa Kỳ từng trải qua một dạng ngược đãi tâm lý, đa phần là bởi cha mẹ, thành viên gia đình hay những người chăm sóc khác. Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ năm 2012 xem ngược đãi tâm lý là “dạng bạo hành và bỏ mặc trẻ em phổ biến và nguy hiểm nhất.”

Trong nghiên cứu trên, mẫu dân số gồm có 42% nam và 38% là da trắng; 21% người Mỹ gốc Phi; 30% người Hispanic; 7% các dân tộc khác; và 4% không xác định. Dữ liệu được thu thập từ năm 2004 đến năm 2010 với độ tuổi trung bình của trẻ khi bắt đầu nhập dữ liệu là từ 10-12 tuổi. Các nhà lâm sàng nói chuyện với trẻ, các em cũng trả lời bảng hỏi để xác định các triệu chứng sức khỏe về hành vi và các sự kiện sang chấn đã trải qua. Ngoài ra, người chăm sóc cũng điền một bảng hỏi với 113 mục có liên quan đến hành vi của trẻ. Từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm cả báo cáo của nhà lâm sàng, nhóm nghiên cứu thu nhận được lịch sử sang chấn của từng trẻ, trong đó có ngược đãi tâm lý, lạm dụng thể lý và lạm dụng tình dục.

Nghiên cứu: 
“Unseen Wounds: The Contribution of Psychological Maltreatment to Child and Adolescent Mental Health and Risk Outcomes,” Joseph Spinazzola, PhD, and Hilary Hodgdon, PhD, The Trauma Center at Justice Resource Institute, Brookline, Massachusetts; Li-Jung Liang, PhD, University of California, Los Angeles School of Medicine; Julian D. Ford, PhD, University of Connecticut Medical School; Christopher M. Layne, PhD, and Robert Pynoos, MD, National Center for Child Traumatic Stress, Los Angeles, and University of California, Los Angeles; Ernestine C. Briggs, PhD, National Center for Child Traumatic Stress, Durham, North Carolina, and Duke University School of Medicine; Bradley Stolbach, PhD, University of Chicago; Cassandra Kisiel, PhD, Northwestern Medical School, publication TBD, Psychological Trauma: Theory, Research, Practice, and Policy. 


Từ vựng
Lạm dụng/ bạo hành:              Abuse
Cảm xúc:                               Emotion
Hiệp hội Tâm lý Hoa kỳ:        American Psychological Association
Công bố/ xuất bản:               Publish
Ngược đãi:                            Maltreatment
Vấn đề gắn bó:                      Attachment problems
Hành vi tự hại:                       Self-injurious behavior


Đọc tiếp

Thứ Ba, 14 tháng 10, 2014

THỬ NGHIỆM NƠI CHUỘT CHO THẤY CÓ THỂ TÁC ĐỘNG TRÍ NHỚ BẰNG ÁNH SÁNG

0

đH CALIFORNIA DAVIS  9/10/2014
Các nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Khoa học Thần kinh và Bộ môn Tâm lý trường ĐH California-Davis (UC Davis) đã sử dụng ánh sáng để xóa bỏ một số ký ức cụ thể nơi chuột, họ cũng chứng minh một lý thuyết căn bản về cách thức những vùng não khác nhau cùng hoạt động để phục hồi trí nhớ tình tiết.
Thị giác di truyền là một kỹ thuật mới giúp kiểm soát và nghiên cứu các tế bào thần kinh sử dụng ánh sáng do Karl Diesseroth tại ĐH Stanford nghiên cứu dẫn đầu. Các kỹ thuật của thị giác di truyền nhanh chóng trở thành phương thức tiêu chuẩn để tìm hiểu về chức năng của não.
Kazumasa Tanaka, Brian Wiltgen và đồng nghiệp tai UC Davis đã ứng dụng kỹ thuật trên nhằm kiểm tra ý tưởng về hồi phục trí nhớ tồn tại đã lâu. Theo Wiltgen, khoảng 40 năm nay, các nhà khoa học thần kinh vẫn đặt lý thuyết rằng việc trích xuất ký ức – trí nhớ về những nơi chốn và sự kiện cụ thể- có liên hệ tới những hoạt động phối hợp giữa vỏ não và hồi hải mã, một cấu trúc nhỏ nằm sâu trong não.
“Lý thuyết cho rằng việc học tập có liên hệ đến sự hoạt động nơi vỏ não, và hồi hải mã sẽ tái lập mô hình hoạt động này khi trích xuất trí nhớ. Điều này cho phép bạn tái trải nghiệm sự kiện đó,” Wiltgen chia sẻ. Nếu hồi hải mã bị tổn thương, bệnh nhân có thể mất hàng chục năm ký ức.
Thế nhưng rất khó để kiểm chứng mô hình này một cách trực tiếp, cho đến khi kỹ thuật thị giác di truyền xuất hiện.
Wiltgen và Tanaka đã sử dụng chuột thí nghiệm được biến đổi gen để khi được kích hoạt, các tế bào thần kinh sẽ vừa phát ánh sáng xanh và vừa sản xuất ra protein làm các tế bào này ngưng hoạt động khi gặp ánh sáng. Nhờ vậy, các nhà nghiên cứu có thể theo dõi chính xác tế bào thần kinh nào trong vỏ não và hồi hải mã được kích hoạt trong tiến trình học tập và trích xuất trí nhớ, đồng thời họ cũng có thể “tắt” chúng bằng ánh sáng đi qua dây cáp quang.
Dây cáp quang gắn vào não chuột

Các nhà khoa học huấn luyện chuột bằng cách đặt chúng vào lồng và sốc điện nhẹ. Thông thường, chuột khi được đưa vào môi trường mới sẽ tìm hiểu và ngửi chung quanh. Nhưng khi đặt chúng vào những lồng đã bị sốc điện trước đó, chúng sẽ đứng yên tại chỗ dưới tác động của “phản ứng sợ”.
Tanaka and Wiltgen đầu tiên cho thấy họ có thể nhận diện những tế bào tham gia vào tiến trình học tập, đồng thời chứng minh rằng những tế bào đó được tái kích hoạt khi trích xuất ký ức. Sau đó, họ có khả năng dập tắt những tế bào thần kinh cụ thể trong hồi hải mã, và cho thấy chuột mất đi ký ức về những sự việc gây sợ hãi. Họ cũng minh chứng rằng việc dập tắt những tế bào khác trong hồi hải mã không tác động gì đến khả năng trích xuất những ký ức đó. Cuối cùng, họ cũng lần ra được những sợi thần kinh nối hồi hải mã với các tế bào riêng biệt trong vỏ não.
Wiltgen cho biết, “Vỏ não không thể thực hiện hoạt động này một mình, nó cần có thông tin từ hồi hải mã.” “Đây từ lâu đã là giả định căn bản của ngành và số liệu của Kazu đem đến chứng cứ minh chứng trực tiếp đầu tiên.”
Nhóm nghiên cứu đồng thời cũng có thể quan sát cách thức những tế bào cụ thể trong vỏ não liên kết với hạnh nhân, cấu trúc não liên quan đến cảm xúc và sản sinh phản ứng sợ.
Các đồng tác giả nghiên cứu còn có Aleksandr Pevzner, Anahita B. Hamidi, Yuki Nakazawa và Jalina Graham, tất cả đều thuộc Trung tâm Khoa học Thần kinh.

Từ vựng

Trí nhớ tình tiết/ giai đoạn:       Episodic memory
ThỊ giác di truyền                   Optogenics                 
Tế bào thần kinh                    Nerve cells
Nhà khoa học thần kinh         Neuroscientist
Vỏ não                                  Cerebral cortex
Hồi hải mã                             Hippocampus
Giả định                                 Assumption
Hạnh nhân                             Amygdala                              
Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter