Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015

TÁO HAY KEM? LÝ GIẢI CƠ CHẾ CỦA VIỆC ĂN UỐNG KHỎE MẠNH.

0
Làm sao ăn kiêng hiệu quả?

Bạn đang cố giảm cân nhưng cơn thèm ăn vẫn tấn công bạn vào buổi tối. Hãy tưởng tượng, bạn vào bếp, mở tủ lạnh, thấy táo và lê. Có thể bạn sẽ suy nghĩ một tẹo xem nên ăn cái nào, nhưng cũng chẳng phải là quá đau đầu để lựa chọn vì cả hai đều khá ngon và tốt cho sức khỏe.
Nhưng sẽ ra sao nếu trước mặt bạn là một quả lê và một ly kem sô-cô-la? Bây giờ bạn mới thật sự phải đưa ra lựa chọn, vì không còn đơn giản chỉ là…táo với lê nữa. Không có nghi ngờ gì, lê thì chắc chắn là tốt hơn cho sức khỏe nhưng vị ngọt và béo của kem lại chẳng buông tha bạn tí nào. Bạn đưa ra hàng tỉ các tiêu chí để so sánh cả hai và cuối cùng không biết phải quyết định ra sao.
Rất rất nhiều người đang cố ăn kiêng sẽ ngã lòng trước tình huống này. Và đó là lý do của tình trạng béo phì ở một bộ phận dân số hiện nay. Nhưng tại sao? Vì sao ngay cả khi chúng ta biết được lợi và hại, biết được rằng mình nên ăn cái gì thì việc ăn kiêng vẫn khó khăn đến thế? Và tại sao một số người lại có khả năng tự kiểm soát tốt hơn những người khác?
Nếu đơn giản chỉ nói là do có người có nhiều quyết tâm hơn người khác thì chẳng nói làm gì. Vậy tại sao họ lại có khả năng đánh giá tốt hơn? Điều gì xảy ra trong cấp độ nhận thức nền tảng nhất giúp đưa đến những quyết định chế độ ăn tích cực và tiêu cực?
Một nhóm các nhà khoa học tâm lý tại Caltech (Trường ĐH Công nghệ California) -- Nicolette Sullivan, Cendri Hutcherson, Alison Harris và Antonio Rangel – đã thử tìm lời giải đáp cho những câu hỏi trên bằng cách nghiên cứu những cơ chế nhận thức nằm bên dưới sự lựa chọn. Họ cho rằng có lẽ đường dẫn thần kinh về việc ra quyết định xử lý riêng rẽ từng đặc tính khác nhau của thức ăn. Cụ thể hơn, nhóm dự đoán rằng các đặc tính như mùi vị có thể được xử lý nhanh hơn những đặc tính trừu tượng như những lợi ích cho sức khỏe. Liệu một thứ căn bản như tốc độ xử lý có giúp giải thích những khó khăn trong việc tự kiểm soát chế độ ăn – và lý giải sự khác biệt trong ý chí của từng cá nhân?
Các nhà khoa học quyết định kiểm nghiệm ý tưởng này trong phòng thí nghiệm, sử dụng một công nghệ khá lạ. Họ yêu cầu các nghiệm thể đưa ra một loạt các quyết định “khó khăn” trong việc lựa chọn thức ăn – trái cây hay đồ ngọt. Trong lúc đó, nhóm sử dụng máy tính để theo dõi đồ thị của từng lựa chọn. Điều này cho phép nhóm nghiên cứu chỉ ra chính xác thời điểm mà mùi vị và suy nghĩ về lợi ích cho sức khỏe tham gia vào tiến trình ra quyết định. Các nhà khoa học đo đạc, đến từng phần ngàn giây, bất kỳ khác biệt nào về thời gian trong việc nghiệm thể đưa ra những cân nhắc, để tìm hiểu xem liệu việc được xử lý trước có giúp giải thích cho lý do tại sao mùi vị thường “thắng thế” trước sức khỏe khi chúng ta đưa ra lựa chọn.
Và theo như những gì mà bài báo trong tạp chí Psychological Science mô tả, dự đoán trên hoàn toàn chính xác.

Các nhà khoa học tìm ra rằng, trung bình một lượt lựa chọn, những đặc tính căn bản như mùi vị được xử lý nhanh hơn đặc tính về sức khỏe  khoảng 195 phần ngàn giây. Nghe có vẻ như chẳng là bao nhưng thật ra đó lại là một khoảng rất lớn khi tính đến việc lựa chọn tức thời. Thật vậy, khoảng cách trên có thể mang ý nghĩa là một số lựa chọn được đưa ra thậm chí cả trước khi những quan ngại về sức khỏe “bước” vào cuộc. Các nhà khoa học cũng tìm ra rằng những khác biệt về sự tự kiểm soát của từng cá nhân có liên hệ đến tốc độ mà mùi vị và quan tâm về sức khỏe được xử lý. Những lo lắng về sức khỏe càng đến chậm bao nhiêu so với mùi vị trong biểu đồ lựa chọn thì mức độ tự kiểm soát của cá nhân đó càng thấp.

Nếu việc chế độ ăn thất bại có nguyên nhân đến từ những khác biệt chi li về thời gian trong dẫn truyền thần kinh căn bản khi ra quyết định, đâu là những điều mà chúng ta cần rút ra? Nhìn chung, việc làm chậm các quyết định về chế độ ăn – đồng thời giảm phần thời gian dành cho việc đánh giá một mình mùi vị -- có thể dẫn đến những quyết định tích cực hơn. Tự kiểm soát có thể được cải thiện với những can thiệp giúp đẩy nhanh tốc tộ xử lý các thông tin sức khỏe. Ví dụ, trình bày các thông tin sức khỏe một cách nổi bật – như lượng calorie – có thể giúp xử lý nhanh hơn những thông tin trừu tượng, nhợ vậy những cân nhắc về sức khỏe có thể “ganh đua” hiệu quả hơn so với sự “quyến rũ” mãnh liệt và nhanh chóng đến từ mùi vị.

Béo phì có thể biểu hiện rõ mồn một trên từng cm lưng quần, nhưng các giải pháp về chế độ ăn có lẽ chỉ phụ thuộc vào từng phần ngàn giây khi ra quyết định.


Đọc tiếp

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2015

TẠI SAO MỘT SỐ NGƯỜI KHÔNG THÍCH ĐƯỢC ĐỘNG VIÊN?

0
Trợ giúp người đau buồn
Một nghiên cứu mới cho thấy, một số người khi cảm thấy buồn bã thường thích “tìm kiếm sự chấp nhận tiêu cực” (Negative validation)
“Tìm kiếm sự chấp nhận tiêu cực” là cho người khác biết rằng những cảm xúc mà chủ thể đang có là rất bình thường và hợp lý trong tình huống đó.
Những người có mức độ tự tín (self-esteem: tin tưởng vào khả năng hay giá trị của bản thân) thấp thường thích sử dụng cách an ủi này, trái ngược với việc người khác đang cố gắng làm họ vui lên.
Giáo sư Denise Marigold, người đứng đầu nghiên cứu, cho biết:
“Những người có mức tự tín thấp thường muốn những người thân cận nhìn họ như chính cách họ nhìn nhận bản thân.
Vì thế, họ thường phản đối việc bạn bè nhìn nhận họ theo cách tích cực, từ chối cái mà chúng tôi gọi là “thay đổi cách biểu đạt theo hướng lạc quan tích cực” cùng những khuyến khích cải thiện tình huống họ gặp phải.”
Những cách động viên tích cực trên là một phản ứng tự nhiên của con người nhằm cố gắng giúp đỡ “thay đổi” cách nhìn tình huống của một người đang gặp chuyện không vui.
Chúng ta sẽ muốn nhắc nhớ người kia về những khía cạnh tích cực trong cuốc sống và tình huống của họ.
Tuy nhiên, Giáo sư Professor Denise Marigold nói thêm:
“Nếu những nỗ lực chỉ ra ánh sáng của bạn vấp phải sự im lặng đến từ đám mây đen đang bao phủ người kia, những gì tốt nhất bạn có thể làm có lẽ chỉ là nhìn nhận những khó khăn họ gặp phải và bày tỏ sự đồng cảm.”
Đây có lẽ là lý do tại sao một số người cảm thấy rất khó khăn khi trợ giúp những người đang trầm uất.
Họ cảm thấy những cách thế thông thường họ đối diện với nỗi buồn-cố gắng động viên ai đó vui vẻ-  không còn hiệu lực nữa.
Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã ứng dụng những kịch bản giả thuyết, tương tác trong phòng thí nghiệm cùng nhiều ví dụ thực tế đời sống về các cách hỗ trợ mà chúng ta có thể nhận được.
Nhóm tìm ra rằng một số người nhận thấy việc giúp đỡ những người có mức tự tín thấp là cực kỳ khó khăn.
Không những chiến lược “động viên” của họ thất bại mà chính họ còn cảm thấy bản thân và mối quan hệ trở nên tệ hơn trước.
Như vậy, nên sử dụng đúng kiểu trợ giúp tương ứng với kiểu người phù hợp.
Những người có mức tự tín cao không hề cảm thấy “phiền toái” khi được động viên, tuy nhiên kiểu người ngược lại thì thường thích cách tiếp cận mang tính thấu cảm nhiều hơn.
Nghiên cứu được xuất bản trên the Journal of Personality and Social Psychology (Marigold et al., 2014).



Đọc tiếp

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2015

TRẺ VỊ THÀNH NIÊN VÀ CÂU HỎI VỀ 3 ĐIỀU ƯỚC

0
Ước muốn của các bạn tuổi dậy thì

Việc hiểu được suy nghĩ của trẻ vị thành niên không hề dễ dàng tí nào. Tuy nhiên, một nghiên cứu cho thấy chỉ cần đơn giản hỏi các bạn tuổi dậy thì về ước mơ của các bạn thôi cũng đã đem lại một góc nhìn vô cùng mới mẻ.
Câu hỏi: “Nếu bạn có ba điều ước, bạn sẽ ước gì?” là một trong những câu hỏi nằm trong bản hỏi được thiết kế để đưa cho các bệnh nhân tuổi dậy thì trước khi các bạn đến bác sĩ khám bệnh. Là một phần trong chương trình Hướng dẫn Các Dịch vụ Phòng bệnh cho Trẻ Vị Thành niên, khảo sát trên còn bao gồm những câu hỏi về lịch sử y khoa, sức khỏe, trường lớp, tính an toàn và việc sử dụng chất.
Các tác giả đã phân tích chủ đề những câu trả lời của 110 bệnh nhân vị thành niên tuổi từ 11 đến 18 về 3 điều các bạn muốn ước. Nhóm nghiên cứu cũng tìm hiểu xem các chủ đề đó liên quan như thế nào tới độ tuổi, giới tính, thu nhập gia đình, hoàn cảnh chủng tộc/sắc tộc của các bạn.
Kết quả cho thấy 85% các bạn tuổi dậy thì ước những điều ước cho bản thân mình, 32% ước cho người khác và 10% ước cho cả bản thân và người khác. Các bạn nam thường ước những điều dành riêng cho bản thân nhiều hơn các bạn nữ (73% so với 46%), trong khi đó, các bạn nữ thường dành điều ước cho gia đình nhiều hơn các bạn nam (26% so với 9%).
“Dù chúng ta có thể đoán trước được đa số các điều ước, một số điều ước đau buồn như ‘Em ước mẹ em khỏe hơn’ giúp nhắc nhớ chúng ta về giá trị của việc đặt những câu hỏi như thế này,” Bác sĩ – Thạc sĩ Y tế Công cộng – Nghiên cứu sinh thuộc Viện Hàn lâm Nhi khoa Mỹ Eliana M. Perrin, tác giả nghiên cứu, cho biết.
Những chủ đề thường thấy nhất là ước được giàu có (41%), sau đó là ước được một món đồ gì đó như trò chơi điện tử hay xe hơi (31%). 20% các bạn vị thành niên dành điều ước cho thế giới (như hòa bình thế giới), và 17% ước mong cho gia đình, trường học hay thành công về mặt thể thao (như trở thành cầu thủ bóng rổ chuyên nghiệp).
Các bạn nam thường ước mong thành công trong khi các bạn nữ lại mong ước hạnh phúc nhiều hơn.
“Khác với những gì chúng tôi nghĩ khi bắt đầu nghiên cứu, chỉ 8% trẻ dậy thì có những mong ước về bề ngoài của mình, trong đó chỉ 4% mong mình ốm hơn,” BS Perrin cho biết.
Không có khác biệt trong các điều ước giữa những độ tuổi hay chủng tộc khác nhau, tuy nhiên, trẻ thuộc diện bảo hiểm tư lại hay ước về hòa bình thế giới hơn trẻ thuộc diện bảo hiểm công.
BS. Perrin chia sẻ, “Chúng ta thường hiếm khi nào tìm hiểu kỹ những điều ước của trẻ vị thành niên, nghiên cứu cùng bản sàng lọc này nhìn chung đã đem đến cho các bạn một tiếng nói. Tìm hiểu xu hướng điều ước qua nhiều thời kỳ có thể giúp định hình chính sách và giáo dục cho các bạn tuổi vị thành niên.”
Chủ nhiệm nghiên cứu Josh P. Boyd cho biết, “Thông qua nghiên cứu này, tôi nhận thấy rằng việc cho trẻ vị thành niên cơ hội để mô tả bản thân cùng những mục tiêu tương lai mang những giá trị lâm sàng rất quan trọng, đặc biệt là với những vấn đề về sức khỏe mà các bạn đang phải đối mặt.”
Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu, còn bao gồm TS. Asheley Skinner, BS. Michael Steiner và BS. Tamera Coyne-Beasley, cũng có dự định tiến hành một nghiên cứu bổ trợ nhằm xác định xem liệu có hay không mối dây liên hệ giữa những điều ước và các vấn đề về sức khỏe.


Đọc tiếp

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2015

NHÂN VIÊN CAO TUỔI VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRONG TUYỂN DỤNG

0
Người lao động cao tuổi và tuyển dụng

Theo một nghiên cứu mới do Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ, trong môi trường làm việc, tuổi tác rất quan trọng – tuy nhiên, việc tuyển dụng hay đề bạt dựa trên những khả năng tinh thần có liên quan đến tuổi tác lại mang đến nguy hiểm khôn lường.

Những nhân viên có thâm niên thường có nhiều kĩ năng rất quý giá, ví dụ như có “trí tuệ kết tinh” (crystallized intelligence) cao hơn, trong đó bao gồm khả năng ngôn ngữ cùng những kiến thức được đúc kết từ kinh nghiệm. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho thấy, khi so sánh với những đồng nghiệp trẻ tuổi hơn, nhân viên cao tuổi thường có những dấu hiệu giảm sút về “trí tuệ lỏng” (fluid intelligence), bao gồm khả năng lý luận.

“Chúng tôi nhận thấy những nhân viên lớn tuổi thường thực hiện không tốt các trắc nghiệm về khả năng tinh thần tổng quát cũng như các trắc nghiệm về hình dung và lý luận quy nạp, đó là những trắc nghiệm giúp đánh giá trí tuệ lỏng,” nhà nghiên cứu Rachael M. Klein, nghiên cứu sinh tại ĐH Minnesota, cho biết. “Với số lượng người lao động cao tuổi trong lực lượng lao động cùng với những trường hợp phân biệt đối xử do tuổi tác đang tăng lên, việc người lao động cần chú ý để biết được mình đang thực hiện loại trắc nghiệm khả năng nhận thức nào ngày càng trở nên rất quan trọng.”

Bài báo liệt kê một số các nghiên cứu được thiết kế nhằm đo lường khả năng tinh thần tổng quát của người lao động cao tuổi. Một nghiên cứu trong đó lấy mẫu gồm 3375 ứng viên xin vào những công việc cấp quản lý – các vị trí phó giám đốc hay quản lý về các lĩnh vực chuyên môn, kỹ thuật, sản xuất và bán hàng. Độ tuổi của ứng viên trải dài từ 20 đến 74 tuổi vào thời điểm tuyển dụng. Các ứng viên hoàn thành các trắc nghiệm tâm lý được chuẩn hóa như một phần của một bộ trắc nghiệm về quản lý và chuyên môn.

Cả hai trắc nghiệm về khả năng nhận thức lỏng và kết tinh đều được thực hiện. Theo TS. Deniz S. Ones, đồng tác giả nghiên cứu, khả năng giải quyết vấn đề dựa trên trí tuệ lỏng không hẳn phụ thuộc vào việc học tập, nhưng lại tùy thuộc vào khả năng lý luận trừu tượng. Trong một trắc nghiệm giúp đo lường trí tuệ lỏng, ứng viên được yêu cầu lựa chọn bức hình phù hợp nhất trong tổng số bốn bức hình để khớp với hình mẫu. Việc đạt được điểm số cao trong kiểu trắc nghiệm thường được sử dụng trong tuyển dụng này cho thấy ứng viên có kỹ năng lý luận phân tích và phi ngôn ngữ cao hơn. Một trắc nghiệm trí tuệ lỏng khác bao gồm việc cho ứng viên xem qua một loạt các chữ cái và yêu cầu họ chọn nhanh các chữ nào giúp hoàn thành câu bị bỏ trống. Ones cho biết “Khả năng nhận thức kết tinh đại diện cho kiến thức ứng viên thu thập được”. Để đo khả năng này, ứng viên thường làm một trắc nghiệm về từ vựng.

Các nhà nghiên cứu phát hiện, ở độ tuổi dưới 30, khả năng tinh thần tổng quát thường giảm dần theo tuổi tác chậm hơn so với các nhóm trên 59. “Trên 59 tuổi, điểm trắc nghiệm trung bình cho nhóm người cao tuổi sẽ giảm nhanh hơn khi tuổi tác của họ tăng lên.”

Về phương diện trí tuệ kết tinh, người lớn tuổi thường có điểm số trung bình cao hơn người trẻ. Tuy nhiên, theo nghiên cứu, khả năng lỏng sụt giảm nhanh chóng khi chúng ta già đi, trong khi khả năng lý luận quy nạp cũng có chiều hướng tương tự. Các nhà nghiên cứu cũng tìm được kết quả tương tự khi thực hiện trên các nhóm mẫu lớn và phổ quát hơn.

Các kết quả trên cần được các cấp quản lý sử dụng để giúp họ tránh việc phân biệt đối xử qua tuổi tác. “Với những khác biệc trong tuổi tác mà chúng tôi tìm thấy, các tổ chức nên cẩn trọng khi sử dụng một số trắc nghiệm về lý luận quy nạp,” TS Stephan Dilchert, tác giả nghiên cứu cho biết. “Việc tuyển dụng hay đề bạt mà chỉ dựa trên những yếu tố này sẽ làm tăng tỉ lệ các ứng viên trẻ được lựa chọn so với các ứng viên có thâm niên.”

Các tác giả kết luận, những nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào cách thức tối ưu giúp người lao động lớn tuổi chuyển sang các vị trí hay ngành nghề mới. Klein cho biết, “Cần thêm các nghiên cứu giúp nâng cao hiệu quả huấn luyện cho những nhân viên cao tuổi đang học những kỹ năng công việc mới có liên quan đến vị trí hay ngành nghề hiện tại của họ.”

Bài báo: “Cognitive Predictors and Age-Based Adverse Impact Among Business Executives,” by Rachael M. Klein, University of Minnesota; Stephan Dilchert, PhD, Baruch College, The City University of New York; Deniz. S. Ones, PhD, University of Minnesota; and Kelly Dages, PhD, General Dynamics Information Technology. Journal of Applied Psychology, published online Mar. 30, 2015.


http://www.apa.org/news/press/releases/2015/04/older-workers.aspx
Đọc tiếp

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2015

MUỐN HẠNH PHÚC? CHỈ CẦN THAY ĐỔI DÁNG ĐI!

0
Bước đi để hạnh phúc
Ai cũng biết, khi chúng ta vui, cách chúng ta bước đi phản ánh rõ điều chúng ta cảm nhận: nhún nhảy một ít, vai hơi nghiêng ra sau và hai tay đung đưa qua lại trông rất phong cách.
Đôi khi, chỉ cần thông qua dáng đi của chúng ta, người khác có thể nhận thấy cảm giác vui vẻ của bạn còn rõ hơn chính bạn nữa.
Một nghiên cứu mới cho thấy điều này cũng đúng theo chiều ngược lại: những người bắt chước dáng đi vui vẻ, thậm chí dù cho họ không nhận thức được điều đó, cũng sẽ thấy bản thân hạnh phúc hơn (Michalak et al., 2015).

Những người tham gia sau khi xem qua một danh sách những từ tích cực và tiêu cực được yêu cầu bước đi trên một máy chạy bộ.

Khi đó, dáng đi và tư thế của các nghiệm thể sẽ được liên tục ghi nhận và phản hồi lại cho các nghiệm thể thấy trên màn hình đặt phía trước họ.

Trên màn hình đó, họ phải cố di chuyển một thanh chắn về chiều này hay chiều kia bằng cách thay đổi dáng đi của mình.
Có thể họ không nhận ra nhưng đi bộ với dáng đi “vui vẻ” sẽ khiến thanh chắn di chuyển theo một chiều và đi bộ với dáng vẻ “sầu não” sẽ khiến thanh chắn theo chiều còn lại.
Nikolaus Troje, đồng tác giả của nghiên cứu, giải thích:
“Họ (những người tham gia) sẽ học cách đi mà chúng tôi muốn họ đi một cách rất nhanh chóng.”
Sau đó, các nghiệm thể được yêu cầu viết lại càng nhiều càng tốt những từ tích cực và tiêu cực mà họ được đọc ban đầu.
Những người bước đi theo kiểu “vui vẻ”, “nhún nhảy” thường nhớ nhiều từ tích cực hơn, điều này có thể liên hệ đến việc họ cảm thấy hạnh phúc hơn.
Nghiên cứu cũng cho thấy những người bước đi một cách “uể oải”, “buồn chán” sẽ nhớ nhiều từ tiêu cực hơn.
Những kết quả này gắn chặt với nghiên cứu trên người trầm cảm: những người trầm cảm thường có xu hướng ghi nhớ những sự kiện tiêu cực nhiều hơn những sự kiện tích cực.
Khuynh hướng trên xuất hiện như một phần của vòng tròn luẩn quẩn kéo dài trạng thái trầm cảm.
Troje cho biết thêm:
“Nếu bạn có thể phá vỡ vòng tròn dai dẳng đó, bạn sẽ có một công cụ trị liệu hết sức mạnh mẽ để làm việc với những thân chủ trầm cảm.”
Vì thế, mún hạnh phúc, hãy nghiêng vai ra sau, đong đưa tay và để người bạn lắc lư một ít!


Đọc tiếp

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

HAI MẶT CỦA SỰ THA THỨ

0
Tha thứ và hòa giải
Tha thứ vẫn thường được xem như là một cách phản ứng phù hợp về đạo đức và khỏe mạnh về tâm lý khi ta phải đối mắt với những ngược đãi, đau khổ. Nghiên cứu cho thấy những người hay tha thứ thường hạnh phúc và khỏe mạnh hơn những người mang thù hận. Ngoài ra, những can thiệp giúp đem lại sự tha thứ cũng cho thấy làm giảm các phản ứng stress, gia tăng sự lạc quan và tạo điều kiện cho việc hòa giải.
Định nghĩa của sự tha thứ khá đa dạng nhưng đa phần đều nói đến hai yếu tố then chốt: 1) chủ ý để những cảm xúc tiêu cực như giận dữ và thù hận đối với người khác qua đi, và 2) chủ ý xây dựng những cảm xúc tích cực như lòng nhân ái và từ tâm đối với những người gây ra tội lỗi. Một số định nghĩa khác còn bao gồm việc tìm cách tiếp xúc thay vì né tránh người gây ra đau khổ cho bạn.
Những người ủng hộ xu hứng tha thứ thường nhấn mạnh rằng tha thứ không phải là bào chữa hay dung túng cho một lỗi lầm, nó cũng không phải là đẩy bản thân vào thế nguy hiểm một lần nữa. Ủng hộ quan điểm này, một số nghiên cứu cho thấy tha thứ có thể ngăn cản người phạm tội tái phạm. Trong một chuỗi các nghiên cứu, những người tham gia cho biết họ thường ít khi lặp lại cùng một lỗi lầm đối với một người lạ nếu họ được tha thứ, trái ngược hoàn toàn với khi người lạ đó không tha thứ cho họ. Trong một chuỗi các nghiên cứu khác, kết quả tương tự cũng được đúc kết từ những cặp đôi đã kết hôn.
Theo một nghiên cứu trên Psychological Science, tha thứ và ký ức có mối liên hệ mật thiết với nhau. Khi nạn nhân tha thứ cho người làm lỗi, họ thường dễ kiềm nén trí nhớ hơn. Nhưng nếu không thể tha thứ, họ thường gặp khó khăn hơn trong việc đè nén những ký ức không mong muốn. Hơn thế, khả năng lãng quên những ký ức khó chịu có liên hệ đến hành vi tha thứ thật sự chứ không chỉ là xu hướng tử tế nhã nhặn mà thôi.
Một số người còn cho rằng tha thứ giúp ngăn ngừa sự tái phạm vì luật nhân quả, một hành động tốt (như việc tha thứ) sẽ sinh ra một hành động tích cực (như việc tránh tái phạm). Tuy nhiên, một số khác lại phản bác rằng hành động tốt do tha thứ có thể sẽ tạo ra một hành vi tích cực khác nhưng không liên quan trực tiếp đến lỗi lầm đó
Thực tế, một nghiên cứu cho thấy sự tha thứ trong vài trường hợp có thể làm tăng khả năng tái phạm. Một nghiên cứu chiều dọc trên các cặp mới kết hôn cho thấy, trong 4 năm, những người vợ/ chồng nào sẵn sàng thể hiện sự tha thứ nhiều hơn thường cảm nhận nhiều sự hung hăng cả về thể chất lẫn tinh thần từ người còn lại. Trong khi đó, những người ít tha thứ hơn cho biết họ quan sát thấy mức độ hung hăng có xu hướng giảm thiểu. Những nghiên cứu liên quan còn cho thấy những người hay tha thứ thường dễ cảm thấy mức độ hài lòng với mối quan hệ có chiều hướng đi xuống  nếu người còn lại thường xuyên thực hiện các hành vi tiêu cực, đồng thời sự tha thứ cũng có thể bào mòn lòng tự trọng của người tha thứ nếu người còn lại không cải thiện đúng mức. Hơn nữa, trong một nghiên cứu ghi chép thường nhật, sau khi vừa mới tha thứ, vào những ngày sau đó, vợ/ chồng thường hay cho mình là nạn nhân của một tội lỗi nhiều hơn khi so sánh với những ngày khác.
Tại sao tha thứ có thể không làm giảm các hành vi tiêu cực?
Theo lý thuyết về học tập tạo tác, con người thường hiếm khi thực hiện những hành vi tiêu cực nếu những hành vi đó đem lại những hậu quả xấu. Bằng cách làm nhẹ bớt những hệ quả xấu như chỉ trích hay cách ly, hành động tha thứ có thể làm mất đi một động cơ quan trọng khiến người phạm tội phải thay đổi. Ủng hộ quan điểm này, một nghiên cứu cho thấy việc thể hiện sự giận dữ và chỉ trích có liên hệ với việc một người sẵn sàng thực hiện những thay đổi tích cực.
Một ít giận dữ có thể mang lại lợi ích cho người bị hại khi chúng giúp họ tránh xa những người mang nguy cơ “tiềm tàng”. Điều này đặc biệt quan trọng trong trường hợp bạo hành trong gia đình, khi việc cho người chồng/ vợ bạo hành một cơ hội thứ hai đồng nghĩa với việc người bị hại mạo hiểm với sức khỏe và tính mạng của mình. Mặc dù tha thứ không nhất thiết đi kèm với hòa giải, nghiên cứu cho thấy những người sẵn sàng tha thứ cho vợ/ chồng mình thường dễ dàng tiếp tục mối quan hệ hơn.
Tha thứ cũng có thể có những mặt trái của nó khi động chạm đến những vấn đề bất công xã hội. Một số nghiên cứu cho thấy việc khuyến khích các thành viên của một nhóm “bất lợi” tha thứ cho một nhóm “kì thị” hay làm hại họ có thể làm giảm động lực việc đề cập đến những bất công đó. Trong một nghiên cứu, những người thổ dân Úc Châu được khuyến khích nghĩ về những bất công họ phải chịu theo hướng cổ vũ sự tha thứ thường cho thấy ít có mong muốn tham gia vào những hoạt động tập thể đại diện cho nhóm thiểu số của mình – hoạt động này bao gồm cả việc sẵn sàng tham gia vào những buổi tuần hành ôn hòa với mục đích nâng cao vị thế của họ và giành thời gian trợ giúp người dân trong cộng đồng thiểu số đó.
Tha thứ có thể giúp chế ngự những mong muốn trả thù hay phục hận, nhưng nó cũng làm giảm cảm giác giận dữ và thất vọng, những điều có thể đưa đến việc thay đổi xã hội mang tính xây dựng. Những nỗ lực thúc đẩy sự tha thứ đối với bất công trong quá khứ và hiện tại chỉ có thể đạt được hiệu quả cao nhất khi kết hợp với những cố gắng mạnh mẽ tương đương nhằm đạt đến công lý.
Khả năng tha thứ giúp nâng cao hay ngăn cản thay đổi tích cực, dù là trong mối quan hệ gia đình hay trên một phạm vi lớn hơn, đều tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm mức độ nghiêm trọng của sai phạm, số lần tái phạm, cùng những cố gắng sữa chữa từ phía gây ra hậu quả. Nếu lỗi lầm là quá lớn, xảy ra nhiều lần hay kéo dài, đồng thời người phạm tội không chịu nhận trách nhiệm hay ra sức thay đổi hành vi, sự tha thứ khó có khả năng tạo ra những thay đổi tích cực và đôi khi có thể đẩy nạn nhân vào thế nguy hiểm một lần nữa.
Đối với nhiều người, tha thứ có thể mang lại an bình và thư thái, nhưng với nhiều người khác, chưa chắc đó là giải pháp tối ưu. Những cách khác giúp đối đầu với việc bản thân bị hại mà không cần phải tha thứ bao gồm luyện tập khả năng tử tế với chính mình (nhận ra bất công mình phải chịu và đối xử tử tế với bản thân), mindfulness (cho phép bản thân được tổn thương và giận dữ), và nối kết với những nạn nhân khác. Đôi khi cho phép bản thân không tha thứ—nếu bạn không thấy mình làm trái lương tâm—cũng giúp giải phóng bạn như chính việc thứ tha.

https://www.psychologytoday.com/blog/in-love-and-war/201407/does-forgiveness-have-dark-side
http://www.psychologicalscience.org/index.php/news/were-only-human/the-psychology-of-forgiving-and-forgetting.html

Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter