Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014

KHOA HỌC VỀ ĐIỀU TRA: CẦN MỐI QUAN HỆ CHỨ KHÔNG CẦN TRA TẤN

0
Tra hỏi
12/11/2014 11:46 am Wray Herbert 

Nhiều người hiện vẫn tin rằng tra tấn thật sự có tác dụng. Những ngày vừa qua, khi bản báo cáo của Ủy Ban Tình báo Quốc hội Hoa Kỳ về các chương trình điều tra của CIA làm dậy sóng dư luận, Chris Matthews, người dẫn chương trình Hardball trên kênh MSNBC, đã cho rằng tuy những phương pháp “tra hỏi nâng cao” có thể bất hợp pháp và vô đạo đức, nhưng nó vẫn hiệu quả trong việc khai thác thông tin từ đối phương. Ý của ông là, dù bạn thích hay không, những phương pháp này vẫn có hiệu quả.

Tuy nhiên, không phải vậy. Matthews đã sai lầm ở điểm này. Có lẽ sẽ là thiếu công bằng nếu chỉ ra đơn cử mình Matthews vì ông không phải là người duy nhất tin tưởng rằng nếu bạn làm đau người khác đủ đến một mức nào đó, họ sẽ nói ra sự thật. Rất nhiều người Mỹ (và công an, cảnh sát ở các quốc gia khác) vẫn giữ niềm tin sai lầm này. Thực tế, có một lượng lớn dữ liệu khoa học cho thấy các hình thức tra hỏi bạo tàn không đem lại nguồn tình báo hiệu quả nào cả. Thật ra, kiểu tra hỏi này thường dẫn đến chống đối và khai man nhiều hơn.

Tuy vậy, vẫn có những kỹ thuật khác đem lại hiệu quả và minh chứng cho thấy không quá khó để thực hiện. Đa phần các kỹ thuật này được tóm tắt trong báo cáo của Nhóm Tra khảo Phạm nhân Có Giá trị (High Value Detainee Interrogation Group – HIG), nhóm này đã làm việc suốt 4 năm để tạo ra một ngành khoa học về thu thập tình báo. Kết hợp với nhà khoa học tâm lý Christian Meissner của ĐH Texas El Paso, nhóm nghiên cứu đã tiến hành những nghiên cứu thực địa lẫn thực nghiệm với mục tiêu phát triển các kỹ thuật tra hỏi dựa trên bằng chứng. Các kết quả nghiên cứu có thể được tham khảo ở 2 đường dẫn 1 và 2.

Sau đây là một số thông tin về HIG. Năm 2006, Ủy Ban Khoa học Tình báo đã tìm hiểu những bằng chứng khoa học hiện tại về việc tra hỏi, và về căn bản là không có gì cả. Kết luận bất ngờ và đáng báo động này yêu cầu chính phủ phải điều tra các kỹ thuật tra hỏi nào là đạo đức và hiệu quả. Điều này đưa đến một mệnh lệnh trực tiếp thi hành, ban bố bởi Tổng thống Obama ngay từ đầu nhiệm kỳ thứ nhất của mình, thành lập HIG, mà trong đó bao trùm Lầu Năm Góc, CIA và FBI. HIG bắt đầu chương trình nghiên cứu 12 triệu USD trong vòng 5 năm để thực hiện nhiệm vụ, và Meissner trở thành trưởng ban điều tra.

Công trình khoa học của HIG hoàn toàn công khai và được đánh giá đồng đẳng, đồng thời nó cũng là đối tượng của tất cả các giám sát đạo đức thông thường. Nhiệm vụ của nó khá lớn và phạm vi phát hiện trải rộng nhiều khu vực có liên hệ đến việc tra hỏi. Nhưng mối quan tâm chính yếu vẫn là – nó có hiệu quả hay không? – các kết quả rất rõ ràng. Những điểm chính là:

Xây dựng tương quan có hiệu quả. Laurence Alison thuộc ĐH Liverpool, Anh Quốc, đã  nghiên cứu trên mẫu lớn các băng hình những buổi tra hỏi với các nghi can khủng bố - bao gồm một số liên hệ đến al_Qaeda - ông nhận thấy chến lược hiệu quả nhất là thể hiện sự thấu cảm, thái độ chấp nhận và cho phép nghi can tự chủ. Khi người điều tra sử dụng chiến lược tạo quan hệ này, nghi can sẽ giảm thiểu các chiến lược phản tra hỏi của chúng - ví dụ, im lặng, trả lời theo kịch bản - và sẽ cung cấp nhiều thông tin hữu ích hơn. Nhà khoa học Melissa Russano thuộc ĐH Roger William đã phỏng vấn nhiều điều tra viên có kinh nghiệm - kinh nghiệm trong cả việc thẩm vấn những mục tiêu “có giá trị” - họ đều xác nhận tầm quan trọng của mối quan hệ.

Các chiến lược Kiểm soát không hiệu quả. Meissner và đồng nghiệp đã so sánh tính hiệu quả của kỹ thuật xây dựng tương quan với các kỹ thuật dựa trên việc kiểm soát - những kỹ thuật tiêm nhiễm sự sợ hãi, khuếch đại việc buộc tội cùng các hình phạt tương lai. Các kỹ thuật kiểm soát - lấy từ trong các sổ tay hướng dẫn thực địa của Quân đội - làm gia tăng sự lo âu, tuy nhiên các kỹ thuật bổ trợ thì lại giúp đem đến các phản ứng tích cực và thông tin có chất lượng cao hơn. Các nghiên cứu khác đã minh chứng một cách thuyết phục rằng các phương pháp buộc tội - làm tăng lo lắng và căng thẳng cùng việc sử dụng những chứng cứ giả tạo - thường đem lại các lời thú tội sai sự thật. Những tìm hiểu khác phát hiện khi người điều tra cố gắng xác nhận những giả định của họ về tội lỗi của phạm nhân, họ thường dùng các phương pháp cưỡng chế, khiến những người vô tội thường phát biểu sai sự thật.

Các chiến lược phát hiện nói dối. Nhà khoa học tâm lý Aldert Vrij đã tìm hiểu các kỹ thuật tra khảo giúp phân biệt người nói thật và người nói dối. Ví dụ, một phát hiện cho thấy người nói dối thường chuẩn bị cho các cuộc tra khảo bằng cách luyện tập những câu trả lời từ trước đối với những câu hỏi họ nghĩ mình sẽ gặp phải. Người thẩm vấn có thể lật tẩy chúng bằng cách hỏi những câu hỏi bất ngờ. việc phải tạo ra các câu trả lời “hợp lý: ngay lập tức khiến người nói dối bị “quá tải tư duy”, điều này ảnh hưởng rõ ràng đến chất lượng của câu trả lời. Vrij và cộng sự đã cho thấy tính hiệu quả của chiến lược trên cùng những chiến lược nhận thức khác giúp phát hiện gian dối.

Hãy kể chuyện cho tôi. Một vài chứng cứ mới vừa xác nhận những điều mà các chuyên gia ngoài đời thực đã phát hiện qua thực hành. Ví dụ, nhà khoa học Par Anders Granhag thuộc ĐH Gotherburg, Thụy Điển, đã nghiên cứu kỹ thuật được một trong những nhà điều tra nổi tiếng nhất thế giới từng sử dụng, Sĩ quan Không quân Đức Hans Scharff trong Thế Chiến thứ Hai. Scharff là bật thầy trong việc tra hỏi qua trò chuyện. Thật vậy, thay vì đưa ra các câu hỏi yêu cầu câu trả lời, ông kể những câu chuyện dài dòng, loanh quanh và rất phức tạp. Cách kể chuyện này tạo ra ảo tưởng rằng Scharff đã biết hết mọi thứ, và nó đưa ra cơ hội để tù nhân thêm vào các chi tiết còn thiếu hay sửa một vài lỗi. Scharff xây dựng một mối quan hệ hai chiều với tù nhân, những người cùng kể chuyện. Những chỉnh sửa và xác nhận xem ra ít ỏi này lại là những thông tin Scharff muốn tìm hiểu ngay từ đầu.


Đọc tiếp

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014

HỌC NGOẠI NGỮ GIÚP CẢI THIỆN NÃO BỘ Ở ĐỘ TUỔI NÀO?

0
Học ngoại ngữ

Một nghiên cứu mới tìm ra rằng, bất kể bạn bao nhiêu tuổi, học ngoại ngữ sẽ giúp cải thiện cả cấu trúc lẫn chức năng não của bạn.
Các nhà khoa học hiện đang cho rằng việc học ngoại ngữ có thể đem đến những thay đổi bất ngờ trong giải phẫu học não bộ - nhiều hơn cả những gì chúng ta từng dự đoán trước đây.
Giáo sư Ping Li, người đứng đầu nghiên cứu mới được xuất bản trên Journal of Neurolinguistics, cho biết:
“Học và luyện tập một kiến thức nào đó, như ngoại ngữ chẳng hạn, có thể giúp củng cố bộ não.
Giống như việc tập thể dục, bạn càng sử dụng nhiều khu vực cụ thể của não bộ bao nhiêu thì bộ não của bạn càng phát triển và khỏe mạnh bấy nhiêu.”
Trong một nghiên cứu, các nhà khoa học đã theo dõi 39 người có tiếng mẹ đẻ là Tiếng Anh theo học một khóa tiếng Trung trong vòng 6 tuần. (Yang et al., 2014).
Họ được chụp hình não trước và sau khi học nhằm đo đạc các thay đổi trong chức năng và giải phẫu trong não. Những thông tin này sẽ được đem so sánh với nhóm kiểm soát.
Kết quả cho thấy những người lưu giữ được số lượng lớn thông tin mới học có nhiều mạng lưới thần kinh hiệu quả trên khắp các khu vực chức năng quan trọng (như trong hình)

http://www.spring.org.uk/images/connectivity.jpg


Ở nghiên cứu thứ hai mà GS. Li tham gia, nhóm nhận thấy rằng việc học ngôn ngữ thứ hai đem lại những thay đổi trong não bộ ở khắp tất cả các nhóm tuổi (Li et al., 2014).
Việc học ngoại ngữ nhanh chóng làm tăng mật độ chất xám và bảo toàn chất trắng ở trẻ em, người trưởng thành và cả người cao tuổi.
GS. Li chia sẻ:
“Một phát hiện rất thú vị, trái ngược với những nghiên cứu trước đây, là não bộ dẻo dai hơn chúng ta nghĩ.
Chúng ta vẫn có thể nhận thấy những thay đổi về mặt giải phẫu ở não (nơi người cao tuổi), điều này là một thông tin rất đáng khích lệ với việc lão hóa.
Học tập ngoại ngữ có thể giúp đem đến một tuổi xế chiều êm ả hơn.”

Đọc tiếp

Thứ Hai, 8 tháng 12, 2014

“LUẬT” TRỊ LIỆU

0
Nhà trị liệu - Thân chủ
Andrea Wan

ROBIN WEISS 22/11/2014
Julia sắp bước qua tuổi 35 khi lần đầu cô ấy xuất hiện tại văn phòng của tôi. Và cô quả quyết đó sẽ là sinh nhật cuối cùng của mình.

Julia, một bác sĩ phẫu thuật cần mẫn tại bệnh viện trong vùng, sống một cuộc sống khổ hạnh và vất vả ngay trong những năm thanh xuân của mình. Rồi một cơn trầm cảm nghiêm trọng xuất hiện. Gần như ngay lập tức, nó che phủ những tàn dư hạnh phúc, cướp đi giấc ngủ và khóa chặt gương mặt cô dưới một chiếc mặt nạ đau khổ. Cô bắt đầu có ý nghĩ tự vẫn. Và rồi, một đồng nghiệp đã nài nỉ cô tìm kiếm sự hỗ trợ.

Ngay từ khi bắt đầu trị liệu, mặc cho sự mệt mỏi, Julia đã nhặt nhạnh tất cả sự kiên quyết nhằm chống lại điều mà cô mô tả là “nguyên tắc trị liệu”- đặc biệt là việc tôi không tiết lộ thông tin cá nhân của bản thân mình trong suốt tiến trình làm việc. Cô nở một nụ cười nhợt nhạt, đầy thách thức và lớn tiếng hỏi: “Bà không thấy chán khi phải lắng nghe những bệnh nhân tâm thần như chúng tôi sao?”/“Bà đang tựa đầu vào tay của mình, bà đau đầu sao?”/“Bà có con không? Mấy đứa?”

Cô không thèm đếm xỉa đến nguyên tắc của tôi. Cô đến trị liệu với giả định rằng tôi sẽ mãi trung thành với quy luật ấy. Điều này thật ra cũng dễ hiểu: biếm họa về các nhà phân tâm theo Freud, vuốt ve bộ râu, chọc giận thân chủ bằng cách chuyển hướng câu hỏi của họ bằng một câu hỏi khác (“Câu hỏi đó làm chị cảm thấy thế nào?”) nay đã ngập tràn trên văn hóa đại chúng.

Trên thực tế, quy luật này bắt nguồn từ Freud. Trong một tài liệu vào năm 1912, ông đề nghị các bác sĩ hành nghề phân tâm “cần che đậy bản thân mình trước thân chủ, và, trở thành một tấm gương chỉ phản chiếu không gì khác ngoài những gì họ phơi bày trước mặt người bác sĩ.”

Trong phân tâm học, quy luật này có lý lẽ riêng của nó. Theo lý thuyết, thân chủ thường tái hiện mối quan hệ họ có với cha mẹ mình nơi nhà trị liệu. Điều này được gọi là chuyển di (transference). Bằng cách tập trung chú ý vào bi kịch ẩn giấu được phơi bày ngay tại phòng trị liệu, nhà trị liệu và thân chủ có thể khám phá và giải quyết những mâu thuẫn thời ấu thơ. Vậy nên, nếu nhà trị liệu để những thông tin của bản thân mình chen ngang mối quan hệ, họ sẽ làm lu mờ tấm gương và gây tổn hại cho tiến trình làm việc.

Tuy nhiên, tôi không phải là nhà phân tâm. Tôi là một bác sĩ tâm thần, một bác sĩ y khoa điều trị bệnh lý tâm thần với cả thuốc và trị liệu tâm lý. Và Julia mắc một chứng bệnh sinh học – rối loạn trầm cảm nặng (major depressive disorder) – cần được điều trị một phần bằng thuốc. Sấm truyền của Freud không nhất thiết phải trở thành trọng tâm trong công việc giữa tôi và cô ấy.

Thế nhưng cô vẫn miệt mài giành giật niềm tin từ tôi. Vì sao?

Julia đồng ý sử dụng thuốc chống trầm cảm, nó giúp cô giảm thiểu những triệu chứng dai dẳng nhất. Cô ngồi trong phòng trị liệu, cuộn mình trong chiếc chăn lông để giữ ấm, trông như một đứa trẻ bơ vơ buồn bã và cô độc. Đâu là ngọn nguồn của những phiền muộn nơi cô? Nếu chúng tôi không thể hiểu thêm về nó, nhiều khả năng nó sẽ lại đưa cô trở về những giai đoạn trầm cảm nặng trước đây. Vì vậy, chúng tôi bắt đầu bước vào trị liệu tâm lý chuyên sâu.

Lúc này, bản năng của Julia cho rằng tôi sẵn sàng chia sẻ về bản thân đã một phần chính xác. Tôi tuy chẳng thuần giáo điều nhưng cũng chẳng hay đề cập đến cuộc sống riêng của mình.

Ngay cả khi bạn không phải là một phân tâm gia cổ điển theo Freud, cũng có nhiều lý do thích đáng để một nhà trị liệu giữ nguyên trạng thái trung lập. Một trong số những nguyên nhân là thân chủ cần có tự do để đưa cuộc trò chuyện đi đến bất cứ nơi đâu, kể cả đến những lãnh địa cấm kỵ và khó chịu. Nếu trị liệu bị ràng buộc từ cả hai phía, nhà trị liệu có thể khép lại nhiều hướng đi của cuộc đối thoại mà họ có thể muốn né tránh.

Do đó, tôi đặt mình vào trong “cái tôi trị liệu” với Julia: chăm chú, cởi mở và ấm áp, tôi hi vọng là thế - nhưng cũng trung lập và cẩn trọng khi đề cập đến cuộc sống của mình. Nhưng tôi càng thận trọng bao nhiêu thì Julia càng ép tôi bộc lộ bấy nhiêu. Đúng là không thể không thắc mắc liệu điều gì ẩn sau yêu cầu ấy của cô. 

Julia nhìn thế giới với một cặp mắt đầy tự tin. Giọng nói của cô ánh lên vẻ điềm đạm như đang nói rằng, “Tôi sẽ lo liệu được”. Và mọi người thường vẫn chấp nhận lời đề nghị ẩn ý ấy. Cô trở thành giải pháp cho vấn đề của những người xung quanh.

Nhưng tôi nhanh chóng nhận ra rằng ẩn sau vẻ ngoài dồi dào năng lực đó là một tâm hồn mong manh. Trong suốt những giai đoạn phát triển dễ tổn thương nhất của Julia, bắt đầu ngay từ khi còn thơ bé, người mẹ của cô, người phải hứng chịu bệnh lý tâm thần nghiêm trọng cùng một loại rối loạn nhân cách khiến bà trở nên thất thường và ái kỷ, đã chẳng bao giờ hiện diện đầy đủ bên cô. Thật vậy, Julia lại còn được gọi đến để xoa dịu mẹ mình. Cô tích lũy kỹ năng này theo thời gian, trở thành một thứ mà cô gọi là Sherpa – người chuyên mang vác gánh nặng của người khác mà chẳng ai hay biết về sức nặng cô phải chịu đựng. (Sherpa - những phu khuân vác người Tây Tạng chuyên mang vác đồ cho khách leo núi)

Julia đem đến một thách thức về mặt trị liệu cho bản thân tôi. Cô đã rèn giũa nghệ thuật che giấu bản thân, chuyển đổi định hướng đối thoại từ người này sang người khác. Cô khát khao mãnh liệt được liên kết với tôi, và đó chính là phương pháp thiết lập sự thân mật mà cô đã thử và cảm thấy đúng đắn - ít ra là trong phỏng đoán của cô. Tuy nhiên qua việc liên tục đặt ra những câu hỏi cá nhân về phía tôi, cô cũng tạo ra nguy cơ lặp lại mối quan hệ đã khiến cô cảm thấy bị tách biệt và đơn độc nơi thế giới bên ngoài.

Có vẻ như cô đang thử làm Sherpa một lần nữa

Khi tôi chỉ ra điều này cho cô thấy, cô lập tức rút lui. Mặc cho tôi đề cập đến quan sát này nhẹ nhàng đến mức nào, cô đều cảm nhận đó là một sự quở trách, một chia lìa đớn đau trong mối dây gần gũi của chúng tôi. Mặc dù vậy, nếu tôi không chỉ ra những khoảnh khắc đó, tôi sợ rằng cô sẽ chẳng nhận ra mình đang vô thức đắp bồi mối quan hệ của chúng tôi theo một khuôn mẫu các mối quan hệ một chiều đầy thất vọng trước đây. Tôi rơi vào một tình thế khó xử.

Có một câu nói của nhà tâm thần D. W. Winnicott mà sự thông thái toát ra khiến bản thân tôi, khi ấy còn đang học làm bác sĩ, phải trầm trồ thán phục.

“Tôi kinh ngạc khi nghĩ về bao nhiêu thay đổi sâu xa mà tôi đã né tránh hay trì hoãn do nhu cầu diễn dịch của cá nhân mình”, Winnicott viết.

Khi làm việc với Julia, tôi mới đầu thật sự học những bài học từ Winnicott. Lúc tiến trình diễn ra, tôi mới nhận ra mình sáo rỗng tới mức nào mỗi khi tôi cố phân tích điều gì đang diễn ra giữa chúng tôi. Nếu tôi chuyển sang chế độ lâm sàng quá mức, mối quan hệ của chúng tôi sẽ lung lay dữ dội và sự cô lập hiển hiện với Julia rõ ràng hơn bao giờ hết.

Ngược lại, khi tôi bắt đầu hạ tấm màn xuống trước những thách thức của cô, mối quan hệ của chúng tôi trở nên mạnh mẽ hơn trước và cô bắt đầu cơi mở hơn với việc điều trị. Chúng tôi cùng nhau cười nói về một tấm thiệp hay một bông hoa cô đem đến từ vườn nhà – những vật thể hiện nhu cầu thách thức những “luật lệ” của cô và giúp tôi diễn dịch thêm những hành động mới. Mối tương tác này giúp cô phát triển khả năng tự quan sát bản thân khi hành động, trong lúc cô vẫn “quyến rũ” tôi theo phong cách Sherpa thường thấy của mình.

Tôi có thể là một người học chậm, nhưng cuối cùng tôi cũng đã hiểu ra: tôi mới là người cần thay đổi. Từ đó, mỗi lần cô nhìn thấy một ánh nhìn khác lạ từ tôi, tôi liền nói, vâng, tôi bị chứng đau nửa đầu. Chúng tôi cùng theo dõi một chương trình truyền hình và tôi sẵn sàng nói cho cô biết tôi đi du lịch ở đâu.

Khi tôi nói rằng tôi lo lắng, với việc cô can dự vào đời sống của tôi, cô sẽ dễ từ chối tầm quan trọng của bản thân, cô trả lời “Tôi tin rằng bà sẽ không để tôi rơi vào tình trạng đó”. Với khả năng nhận thức cao độ về cách thức mình tạo ra sự thân mật, có lẽ mọi chuyện có thể sẽ đổi khác với cô.

Nhiều năm đã trôi qua. Julia hiện như thế nào? Cô đã có một cuộc sống khác hoàn toàn với câu chuyện trên, một cuộc sống thay đổi theo nhiều hướng tích cực. Buồn thay, cô vẫn chịu căn bệnh – trầm cảm nặng - tái phát mãn tính mà hiện nay vẫn chưa có thuốc đặc trị. Tuy nhiên, cô đã thành công trong việc huấn luyện tôi trở thành một bác sĩ phù hợp hơn cho chính cô, và cô vẫn đến gặp tôi để điều trị. Cho dù tâm thần hiện đại chẳng phải lúc nào cũng chữa hết bá bệnh, ít nhất tôi vẫn có thể phần nào san sẻ gánh nặng giúp Julia.

Chi tiết được thay đổi để bảo vệ quyền riêng tư của thân chủ.
Robin Weiss là bác sĩ tâm thần ở Baltimore.



Đọc tiếp

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

NHỮNG LỢI ÍCH BẤT NGỜ KHI TA GIÚP ĐỠ NGƯỜI KHÁC

0


Có thể có lần bạn đã đọc qua nghiên cứu của ĐH British Columbia về việc trẻ nhỏ cảm thấy hạnh phúc hơn khi chúng chia sẻ với người khác (xem link 1 bên dưới). Người đứng đầu nghiên cứu trên, GS.Lara Aknin, cho biết “các kết quả này cho thấy trẻ em thật sự hạnh phúc khi cho hơn là khi nhận”. Điều này không hề xa lạ so với những điều tôi (tác giả bài báo) đề cập trong sách của mình và có rất nhiều điều chúng ta có thể học được về quản lý stress, khả năng phục hồi, và hạnh phúc từ nghiên cứu trên cùng những tim hiểu tương tự trong những năm vừa qua.

Tóm lại, nếu bạn muốn đáp ứng tốt hơn với stress, hãy phục vụ người khác. Quản lý stress và khả năng tự phục hồi có thể được củng cố bằng cách chúng ta nối kết với những người đang cần giúp đỡ. Ví dụ, tôi cùng các sinh viên của mình đã tham gia một chuyến đi thực tế vào kỳ nghỉ mùa xuân. Trong dịp đó, chúng tôi làm việc với những người nghèo và những người bên lề xã hội cả trong và ngoài nước (xem link 2). Bằng cách đánh giá khả năng phục hồi của sinh viên (cũng như các nội hàm tâm lý khác như lòng nhân ái, quản lý stress, khả năng thấu hiểu) trước khi đi, ngay khi về và sau chuyến đi vài tháng, chúng tôi tìm ra rằng những bạn trẻ tham gia vào các trải nghiệm học tập phục vụ cộng đồng (community service learning) sau đó thường quản lý stress tốt hơn các bạn không tham gia. Tôi tin rằng điều này xảy ra do các bạn có được một cách nhìn tốt hơn. Khi bạn biết được những người xung quanh bạn sinh sống ra sao (không phải các siêu sao Hollywood hay thậm chí một vài người bạn của bạn), bạn sẽ có một cách nhìn tốt đẹp hơn về cuộc sống cũng như những khó khăn, thử thách trong cuộc đời. Thêm vào đó, bạn sẽ trải nghiệm sự thấu hiểu, lòng nhân ái và tính đoàn kết với người khác nhiều hơn.

Những nghiên cứu từ các đồng nghiệp của tôi (link 3) cũng cho thấy việc tình nguyện (được định nghĩa là phục vụ 2 tiếng mỗi tuần trong nhiều năm) giúp giảm thiểu tỉ lệ tử vong lên tới 40%. Đây thật sự là một nghiên cứu khá ấn tượng. Do đây không phải là một nghiên cứu thử nghệm lâm sàng ngẫu nhiên nên chúng ta không thể chắc chắn hoàn toàn về cách thức điều này diễn ra, tuy nhiên nó vẫn có thể nói lên được tầm quan trọng của việc phục vụ người khác có lợi ích tích cực cho sức khỏe thể lý và tinh thần của bạn.

Vậy, nếu bạn muốn quản lý stress và có khả năng tự phục hồi tốt hơn, hãy nghĩ đến việc cho đi bằng cách hỗ trợ những người đang cần giúp đỡ. Như vậy, đôi khi bạn có thể sẽ nhận được nhiều hơn những điều bạn có thể hiến tặng. Và bạn sẽ thêm hạnh phúc để tiếp tục làm việc.
Còn bạn, bạn nghĩ như thế nào?

(1)  Aknin, L. B., Hamlin, J. K., & Dunn, E. W. (2012). Giving leads to happiness in young children. PLoS ONE, 7(6):
(2) Plante, T. G., Lackey, K., & Hwang, J. (2009). The impact of immersion trips on development of compassion among college students, Journal of Experiential Education, 32, 28-43.http://aee.metapress.com/content/57m26684mn78x623/ 
(3) Harris, A. H. S. & Thoresen, C. E. (2005). Volunteering is associated with delayed mortality in older people: Analysis of the longitudinal study of aging. Journal of Health Psychololgy, 10 (6), 739-752.http://www.chce.research.va.gov/docs/pdfs/pi_publications/Harris/... 



Đọc tiếp

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

CHÚNG TA ĂN NHIỀU HƠN KHI XEM PHIM HÀNH ĐỘNG HOLLYWOOD

0

JAMA 01/09/2014
Các chương trình truyền hình tràn ngập âm thanh và cảnh hành động có thể có tác động xấu đến vòng eo của bạn. Người xem TV khi xem một trích đoạn phim hành động Hollywood ăn M&M, bánh quy, cà rốt và nho nhiều hơn những người xem một chương trình phỏng vấn.

Truyền hình thường bị quy trách nhiệm cho tình trạng tăng cân do nó khuyến khích lối sống ít hoạt động. Tuy nhiên, chúng ta thường chú ý đến các nguyên nhân về phương tiện chứ chưa tập trung vào thông điệp. TV cũng giống như những hoạt động giải trí khác, bao gồm đọc sách, nghe radio hay nói chuyện với bạn bè trong bữa tối, đều có thể khiến chúng ta ăn nhiều hơn. Thế nhưng, vẫn chưa có nhiều hiểu biết về việc liệu nội dung hay tốc độ nội dung có ảnh hưởng như thế nào đến mức độ ăn uống.

Các tác giả tìm hiểu cách thức các đặc điểm kỹ thuật khách quan, như tần số những lần cắt cảnh hay sự biến đổi của âm thanh, có ảnh hưởng gì đến lượng thức ăn được tiêu thụ. Nghiên cứu làm việc trên 94 sinh viên (có 57 nữ; tuổi trung bình gần 20 tuổi). Trong đó, những người tham gia được tập hợp lại thành các nhóm để xem 20 phút truyền hình và được chỉ định ngẫu nhiên xem 1 trong 3 chương trình TV khác nhau: Một trích đoạn trong “The Island”, phim hành động Hollywood do Ewan McGregor và Scarlett Johansson thủ vai; chương trình phỏng vấn “Charlie Rose” hay cũng một trích đoạn phim trong “The Island” như trên nhưng lại không có âm thanh. Người xem có M&M, bánh quy, cà rốt và nho để ăn vặt khi xem TV. Thức ăn vặt được đem cân trước và sau khi phát chương trình nhằm theo dõi lượng đồ ăn tiêu thụ bởi người xem.

Những khán giả xem phim “The Island”, với nhiều cảnh chuyển đoạn và hành loạt tiếng động, ăn lượng thức ăn nhiều hơn 98% (206,5g so với 104,3g) và hấp thu lượng calorie nhiều hơn 65% (354,1 và 214,6) so với khán giả xem “Charlie Rose”. Ngay cả các khán giả xem phiên bản im lặng của phim “The Island” cũng ăn nhiều hơn 36% gram thức ăn (142,1g so với 104,3g) và hấp thu nhiều hơn 46% lượng calorie (314,5 và 214,6)  so với khán giả xem phỏng vấn.

“Nội dung truyền hình càng gây nhiễu bao nhiêu thì có vẻ càng làm tăng lượng thức ăn tiêu thụ bấy nhiêu: Sự thay đổi âm thanh và cảnh hành động đem đến những hệ quả tiêu cực cho chế độ ăn uống của bạn. Chương trình TV càng làm phân tâm thì người xem lại càng ít chú ý đến việc ăn uống, và như vậy, họ sẽ ăn nhiều hơn trước.”




Đọc tiếp

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

CẢM XÚC NÀO KÉO DÀI LÂU NHẤT?

0
Cảm xúc
Có một cảm xúc kéo dài trung bình đến 4 ngày, tồn tại lâu hơn các cảm xúc khác đến 240 lần. Đó là cảm xúc nào, và tại sao?

Buồn bã là cảm xúc kéo dài lâu nhất, đó là kết quả của một trong những nghiên cứu đầu tiên tìm hiểu về lý do vì sao một số cảm xúc kéo dài lâu hơn những cảm xúc khác.
Khi so sánh với bực bội, xấu hổ, bất ngờ và thậm chí là buồn chán, buồn bã vượt mặt tất cả.

Nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí Motivation and Emotion phát hiện ra rằng buồn bã thường liên hệ với những sự kiện có tác động lớn dài hạn lên cuộc sống con người, ví dụ như mất mát người thân (Verduyn & Lavrijsen, 2014).

Saskia Lavrijsen, đồng tác giả nghiên cứu, giải thích như sau:
“Hồi tưởng chính là yếu tố quyết định then chốt lý do vì sao một số cảm xúc lại tồn tại lâu hơn các cảm xúc khác.
Các cảm xúc liên hệ với mức độ hồi tưởng cao thường kéo dài lâu nhất.
Các cảm xúc duy trì ngắn hơn thường được kích hoạt – tất nhiên là không phải lúc nào cũng vậy – bởi các sự kiện ít quan trọng.
Mặt khác, các cảm xúc kéo dài thường liên quan đến những điều quan trọng hơn.”

Kết quả nghiên cứu được lấy từ bảng khảo sát 233 sinh viên, trong đó yêu cầu các bạn nhớ lại những trải nghiệm cảm xúc đã có và cho biết chúng kéo dài trong bao lâu.

Dưới đây là thời lượng kéo dài trung bình của mỗi càm xúc:

http://www.spring.org.uk/images/emotions.jpg
Về hai cực, trong khi ghê tởm và xấu hổ thường chỉ kéo dài 30 phút, buồn bã lại tiếp diễn trung bình đến 120 giờ.

Trong khi đó, dù ta hay có cảm giác chán nản kéo dài rất lâu nhưng thực chất nó thường chỉ tồn tại trong vài giờ!

Bên cạnh đó, trong số các cảm xúc được đề cập, xuất hiện nhiều mô hình khá thú vị.
Ví dụ, sợ hãi thường ngắn hạn, trong khi “họ hang gần” của nó là lo âu lại tồn tại lâu hơn.

Tương tự, tác động của xấu hổ trôi qua khá nhanh tuy nhiên cảm giác tội lỗi lại lượn lờ hàng giờ.

Link full bài nghiên cứu (pdf)
http://link.springer.com/article/10.1007%2Fs11031-014-9445-y

Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter