Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2015

NHỮNG THAY ĐỔI VỀ NHÂN CÁCH KHI BẠN THẤT NGHIỆP

0
Hệ quả của thất nghiệp
Theo một nghiên cứu do Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ công bố, thất nghiệp có thể làm thay đổi những tính cách căn bản của con người, khiến chúng ta trở nên ít tận tâm, ít dễ chịu và kém cởi mở hơn trước. Điều này sẽ khiến việc tìm công việc mới trở nên khó khăn hơn rất nhiều.

Theo TS Christopher J. Boyce thuộc ĐH Stirling, Hoa Kỳ, “Kết quả thách thức ý tưởng cho rằng nhân cách của chúng ta là ‘bất di bất dịch’, đồng thời cho thấy những tác động của các nhân tố bên ngoài như thất nghiệp ảnh hưởng đến nhân cách cơ bản của chúng ta ra sao. Nó cho thấy thất nghiệp có những tác động về mặt tâm lý sâu rộng hơn những gì ta vẫn nghĩ.”

Boyce cùng các cộng sự đã nghiên cứu trên 6769 người trưởng thành tại Đức (3733 đàn ông và 3036 phụ nữ) thông qua một trắc nghiệp nhân cách được thực hiện 2 lần trong vòng 4 năm, từ 2006 -2009. Trong nhóm mẫu dân số, có 210 nghiệm thể bị thất nghiệp từ 1 đến 4 năm vào bất kỳ thời điểm nào trong thời gian nghiên cứu; 251 nghiệm thể khác bị thất nghiệp it hơn 1 năm nhưng sau đó tiếp tục làm việc trở lại.

Các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu các đặc điểm nhân cách “Big Five” – bao gồm các yếu tố: sự tận tâm (conscientiousness), tâm lý bất ổn (neuroticism), tính dễ chịu (agreeableness), hướng ngoại (extraversion) và tính cởi mở (openness). Nhóm nghiên cứu nhận thấy, so sánh với nam giới không bị mất việc, nam giới mất việc thường tăng tính dễ chịu trong 2 năm đầu bị thất nghiệp. Tuy nhiên sau hai năm, mức độ dễ chịu của họ bắt đầu suy giảm và về lâu dài, tụt xuống thấp hơn những người không bị mất việc. Đối với nữ giới, tính dễ chịu sẽ suy giảm theo mỗi năm bị thất nghiệp.

“Trong giai đoạn đầu tiên bị thất nghiệp, cá nhân thường có xu hướng hành xử theo kiểu dễ chịu nhằm nỗ lực tìm kiếm công việc khác hay xoa dịu những người xung quanh. Tuy nhiên những năm sau đó, khi tình huống trở nên quen thuộc, xu hướng này có thể bị suy yếu.”

Đối với yếu tố tận tâm, nam giới thất nghiệp càng lâu thì điểm số yếu tố này giảm bớt càng nhiều. Theo các nhà nghiên cứu, yếu tố này cũng gắng với mức độ cá nhân hài lòng với thu nhập của mình. Khi so sánh về giới, nữ giới thường trở nên tận tâm vào các giai đoạn đầu và cuối thời gian thất nghiệp, tuy nhiên lại sụt giảm vào giai đoạn giữa. Các nhà nghiên cứu đưa ra lý thuyết cho rằng phụ nữ có thể vẫn tích lũy sự tận tâm thông qua những hoạt động không liên quan đến công việc gắn liền với giới nữ, ví dụ như chăm sóc gia đình.

Nam giới thất nghiệp thường cho thấy mức độ cởi mở ổn định trong năm đầu tiên, tuy nhiên điểm số sẽ giảm dần theo thời gian không có công việc. Ngược lại, phụ nữ cho thấy sự sụt giảm đáng kể trong tính cởi mở trong năm thứ hai và thứ ba bị thất nghiệp, tuy nhiên điểm số sẽ gia tăng vào năm thứ tư.

Boyce cho biết, nghiên cứu cho rằng tác động của thất nghiệp không chỉ đơn giản là lo lắng về mặt kinh tế - người thất nghiệp có thể bị đánh giá sai lầm vì những thay đổi không thể tránh được về nhân cách, điều này có nguy cơ đào sâu những khó khăn trong việc tìm kiếm công việc mới.

“Vì vậy, các chính sách công có vai trò then chốt trong việc phòng tránh những thay đổi tiêu cực về nhân cách trong xã hội thông qua làm giảm tỉ lệ thất nghiệp và cung cấp sự hỗ trợ lớn hơn cho những người không có công việc. Như thế, các chính sách giảm thiểu thất nghiệp đóng vai trò rất quan trọng không chỉ trong việc bảo vệ nền kinh té mà còn trong công tác hỗ trợ sự phát triển nhân cách tích cực của mỗi cá nhân.”

Bài báo: “Personality Change Following Unemployment,” by Christopher J. Boyce, PhD, and Alex M. Wood, PhD, University of Stirling and University of Manchester; Michael Daly, PhD, University of Stirling; and Constantine Sedikides, PhD, University of Southampton, Journal of Applied Psychology; online, Feb. 9, 2015.

Link full nghiên cứu:
http://www.apa.org/pubs/journals/releases/apl-a0038647.pdf

Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ APA (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của APA http://www.apa.org/news/press/releases/2015/02/personality-unemployment.aspx và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/08/tac-hai-tam-ly-cua-that-nghiep.html . Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của APA và thông báo cho người dịch.

Đọc tiếp

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2015

MÔI LIÊN HỆ GIỮA VIỆC TRẺ THƯỜNG XUYÊN GẶP ÁC MỘNG VỚI CÁC TRIỆU CHỨNG LOẠN THẦN KHI TRƯỞNG THÀNH

0
Trẻ thường xuyên gặp ác mộng

ĐH WARWICK 19/5/2015
Trong một nghiên mới đây được công bố trên tạp chí British Journal of Psychiatry, một nhóm nghiên cứu có trụ sở tại Đơn vị Sức khỏe Tâm thần thuộc Trường Đại học Y Warwick đã chứng minh việc thường xuyên gặp ác mộng lúc nhỏ, vào cả hai giai đoạn 2-9 tuổi và 12 tuổi đều có tương quan ý nghĩa với khả năng trải nghiệm các triệu chứng loạn thần vào năm 18 tuổi.  
ĐH Warwick dẫn đầu một nhóm nghiên cứu, bao gồm các nhà khoa học đến từ ĐH College London, ĐH Cardiff, ĐH Bristol và ĐH Kings London, đã tìm hiểu 4060 nghiệm thể sinh tại Anh. Nhóm nghiên cứu đã hỏi các bậc phụ huynh về tần suất trẻ gặp ác mộng từ lúc 2 đến 9 tuổi. Sau đó, các nhà khoa học phỏng vấn nghiệm thể để đánh giá tần suất gặp ác mộng, hoảng sợ ban đêm và mộng du vào năm 12 tuổi cùng các triệu chứng loạn thần năm 18 tuổi.
Vào năm 12, 24.9% nghiệm thể cho biết có gặp ác mộng trong vòng 6 tháng trở lại và trong toàn bộ mẫu nghiên cứu, 7.9% cho thấy có các triệu chứng loạn thần sau này. Đối với những nghiệm thể gặp ác mộng, tỉ lệ có triệu chứng loạn thần tăng gấp đôi.
Chủ nhiệm nghiên cứu, TS Andrew Thompson, cho biết: “Việc các triệu chứng lo âu và trầm cảm đóng vai trò tạo nên hiện tượng rối loạn giấc ngủ có thể giúp giải thích kết quả trên. Trải nghiệm các sự kiện căng thẳng cũng có thể đóng vai trò quan trọng, đồng thời có liên hệ đến việc xuất hiện ác mộng và các triệu chứng loạn thần vào cuối tuổi nhỏ.”
TS Thompson cho biết, nghiên cứu chỉ ra cách nhìn ác mộng và hoảng loạn ban đêm theo một hướng khác, đồng thời có thể hỗ trợ công việc của các nhà chuyên môn hay người chăm sóc.
Ông chia sẻ: “Có thể đối với một vài cá nhân, ác mộng và hoảng loạn ban đêm chẳng có liên hệ gì đến tình trạng tâm bệnh sau này. Tuy nhiên, đối với những người có các nguy cơ như gia đình có tiển sử tâm thần hay đã gặp những sang chấn trong quá khứ do người lớn hay bạn bè gây nên, những vấn đề về giấc ngủ trên có thể có tầm quan trọng khá lớn và giúp cảnh báo những vấn đề tâm bệnh hay sang chấn chưa được nhận diện.”
TS Thompson cho rằng tuy cần có thêm nhiều nghiên cứu nhưng những kết quả ban đầu này cho thấy các rối loạn giấc ngủ như việc thường gặp ác mộng ở trẻ em có thể là một chỉ báo nguy cơ về khả năng phát triển các triệu chứng và những rối loạn tâm thần.
Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Psy Post (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Psy Post http://www.psypost.org/2015/05/persistent-nightmares-in-childhood-could-be-linked-to-psychotic-experiences-in-later-life-34440 và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/08/van-de-tre-thuong-xuyen-gap-ac-mong.html. Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Psy Post và thông báo cho người dịch.


Đọc tiếp

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2015

LÃNH ĐẠO TIÊU CỰC GÂY ẢNH HƯỞNG ĐẾN TẬP THỂ VÀ NĂNG SUẤT

0
Sếp ngược đãi nhân viên
ĐH BANG MICHIGAN 20/08/2014
Một nghiên cứu mới được các nhà nghiên cứu kinh doanh tại ĐH Bang Michigan thực hiện cho thấy, những nhà quản lý hay ngược đãi các nhân viên có thể sẽ khiến cả đội ngũ vướng và xung đột và làm giảm năng suất.
Nghiên cứu được thực hiện tại Trung Quốc và Hoa Kỳ, được đăng trên Journal of Applied Psychology, cho thấy tác động tiêu cực của những hành động ngược đãi phi thể chất do các nhà quản lý gây ra lớn hơn nhiều so với những gì chúng ta thường tưởng tượng. Đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên kiểm chứng tác động của những nhà lãnh đạo tiêu cực lên đội ngũ làm việc.
Nhà nghiên cứu Crystal Farh cho rằng những nhà quản lý xem thường và nhạo báng nhân viên của mình không chỉ làm ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của người lao động, mà còn khiến các thành viên khác trong nhóm cũng hành xử hung hăng với nhau tương tự.
Farh cho biết, “Đó chính là kết quả đáng lo ngại nhất vì nó cho thấy điều này không chỉ tạo ra một nạn nhân đơn lẻ, nó còn tạo ra một môi trường mà hết thảy mọi người đều bị ảnh hưởng, bất kể bạn có phải là cá nhân bị ngược đãi hay không.”
Theo Farh, Giáo sư thỉnh giảng về Quản lý tại Trường Đại học Kinh doanh Broad, ĐH Bang Michigan, các kết quả trên có thể được diễn giải theo lý thuyết học tập xã hội. Trong đó cho rằng, chúng ta học tập và thực hiện các hành vi dựa trên việc quan sát những người xung quanh. Trong trường hợp này là “sếp” của họ. Bà nói thêm, các nghiên cứu trước đây cho thấy nhân viên thường làm theo các hành vi tích cực của nhà quản lý, tương tự, hoàn toàn có lý khi cho rằng họ cũng sẽ bắt chước các hành vi tiêu cực.   
Trong nghiên cứu này, Farh và Zhijun Chen thuộc ĐH Tây Australia đã nghiên cứu 51 nhóm nhân viên tại 10 công ty Trung Quốc. Nhóm thường có quy mô trung bình là 6 người và sẽ được yêu cầu thực hiện một số các vị trí chức năng khác nhau như chăm sóc khách hàng, hỗ trợ kỹ thuật hay nghiên cứu và phát triển.
Nghiên cứu tìm hiểu các hành vi ngược đãi phi thể lý như ngược đãi bằng lời nói hay các email mang tính nhạo bang. Những người lao động trực tiếp trải nghiệm những ngược đãi trên thường cảm thấy bị hạ thấp giá trị và sẽ ít đóng góp cho nhóm hơn. Đồng thời, cả nhóm cũng dễ rơi vào tình trạng xung đột hơn, làm giảm khả năng xây dựng của các thành viên.
Farh cho biết, “Các thành viên trong nhóm có xung đột thường sẽ hành xử gây hấn, ngược đãi, nói năng thô lỗ với nhau, đồng thời cũng trải nghiệm nhiều cảm xúc tiêu cực hơn về nhau.”
Nghiên cứu được lặp lại trong môi trường thực nghiệm có kiểm soát tại Mỹ với gần 300 nghiệm thể tham gia.
Kết quả đem lại những đóng góp cho việc hỗ trợ nhân viên bị quản lý đối xử tiêu cực. Trong quá khứ, các công ty thường chỉ tập trung vào việc phục hồi khả năng tin tưởng váo bản thân của cá nhân. Dù yếu tố trên vẫn đóng vai trò quan trọng nhưng Farh cho rằng cần có thêm những nỗ lực nhằm hàn gắn các mối quan hệ liên cá nhân trong nhóm bằng cách tái tạo lòng tin và sự hòa hợp.
Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Psy Post (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Psy Post http://www.psypost.org/2014/08/abusive-leadership-infects-entire-team-hurting-productivity-27506 và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/08/tac-hai-lanh-dao-nguoc-dai-nhan-vien.html. Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Psy Post và thông báo cho người dịch.



Đọc tiếp

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2015

NHỮNG KÝ ỨC VỀ TUỔI THƠ BỘC LỘ ĐIỀU GÌ VỀ BẠN?

0
Ý nghĩa của ký ức tuổi thơ

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng với đa số chúng ta, trung bình, những ký ức đầu tiên sẽ là về các sự kiện lúc chúng ta 3 tuổi rưỡi.Tuy nhiên, những nghiên cứu mới đây cho thấy trẻ em còn có thể nhớ những ký ức còn sớm hơn thế (Wang & Peterson, 2014). Ngược lại, với người trưởng thành, chúng ta chỉ nhớ những ký ức bắt đầu từ lúc ta 6 đến 6 tuổi rưỡi (Wells, Morrison, & Conway, 2014). Các nhà nghiên cứu đều đồng ý rằng, có rất ít những ký ức trước tuổi lên 6 có thể trở thành một ký ức lâu dài.
Những ký ức đầu tiên đó cho chúng ta thấy những gì về bản thân và tuổi thơ của mình? Và liệu có phải ai cũng ghi nhớ cùng một kiểu ký ức khi còn nhỏ hay không?
Các ký ức đầu tiên thường có nội dung rất phong phú: những trò chơi, tai nạn hay những thay đổi (về nhà ở, trường lớp,…) đều có thể trở thành những sự kiện được lưu giữ đến tận tuổi trưởng thành (Peterson, Morris, Baker-Ward, & Flynn, 2013). Mỗi kiểu sự kiện còn sót lại khi ta lớn lên đều có thể phản ánh rõ nét đặc điểm tuổi thơ của chúng ta, đồng thời chúng cũng cho biết những điều gì là quan trọng và góp phần tạo nên con người chúng ta hiện tại. Ví dụ, trẻ em Canada thường có những ký ức đầu tiên là về việc tự chơi một mình hay những thay đổi mang tính cá nhân. Trong khi đó, trẻ em Trung Quốc lại hay nhớ về những tương tác với gia đình và trường lớp (Peterson, Wang, & Hou, 2009).  
Vẫn chưa rõ lý do tại sao một số kinh nghiệm cụ thể lại được ghi nhớ cả đời, trong khi nhiều sự kiện khác lại bị loại bỏ. Những ký ức tuổi thơ đầu tiên được người trưởng thành lưu giữ thường là các sự kiện mang tính cảm xúc. Dù có nhiều ký ức cho thấy những sự kiện cảm xúc tiêu cực nhưng cũng có nhiều ký ức khắc họa những kinh nghiệm hạnh phúc thời thơ ấu (Howes, Siegel, & Brown, 1993). Một vài các tai nạn, ví dụ bị té gãy tay khi đang chơi trong sân trường, cũng hay được giữ lại đến lúc lớn. Thế nhưng, những khoảnh khắc hạnh phúc như một chuyến du lịch thú vị hay thời gian chơi đùa với bạn bè cũng thường xuyên được ghi nhớ.
Nghiên cứu cũng chứng minh, bên cạnh tính cảm xúc, sự liên tục cũng góp phần tác động đến “tuổi thọ” của ký ức. Mức độ thông hiểu một cách có ý nghĩa một trải nghiệm sẽ tác động đến khả năng sự kiện đó được đưa vào “bộ nhớ”. Một cô gái đã hồi tưởng lại một trải nghiệm rất sống động sau đây khi cô đang học mẫu giáo lúc 3-4 tuổi: Một người đàn ông mang áo vest tới lớp mẫu giáo để nói chuyện. Ông vừa nói vừa bắt đầu mang thêm từng mẫu phục trang truyền thống của người Bản địa Mỹ lên người cho đến khi ông đứng trước cả lớp trong trang phục Tù trưởng bộ tộc Onondaga. Bài học ông truyền tải vô cùng rõ ràng, ông vẫn chỉ là một con người dù có thể mang cả hai loại quần áo. Khi lớn lên, cô bé năm xưa giải thích rằng chính ký ức tuổi thơ vô cùng ấn tượng đó đã giúp cô biết trân trọng sự đa dạng và tạo cảm hứng cho công việc của bản thân cô, một nhà hành động vì quyền con người.
Tổng thể của những ký ức tự thuật của chúng ta không chỉ phản chiếu những chất liệu cuộc sống ta đã sở hữu mà còn là những vật liệu giúp xây dựng nên con người ta đang trở thành. Những ký ức đầu tiên cho thấy những tác động của bối cảnh văn hóa lên bản thân chúng ta cũng như những ảnh hưởng của tuổi thơ mà ta đã trải qua. Trải nghiệm không chỉ là những thứ đã xảy ra với chúng ta, chúng là những “vật liệu thô sơ” ta dùng để định hình căn tính, bản ngã của mình. Con người ta đã trở thành có khả năng suy nghĩ về những sự kiện đó, tái đánh giá chúng lựa chọn cách thức đáp trả. Chúng ta không bị cầm tù bởi quá khứ, chúng ta vẫn có quyền quyết định sẽ sử dụng những khía cạnh nào của quá khứ để khắc họa nên con người hiện tại và tương lai của mình.
Những ký ức tuổi thơ ta chọn để lưu giữ cho thấy những điều ta xem là quan trọng. Những trải nghiệm đó không cho người khác biết tất cả mọi điều về con người bạn. Một người ghi nhớ những ký ức về việc bị lạm dụng khi còn nhỏ chưa chắc sẽ bị đánh giá là “nạn nhân”, “người sống sót”,… Cách thức cá nhân hiểu được ý nghĩa của những trải nghiệm đó mới góp phần tạo nên ý nghĩa bản ngã của họ. Những ký ức đang được xử lý đó sẽ tích hợp vào tính cá thể đầy năng động và không ngừng thay đổi của cá nhân.  
Chúng ta không được lựa chọn tuổi thơ ta đã trải qua nhưng chúng ta được lựa chọn cách phản ứng với những ký ức đó.
Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Psychology Today (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Psychology Today https://www.psychologytoday.com/blog/longing-nostalgia/201504/what-your-oldest-memories-reveal-about-you?utm_source=FacebookPost&utm_medium=FBPost&utm_campaign=FBPost
và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/08/ky-uc-tuoi-tho-boc-lo-dieu-gi-ve-ban.html . Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Psychology Today và thông báo cho người dịch.

Tài liệu tham khảo
Batcho, K. I. (2012). Childhood happiness: More than just child’s play. Psychology Today. 
Batcho, K. I., Nave, A. M., & DaRin, M. L. (2011). A retrospective survey of childhood experiences. Journal ofHappiness Studies, 12, pp. 531-545.
Demiray, B., & Bluck, S. (2011). The relation of the conceptual self to recent and distant autobiographical memories. Memory, 19, pp. 975-992.
Howes, M., Siegel, M., & Brown, F.  (1993). Early childhood memories:  Accuracy and affect. Cognition, 47, pp. 95-119.
Peterson, C., Morris, G., Baker-Ward, L., & Flynn, S. (2013). Predicting which childhood memories persist: Contributions of memory characteristics. Developmental Psychology,50, pp. 439-448.
Peterson, C., Wang, Q., & Hou, Y. (2009). “When I was little”: Childhood recollections in Chinese and European Canadian grade school children. Child Development, 80, pp. 506-518.
Wang, Q., & Peterson, C. (2014). Your earliest memory may be earlier than you think:  Prospective studies of children’s dating of earliest childhood memories  Developmental Psychology, 50, pp. 1680-1686.
Wells, C., Morrison, C. M., & Conway, M. A. (2014). Adult recollections of childhood memories: What details can be recalled? The Quarterly Journal of Experimental Psychology, 67, pp. 1249-1261



Đọc tiếp

Thứ Năm, 6 tháng 8, 2015

XUNG ĐỘT GIA ĐÌNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG GHI NHẬN VÀ ĐIỀU HÒA CẢM XÚC CỦA TRẺ

0
Trẻ em và bạo hành gia đình

ĐH NEW YORK 17/9/2014
Theo một nghiên cứu chiều dài được thực hiện bởi Trường Văn hóa, Giáo dục và Phát triển con người Steinhardt, ĐH New York, việc chứng kiến xung đột thể lý hay lời nói giữa cha mẹ sẽ có thể ảnh hưởng tới khả năng nhận diện và kiểm soát cảm xúc của trẻ.
Kết quả nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí Development and Psychopathology cũng cho rằng những xáo trộn tại nơi ở cùng tình trạng nghèo đói kéo dài trong lúc trẻ còn nhỏ cũng có thể để lại những hệ quả trong việc điều chỉnh cảm xúc của trẻ.
C. Cybele Raver, GS. Tâm lý ứng dụng tại ĐH New York, chủ nhiệm nghiên cứu, “Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng xung đột giữa cha mẹ có thể tác động mạnh mẽ tới khả năng điều chỉnh cảm xúc của trẻ. Tranh cãi và xô xát không những gây ra cho căng thẳng về mặt tâm lý cho đôi bên mà nghiên cứu còn minh chứng hệ quả của xung đột trong gia đình đồng thời cũng ảnh hưởng lên trẻ em.”
Nghiên cứu cho thấy việc tiếp xúc với xung đột và bạo lực gia đình có thể thay đổi các phản ứng hành vi, nhận thức và sinh học thần kinh của trẻ. Việc nâng cao cảnh giác quá mức có thể giúp trẻ an toàn ngắn hạn nhưng lại hết sức nguy hiểm cho khả năng điều chỉnh cảm xúc về lâu dài. Nói cách khác, những trẻ nghe hoặc chứng kiến cha mẹ xung đột có thể sẽ có những vấn đề trong điều hòa cảm xúc trước những tình huống “ít” nguy hiểm hơn, ví dụ như trong lớp học.
Không chỉ dừng lại như các nghiên cứu trước đây, chỉ chứng minh mối quan hệ giữa mâu thuẫn của phụ huynh tại một thời điểm với khả năng điều chỉnh của trẻ khi lớn, Raver và các cộng sự cho rằng cần tìm hiểu sâu hơn cách thức trẻ bị ảnh hưởng tiêu cực bởi việc phải tiếp xúc với bạo lực trong thời gian dài.
“Do vẫn còn khá ít nghiên cứu tìm hiểu về nhiều tác nhân khác nhau, chúng tôi cũng quan tâm tới các hình thức tác động tiêu cực khác trong môi trường sống của trẻ, bao gồm nghèo đói, xáo trộn tại nơi cư trú, có thể ảnh hưởng đến chức năng điều hòa cảm xúc.” Tác giả nghiên cứu, Clancy Blair, GS Tâm lý Ứng dụng tại ĐH New York, chia sẻ.
Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã xác định mức độ tiếp xúc với những hình thái tác động tiêu cực khác nhau của trẻ và ước lượng khả năng chúng ảnh hưởng lên việc nhận diện và điều hòa các cảm xúc tiêu cực, ví dụ như buồn bã và sợ hãi. Các tâm lý gia đã theo dõi 1025 trẻ cùng gia đình sống tại phía Đông North Carolina và miền trung Pennsylvania, đây là hai khu vực có tỉ lệ nghèo đói khá cao.
Nhóm nghiên cứu sẽ lượng giá các gia đình thông qua một loạt các chuyến quan sát tại nhà từ khi trẻ 2 tháng tuổi cho đến khi các bé được 58 tháng. Họ đồng thời thu thập thông tin từ cha mẹ qua bảng hỏi, các bài tập giành cho cả phụ huynh và con cái, cũng như tính toán mức độ xáo trộn tại nơi cư trú so với bình thường– bao gồm số lần chuyển đổi nơi ở, thay đổi người chăm sóc, mức độ tiếng ồn, vệ sinh, cùng với tỉ lệ số người/ số phòng trong nhà. Vào tầm khi trẻ được 58 tháng, các nhóm nghiên cứu sẽ đánh giá khả năng trẻ nhận biết và xác định chính xác cảm xúc.
Bạo hành về thể lý hay lời nói nơi cha mẹ trải dài từ khi trẻ mới sinh cho đến đầu tuổi nhỏ có thể giúp dự đoán có ý nghĩa khả năng trẻ xác nhận chính xác cảm xúc. Mức độ tiếp xúc với bạo lực nhiều hơn có tương quan âm tính với kết quả bài tập gọi tên cảm xúc đơn giản. Tuy nhiên ngạc nhiên là những trẻ này lại có kiến thức về cảm xúc nhiều hơn các trẻ khác.
Việc tiếp xúc với xung đột dài hạn còn liên hệ với khả năng điều tiết cảm xúc buồn bã, rút lui hay sợ hãi của trẻ, khiến làm tăng nguy cơ các triệu chứng lo âu và trầm cảm nơi các em về sau này.  
Các hình thức tiêu cực khác cũng tác động tới khả năng điều chỉnh cảm xúc của trẻ. Số năm chịu tình trạng nghèo đói càng cao thì khả năng nhận diện chính xác các cảm xúc khác nhau của trẻ càng thấp. Những rối loạn tại nơi ở, đặc biệt là sự vô tổ chức cũng làm giảm chức năng trên.
Raver cho biết, “Nghiên cứu này làm sáng tỏ tầm quan trọng của việc nâng đỡ cho các bậc cha mẹ trong cuộc sống hôn nhân đầy sóng gió của họ. Cha mẹ cần được hỗ trợ để điều tiết chính những cảm xúc giận dữ, thất vọng và lo lắng của mình trong quá trình cân bằng những đòi hỏi nơi công việc, gia đình và các mối quan hệ, đặc biệt là khi có liên quan đến vấn đề tiền bạc.”
Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Washington Post (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Washington Post http://www.washingtonpost.com/news/to-your-health/wp/2015/07/29/how-you-talk-to-your-baby-now-can-help-develop-their-social-skills-when-they-are-older-says-new-research/ và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/08/chung-kien-bao-hanh-tac-hai-voi-tre-em.html . Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Psy Blog và thông báo cho người dịch.

Tham khảo bài khác trên HLTL có liên quan đến bạo hành ở trẻ em:

BẠO HÀNH TÂM LÝ Ở TRẺ EM CÓ TÁC HẠI TƯƠNG ĐƯƠNG LẠM DỤNG THỂ CHẤT HAY TÌNH DỤC

NHÌN NHẬN NGƯỜI KHÁC THÙ ĐỊCH SẼ LÀM TĂNG TÍNH GÂY HẤN NƠI TRẺ



Đọc tiếp

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2015

TẠI SAO CHÚNG TA LẠI LÀM THEO SỐ ĐÔNG? CÂU TRẢ LỜI KHÔNG HẲN ĐẾN TỪ SỨC ÉP XÃ HỘI

0
Tại sao chúng ta hay làm theo số đông?

Chúng ta hay làm theo số đông, tuy nhiên nguyên nhân có thể đến từ những động lực khác đơn giản hơn đơn thuần là sức ép xã hội.
Chúng ta bắt chước lẫn nhau – đó là bản chất của loài người.
Trong một nghiên cứu cổ điển được thực hiện vào những năm 50, Solomon Asch đã chứng minh rằng chúng ta thậm chí không tin tưởng vào chính giác quan của mình chỉ để nghe theo những nhận định của người khác.
Trong nghiên cứu đó, một nghiệm thể được đưa vào một nhóm nhỏ mà không biết rằng các thành viên còn lại đều là những người thuộc đội nghiên cứu. Các nghiệm thể sẽ được yêu cầu trả lời những câu hỏi rất đơn giản (ví dụ như so sánh chiều dài của một đoạn thẳng mẫu với các đoạn thẳng khác). Các thành viên khác được chỉ định sẽ cùng đưa ra một đáp án sai, kết quả, chính việc đó khiến nghiệm thể không còn tin vào nhận định của mình mà sẽ dần chuyển sang câu trả lời được cả nhóm đồng thuận.
Tuy nhiên, mới đây, mọt nghiên cứu vừa đặt lại vấn đề về việc chính xác tại sao chúng ta lại làm theo số đông.
Một trong những tác giả của nghiên cứu, Diana Kim, giải thích:
“Tâm lý học xã hội luôn giải thích hiện tượng làm theo số đông trên quan điểm xã hội: áp lực nhóm, mong muốn thuộc về nhóm, niềm tin vào kiến thức của tập thể,…
Mục tiêu của nghiên cứu là để kiểm chứng xem liệu có những cơ chế nào đơn giản hơn có thể được quy cho ít nhất là một số những tác động của hiện tượng trên hay không.”
Không chỉ đơn thuần là áp lực xã hội, nhóm nghiên cứu phát hiện rằng tất cả chúng ta đều tồn tại một mong muốn mãnh liệt “sao chép” người khác.
Thậm chí vài trò áp lực xã hội còn có thể không đóng một vai trò quá quan trọng, thay vào đó, nghiên cứu cho rằng các quyết định về mặt hành vi là một dạng “trung bình cộng” giữa hành vi trong quá khứ của chúng ta và hành vi của những người khác.
Chúng ta lựa chọn cách hành xử đối với từng tình huống bằng cách nhớ lại hành vi của những người khác trong tình huống tương tự […] tuy nhiên, đôi khi chúng ta lại khá mơ hồ trong việc gợi nhớ chúng và nghĩ rằng đó chính là hành vi của chúng ta.
Nói cách khác: chúng ta sao chép hành vi của người khác nhưng lại không nhớ rằng chúng ta đang sao chép chúng, vì vậy có cảm giác chúng là quyết định của chính chúng ta.
Nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí (Kim & Hommel, 2015).

Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Psy Blog (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Psy Blog http://www.spring.org.uk/2015/05/why-people-conform-maybe-its-not-social-pressure-after-all.php và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/08/tai-sao-chung-ta-lai-lam-theo-so-dong-nguoi-khac.html. Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Psy Blog và thông báo cho người dịch.



Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter