Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2015

BẨM SINH HAY GIÁO DỤC: NGHIÊN CỨU CHO THẤY MỐI QUAN HỆ GIỮA MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC GIA ĐÌNH VÀ IQ CỦA TRẺ

0
Trí tuệ bẩm sinh hay do học tập?

ĐH VIRGINIA 24/3/2015
Theo một nghiên cứu mới được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu đến từ ĐH Virginia Commonwealth, ĐH Virginia và ĐH Lund, thanh thiếu niên được nuôi dạy trong các gia đình có môi trường giáo dục tốt thường phát triển khả năng nhận thức cao hơn các bạn lớn lên trong các môi trường kém lý tưởng hơn.
Tuy không phủ nhận những kết quả nghiên cứu trước đây cho rằng DNA có ảnh hưởng lên trí thông minh, nghiên cứu được công bố trên Proceedings of the National Academy of Sciences vẫn đưa ra những minh chứng cho thấy tầm quan trọng của yếu tố môi trường lên sự phát triển nhận thức vào tuổi trưởng thành.
Nghiên cứu so sánh khả năng nhận thức – được đo bằng IQ – của 436 cặp anh em trai người Thụy Điển. Trong đó, một trong hai anh em được nuôi dạy bởi cha mẹ ruột trong khi người còn lại được nhận nuôi bởi gia đình khác. Khi được đo vào lúc 18-20 tuổi, chỉ số IQ của người được nhận nuôi cao hơn 4.4 điểm so với người ở lại với cha mẹ ruột.
Đồng tác giả, Bác sĩ Kenneth S. Kendler, giáo sư tâm thần và di truyền phân tử tại Bộ môn Tâm thần, Trường ĐH Y VCU, cho biết, “Tại Thụy Điển cũng như nhiều quốc gia Phương Tây khác, số lượng người xin con nuôi lớn hơn rất nhiều so với số trẻ được cho nhận nuôi. Vì vậy, các trung tâm bảo trợ trẻ em xem việc lựa chọn môi trường lý tưởng để nhận nuôi trẻ là một trong những mục tiêu chính của mình.”
Các cha mẹ nhận nuôi trẻ trong nghiên cứu thường được hưởng nền giáo dục cùng những điều kiện kinh tế xã hội tốt hơn cha mẹ ruột của trẻ. Trong nghiên cứu này, mức độ nền giáo dục các gia đình được thụ hưởng được đánh giá trên thang từ 1 – 5 điểm; mỗi mức giáo dục của cha mẹ nhận nuôi có tương quan với việc chỉ số IQ cao hơn 1.71 điểm. Trong một số hiếm hoi các trường hợp cha mẹ sinh học có trình độ học vấn cao hơn cha mẹ nhận nuôi, khả năng nhận thức của trẻ được nhận nuôi sẽ thấp hơn các trẻ được nuôi dạy bởi cha mẹ sinh học.
Các nghiên cứu trước đây cũng tìm ra rằng cha mẹ có trình độ học vấn cao hơn thường trò chuyện trong bữa ăn, đưa con đi bảo tàng và đọc truyện cho con vào buổi tối nhiều hơn.
Kendler cho biết, “Chúng tôi không phủ nhận tầm quan trọng của yếu tố di truyền đối với khả năng nhận thức, tuy nhiên sẽ rất ngây ngô nếu cho rằng tất cả chỉ phụ thuộc vào di truyền. Kết quả nghiên cứu cho thấy cha mẹ có nền giáo dục tốt sẽ có những hành động khiến con trẻ trở nên thông minh hơn, điều này hoàn toàn không phải là kết quả của các yếu tố di truyền.”
Turkheimer là tác giả của nghiên cứu lớn vào năm 2003 chỉ ra tác động của di truyền lên chỉ số IQ phụ thuộc vào tình trạng kinh tế xã hội. Nghiên cứu được thực hện gần đây đã củng cố khẳng định trên.
“Khác biệt về khả năng nhận thức của con người bị chi phối bởi cả di truyền và môi trường, tuy nhiên các yếu tố sinh học sẽ dễ chứng minh hơn vì các cặp song sinh thường rất giống nhau và hay có cùng chỉ số IQ” Turkheimer chia sẻ. “Những tác động của môi trường sẽ mất thời gian hơn vì rất hiếm khi các cặp an hem được nuôi dạy bởi các cạp cha mẹ khác nhau trong các điều kiện kinh tế xã hội khác nhau. Dữ liệu từ mẫu dân số Thũy Điển cho phép chúng ta kết luận rằng cha mẹ có trình độ học vấn tốt hơn sẽ tạo ra những ứu thế về trí tuệ cho con cái mà họ nuôi dạy.”

Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Psy Post (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Psy Post http://www.psypost.org/2015/03/nature-vs-nurture-iq-of-children-in-better-educated-households-is-higher-study-of-twins-indicates-32733 và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/09/tri-thong-minh-la-di-truyen-bam-sinh-hay-hoc-tap-giao-duc.html. Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Psy Post và thông báo cho người dịch.
Đọc tiếp

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2015

NHỮNG NGUY HẠI CỦA TÍNH CẦU TOÀN

0
Đặc điểm của người cầu toàn

Cầu toàn là đặc tính mà chúng ta hay thừa nhận một cách rụt rè và thậm chí đôi khi lại tự hào đôi chút về điều đó (ví dụ, khi đi phỏng vấn, câu trả lời tiêu biểu của các ứng viên trước câu hỏi về điểm yếu lớn nhất của mình thừơng là “Tôi là người cầu toàn” – dù họ chẳng nghĩ đó là một yếu điểm tí nào.) Tuy nhiên, theo nghiên cứu trên Review of General Psychology, tính cầu toàn thực chất có thể cực kỳ nguy hiểm, nó kéo theo trầm cảm và lo âu nghiêm trọng, thậm chí còn là yếu tố nguy cơ tiềm tàng dẫn đến tự tử.

Định nghĩa quen thuộc về “người cầu toàn” thường đơn giản là những người luôn cần phải hoàn hảo, hay ít nhất là có vẻ như vậy. Theo Gordon Flett, tâm lý gia thuộc ĐH York, người giành nhiều năm nghiên cứu về những tác động tâm lý tiêu cực tiềm tàng của việc cầu toàn, chúng ta thường xem những nhân vật như Martha Stewarts, Steve Jobs hay Tracy Flicks là những người có năng suất tối ưu và đạt được nhiều thành công “thay vì là những người đau khổ vì tính cầu toàn của bản thân hay của những người họ yêu quý. Những người ‘bình thường’ khó có thể hiểu hay nhận thức được tính cầu toàn có sức mạnh hủy hoại như thế nào.” Tuy nhiên, đối với nhiều người cầu toàn, hình ảnh “bên ngoài” chỉ là một chiếc mặt nạ “bòn rút” cảm xúc còn bên trong “họ cảm thấy mình như những kẻ giả dối”, ông cho biết.

Cuối cùng, lớp giả trang đó cũng sẽ đỗ vỡ. Trong một nghiên cứu vào năm 2007, các nhà khoa học đã tiến hành phỏng vấn bạn bè và gia đình những người vừa tự kết thúc cuộc đời. Không một chút do dự, hơn một nửa những người tự tử được người thân mô tả là những “người hoàn hảo.” Tương tự, trong một nghiên cứu ở Anh về tình trạng tự tử ở sinh viên, 11 trên 20 sinh viên vừa qua đời được những người quen mô tả là những người sợ thất bại. Trong một nghiên cứu khác được xuất bản vào năm trước, hơn 70% trong số 33 thanh thiếu niên vừa tự tử được cha mẹ cho biết thường đưa ra những đòi hỏi và kỳ vọng “quá cao” về bản thân – những đặc điểm có mối liên hệ với tính cầu toàn.

Không cần phải nghĩ ngợi quá nhiều mới có thể giải thích lý do tại sao những người cầu toàn thường có những hành vi tự hại. Những tiêu chuẩn được ăn cả - ngã về không, bất khả thi mà những người cầu toàn thường đặt ra cho bản thân đi đôi với việc họ sẽ khó có thể cảm thấy hạnh phúc ngay cả khi đạt đến thành công. Nghiên cứu cho thấy việc lo âu về khả năng mắc phải sai lầm thường ngăn cản một số người theo chủ nghĩa hoàn hảo đặt đến thành công. Thomas S. Greenspon, nhà tâm lý và là tác giả của nghiên cứu mới đây về “thuốc giải độc cho tính cầu toàn” được công bố trên Psychology in the Schools, đặt câu hỏi, “Vậy liệu có tốt hay không nếu bác sĩ, luật sư hay cố vấn tài chính của bạn là người cầu toàn?” Câu trả lời là không. Nghiên cứu cho thấy, những người thành công nhất trong bất kỳ lãnh vực nào đều hiếm khi là người cầu toàn bởi lẽ lo sợ phạm phải sai lầm sẽ cản đường bạn. “Việc chờ bác sĩ phẫu thuật ra quyết định tuyệt đối chắc chắn chính xác có thể sẽ khiến tôi mất máu đến chết.”

Thế nhưng, những mối nguy hại của tính cầu toàn, đặc biệt là những liên hệ với việc tự tử, thường phần nào đó bị bỏ qua do những người “đam mê sự hoàn hảo” thường rất giỏi trong việc che giấu nỗi đau. Việc thừa nhận ý tưởng tự tử hay việc mình bị trầm cảm sẽ không phù hợp với hình ảnh mà họ cố gắng xây dựng. Tính cầu toàn không chỉ dẫn đến các xung năng tự sát mà còn đồng thời che đậy chúng.  

Tuy vậy, Greenspon cho biết, vẫn có những ranh giới giữa tính cầu toàn và việc theo đuổi sự hoàn thiện. Tính cầu toàn không chỉ dừng lại ở việc thúc đẩy bản thân cố gắng tối đa để hoàn thành mục tiêu; nó còn là phản xạ của cái tôi nội tâm mắc kẹt trong lo âu. “Người cầu toàn đặc biệt thường tin rằng họ không bao giờ là đủ tốt, rằng sai lầm là dấu hiệu của khiếm khuyết cá nhân, và con đường duy nhất để được chấp nhận như một cá thể là phải hoàn hảo.” Bởi lẽ, theo nghiên cứu, thứ duy nhất họ chắc chắn không hoàn thiện chính là lòng trắc ẩn với chính mình.

Nếu bạn có xu hướng cầu toàn, Flett đề nghị bạn nên hướng những đặc tính này ra bên ngoài. “Chúng ta đã biết việc tình nguyện và đóng góp vào việc thay đổi cuộc sống của người khác giúp bạn cảm thấy hài lòng hơn về bản thân như thế nào.” Nếu bạn vừa là một người cầu toàn, vừa là bậc làm cha mẹ, việc kiểm soát xu hướng này lại càng quan trọng hơn vì nghiên cứu cho thấy tính cầu toàn có thể được truyền từ đời này sang đời khác. Một cách đơn giản để giúp con cái bạn là kể chuyện. “Con trẻ thích được nghe cha mẹ hay thầy cô nói về những sai lầm họ đã phạm phải hay những thất bại họ đã vượt qua. Điều này sẽ giúp củng cố suy nghĩ ‘không có ai là hoàn hảo và bạn cũng không bắt buộc phải như vậy’ “

Chúng ta cũng cần phải giải quyết vấn đề này càng nhanh càng tốt vì mối liên hệ giữa tính cầu toàn và ý định tự sát cực kỳ nguy hiểm. Trớ trêu thay, một khi người cầu toàn đã quyết tâm kết thúc cuộc đời thì bản chất “đi tới cùng” của họ thường khiến họ thành công. Người cầu toàn thường hành động một cách chủ ý chứ không nông nổi, điều này đồng nghĩa với việc những kế hoạch tự sát của họ thường được tính toán và nghiên cứu rất kỹ lưỡng, Flett và cộng sự viết. Để kết luận, nhóm nghiên cứu trích lời một góa phụ tại Wyoming có chồng tự sát vào năm 2006, “Anh ất rất chủ động. Anh là một người cầu toàn. Tôi giờ đã biết rằng, cầu toàn đi đôi với trầm cảm chẳng khác gì một khẩu sung đã lên nòng.”


Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ New York Magazine (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của New York Magazine http://nymag.com/scienceofus/2014/09/alarming-new-research-on-perfectionism.html và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/09/tac-hai-cua-tinh-cau-toan.html. Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của New York Magazine và thông báo cho người dịch.
Đọc tiếp

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2015

TÂM LÝ HỌC TRONG “INSIDE OUT”

1
Các cảm xúc trong Inside Out

3/7/15 DACHER KELTNER and PAUL EKMAN
Năm năm trước, tác giả và đạo diễn Pete Docter của Pixar đã liên hệ với chúng tôi để nói về ý tưởng của một bộ phim trong đó mô tả cách thức các cảm xúc hoạt động trong đầu óc chúng ta và đồng thời định hình cách chúng ta phản ứng với những người xung quanh. Peter Doctor muốn diễn tả tất cả những điều đó trong tâm trí của một cô bé 11 tuổi khi cô đang phải trải qua những ngày khó khăn trong cuộc sống của mình.

Với tư cách những nhà khoa học nghiên cứu về cảm xúc trong nhiều thập kỷ, chúng tôi cảm thấy rất tự hào khi được hỏi ý kiến. Cuối cùng, chúng tôi trở thành các cố vần khoa học cho bộ phim “Inside Out” đang được trình chiếu.

Cuộc đối thoại của chúng tôi với Peter Docter và nhóm làm phim chủ yếu xoay quanh việc khoa học liên hệ như thế nào đến tâm điểm của bộ phim: Cách thức cảm xúc chi phối dòng dòng ý thức ra sao? Cảm xúc “tô màu” cho các ký ức quá khứ của chúng ta như thế nào? Cuộc sống cảm xúc của một bé gái 11 tuổi sẽ có những điều gì? (Các nghiên cứu cho thấy kinh nghiệm về những cảm xúc tích cực bắt đầu tuột dốc về cả tần suất lẫn cường độ ở độ tuổi này.)

“Inside Out” là câu chuyện về 5 loại cảm xúc – được nhân hóa thành các nhân vật Giận Dữ, Chán Ghét, Sợ Hãi, Buồn Bã và Vui Vẻ - vất vả kiểm soát tâm trí của cô bé Riley 11 tuổi trong giai đoạn chuyển nhà đầy khó khăn từ Minnesota tới San Francisco. (Một trong hai chúng tôi đã đề nghị đưa tất cả những cảm xúc hiện đang được nghiên cứu vào trong bộ phim nhưng Docter đã từ chối vì đơn giản rằng câu chuyệ nchỉ có thể chứa tối đa năm hay sáu nhân vật mà thôi.)
Tính cách chủ yếu của Riley là Vui Vẻ, điều này cũng phù hợp với những hiểu biết khoa học của chúng tôi. Nghiên cứu cho thấy căn tính của chúng ta được định hình bằng những cảm xúc cụ thể, chúng nhào nặn nên cách ta tri giác thế giới, thể hiện bản thân và khơi dậy những cách thế phản ứng nơi người khác.
Tuy nhiên, ngôi sao của bộ phim lại là Buồn Bã. “Inside Out” là bộ phim về mất mát và những điều chúng ta cảm nhận khi buồn bã. Riley mất bạn bè và ngôi nhà quen thuộc của mình khi đi khỏi Minnesota. Hơn thế nữa, cô bắt đầu bước vào tuổi “tiền vị thành niên” với đặc điểm là việc mất dần tuổi thơ.
Chúng tôi có thể có một chút băn khoăn với cách buồn bã được mô tả trong “Inside Out”. Buồn Bã là một nhân vật chậm chạp, chán nản mà Vui Vẻ phải kéo đi khắp nơi trong tâm trí Riley. Trong thực tế, nghiên cứu cho thấy buồn bã có mối liên hệ với việc làm gia tăng những kích thích về mặt thể lý, kích hoạt cơ thể hoạt động đáp ứng trước những mất mát. Trong bộ phim, Buồn Bã trông rất lôi thôi, xấu xí. Trong khi thực tế cho thấy người buồn bã lại có sức hút những người khác đến với mình để an ủi và giúp đỡ.
Thế nhưng, đặt những băn khoăn đó qua một bên, hình ảnh của Buồn Bã trong bộ phim đã thể hiện được hai cách nhìn trọng tâm của khoa học về cảm xúc.
Đầu tiên, cảm xúc tổ chức – chứ không phải cản trở - suy nghĩ lý trí. Theo truyền thống tư duy Tây Phương, quan điểm phổ thông cho rằng cảm xúc là kẻ thù của lý trí và làm gián đoạn những mối quan hệ hợp tác xã hội.
Dù vậy, thực tế thì cảm xúc định hướng cách chúng ta tri giác thế giới, các ký ức quá khứ của chúng ta và thậm chí đánh giá đạo đức về những điều đúng-sai. Đa phần, chúng sẽ dẫn dắt chúng ta theo những cách thế giúp ta đáp trả hiệu quả với tình huống hiện tại. Ví dụ, nghiên cứu cho thấy khi chúng ta tức giận, chúng ta thường ngay lập tức nhận ra những điều bất công, điều này giúp kích hoạt các hành động giúp khôi phục công bằng.
Chúng ta có thể nhận thấy điều này trong “Inside Out”. Buồn Bã dần dần giành quyền kiểm soát tiến trình suy nghĩ của Riley về những thay đổi cô phải trải qua. Điều này được thể hiện rõ nhất khi Buồn Bã tô đậm thêm màu xanh vào ký ức của Riley về quãng đời ở Minnesota. Nghiên cứu khoa học cho thấy những cảm xúc hiện tại định hình những gì chúng ta nhớ về quá khứ. Đây chính là chức năng tối quan trọng của Buồn Bã trong phim: nó giúp Riley nhận ra những thay đổi, những mất mát mình có, tạo nền móng để cô phát triển những phương diện mới trong căn tính của mình.
Thứ hai, cảm xúc tổ chức – chứ không phải cản trở - cuộc sống xã hội của chúng ta. Nghiên cứu đã phát hiện rằng cảm xúc tạo nên cấu trúc (chứ không chỉ là tô màu) những tương tác xã hội khác nhau như việc gắn bó giữa cha mẹ và con cái, những mâu thuẫn anh em, tình cảm tuổi mới lớn và cả những trao đổi giữa hai người thù ghét nhau.
Các nghiên cứu khác thì cho thấy chính giận dữ (nhiều hơn cả ý thức về chính trị) khiến tập thể xã hội đứng lên biểu tình và chống đối bất công. Một trong những nghiên cứu mà chúng tôi đã thực hiện cho thấy biểu hiện xấu hổ kích hoạt lòng tha thứ nơi người khác khi chúng ta lỡ có hành động vi phạm các quy tắc xã hội.
Chính điều này cũng được cường điệu hóa tron bộ phim. Bạn có thể cho rằng buồn bã là một trạng thái có đặc điểm tĩnh lặng, thụ động, thiếu vắng những hành động có chủ đích. Tuy nhiên trong “Inside Out”, cũng như trong thực tế cuộc sống, buồn bã thúc đẩy con người đến với nhau nhằm phản ứng lại trước những mất mát. Chúng ta thấy điều này khi Riley nổi giận, rời khỏi bàn ăn, bỏ lên lầu và nằm một mình trong căn phòng tối, để lại người bố băn khoăn không biết phải làm gì. Về cuối bộ phim, chính Buồn Bã đã đưa Riley trở lại với cha mẹ, nó có liên quan tới việc tiếp xúc và những thanh âm cảm xúc mà chúng tôi gọi là “vocal burst”, chúng thể hiện niềm vui sâu sắc khi đoàn tụ, đây là điều đã được một trong hai chúng tôi nghiên cứu trong phòng thực nghiệm.
“Inside Out” đưa đến một cái nhìn mới với nỗi buồn. Quan điểm mới của bộ phim là: Hãy ôm lấy nỗi buồn, hãy để nó được bộc lộ và hãy kiên nhẫn làm việc với những khó khăn cảm xúc của trẻ vị thành niên. Buồn bã sẽ soi tỏ những mất mát (trong tuổi thơ) và đưa gia đình đến với những điều mới mẻ: những đặc điểm mới được hình thành, cho cả con cái và cha mẹ.
Dacher Keltner là giáo sư tâm lý học tại ĐH California Berkeley
Paul Ekman là giáo sư tâm lý danh dự thuộc ĐH California, San Francisco

Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ New York Times (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của New York Times http://www.nytimes.com/2015/07/05/opinion/sunday/the-science-of-inside-out.html?_r=0 và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/08/tam-ly-hoc-trong-inside-out.html. Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của New York Times và thông báo cho người dịch.


Đọc tiếp

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2015

TÍNH TOÁN QUÁ MỨC KHIẾN CHÚNG TA TRỞ NÊN ÍCH KỶ

0
Lý do khiến một số người ích kỷ?

 Một nghiên cứu mới vừa cho thấy việc tính toán tưởng chừng như rất giản đơn cũng có thể làm chúng ta trở nên ích kỷ và hành xử kém đạo đức hơn.

Các nhà nghiên cứu từ ĐH Hong Kong, ĐH Toronto và ĐH Northwestern đã đưa ra giả thuyết cho rằng việc quá chú trọng đến con số sẽ tạo ra “tư duy tính toán” khiến chúng ta sử dụng cách giải quyết mang tính định lượng nhiều hơn khi tiếp cận một vấn đề, bỏ qua tầm ảnh hưởng của những hệ quả  đạo đức và mối quan hệ liên cá nhân trong quyết định của mình.

Các nhà khoa học đã kiểm chứng giả thuyết này thông qua chuỗi 5 thực nghiệm khác nhau.

Wanf cùng các cộng sự viết trong tạp chí Organizational Behavior and Human Decision Processes, “Sau khi tham gia thực hiện các nhiệm vụ tính toán, các nghiệm thể tham gia vào thực nghiệm thường dễ bị đánh gục bởi sức hấp dẫn của phần thưởng, họ sẽ hành xử ích kỷ và thiếu trung thực hơn. Như vậy, cũng như việc các phần thưởng về tiền bạc, vật chất có thể ảnh hưởng đến quyết định của chúng ta trong thực nghiệm, có vẻ như hành động tính toán đơn thuần cũng có thể kích hoạt ‘tư duy tính toán’ trong bối cảnh đạo đức và xã hội, làm kích hoạt nhiều hơn những hành vi hướng tới bản thân hay thậm chí phi đạo đức.”

Trong thực nghiệm đầu tiên, các sinh viên tham gia vào nghiên cứu được yêu cầu đọc một bài đọc ngắn – một bài giảng kinh tế về việc tính toán giá trị đầu tư hay một bản mô tả ngắn gọn về lịch sử cách mạng công nghiệp – trước khi tham gia một trò chơi tài chính được thiết kế để đo lường các hành vi ích kỷ hoặc phi đạo đức.

Trong Trò chơi Độc tài này, các nghiệm thể sẽ được cho 10 USD và được yêu cầu chia sẻ số tiền này – từ 0 USD đến hết cả 10 USD – cho một người chơi giấu mặt khác.

Những nghiệm thể thực hiện các nhiệm vụ tính toán thường sẽ ích kỷ hơn. Khả năng họ giữ lại hết 10 USD sẽ cao hơn 3 lần so với nhóm còn lại.

Trong một thực nghiệm thứ hai, các nghiệm thể được yêu cầu tham gia một trò chơi trong đó, họ có cơ hội nói dối những người chơi khác để đạt được những phần thưởng lớn hơn. So sánh với những người thuộc nhóm còn lại, các nghiệm thể trong nhóm tính toán nói dối gấp đôi để có được nhiều tiền hơn.

Một nghiên cứu khác cũng cho thấy chỉ cần cho các nghiệm thể giải các bài toán trong bài thi GRE cũng đủ để tạo ra “tư duy tính toán”.

“Những người ở trong môi trường tính toán không chỉ ích kỷ mà còn gian lận nhiều hơn những người không nằm trong môi trường tính toán. Vì thế, tư duy tính toán xem ra có vẻ mang lại những tác hại tiêu cực (dù không hữu ý) lên việc đưa ra những quyết định mang tính đạo đức”, Wang cùng cộng sự cho biết.

Để kiểm chứng xem liệu những hệ quả trên của tư duy tính toán có thể được giảm thiểu hay không, các nhà nghiên cứu đã thực hiện một thực nghiệm khác trong đó yêu cầu nghiệm thể xem và lựa một số hình ảnh gia đình trước khi thực hiện nhiệm vụ tính toán hoặc nhiệm vụ đọc không tính toán, điều này được thực hiện nhằm mục đích khơi gợi những giá trị cộng đồng nơi người tham gia.

Tuy những hình ảnh gia đình trên chỉ có tác dụng rất nhỏ trong việc ngăn ngừa các hành vi ích kỷ, nhóm nghiên cứu cho rằng các nghiên cứu trong tương lai có thể tìm hiểu những cách thức hiệu quả hơn để đưa các giá trị đạo đức và xã hội vào nơi làm việc nhằm nỗ lực giảm thiểu các hành vi thiếu đạo đức.

Tài liệu tham khảo
Wang, L., Zhong C.-B., Murnighan J.K. (2014). The social and ethical consequences of a calculative mindset. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 125(1), 39–49. DOI: 10.1016/j.obhdp.2014.05.004

Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Psychological Science (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Psychological Science http://www.psychologicalscience.org/index.php/news/minds-business/number-crunching-may-make-people-more-selfish.html và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/08/tinh-toan-qua-muc-khien-chung-ta-ich-ky.html. Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Psychological Science và thông báo cho người dịch.



Đọc tiếp

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2015

NHỮNG THAY ĐỔI VỀ NHÂN CÁCH KHI BẠN THẤT NGHIỆP

0
Hệ quả của thất nghiệp
Theo một nghiên cứu do Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ công bố, thất nghiệp có thể làm thay đổi những tính cách căn bản của con người, khiến chúng ta trở nên ít tận tâm, ít dễ chịu và kém cởi mở hơn trước. Điều này sẽ khiến việc tìm công việc mới trở nên khó khăn hơn rất nhiều.

Theo TS Christopher J. Boyce thuộc ĐH Stirling, Hoa Kỳ, “Kết quả thách thức ý tưởng cho rằng nhân cách của chúng ta là ‘bất di bất dịch’, đồng thời cho thấy những tác động của các nhân tố bên ngoài như thất nghiệp ảnh hưởng đến nhân cách cơ bản của chúng ta ra sao. Nó cho thấy thất nghiệp có những tác động về mặt tâm lý sâu rộng hơn những gì ta vẫn nghĩ.”

Boyce cùng các cộng sự đã nghiên cứu trên 6769 người trưởng thành tại Đức (3733 đàn ông và 3036 phụ nữ) thông qua một trắc nghiệp nhân cách được thực hiện 2 lần trong vòng 4 năm, từ 2006 -2009. Trong nhóm mẫu dân số, có 210 nghiệm thể bị thất nghiệp từ 1 đến 4 năm vào bất kỳ thời điểm nào trong thời gian nghiên cứu; 251 nghiệm thể khác bị thất nghiệp it hơn 1 năm nhưng sau đó tiếp tục làm việc trở lại.

Các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu các đặc điểm nhân cách “Big Five” – bao gồm các yếu tố: sự tận tâm (conscientiousness), tâm lý bất ổn (neuroticism), tính dễ chịu (agreeableness), hướng ngoại (extraversion) và tính cởi mở (openness). Nhóm nghiên cứu nhận thấy, so sánh với nam giới không bị mất việc, nam giới mất việc thường tăng tính dễ chịu trong 2 năm đầu bị thất nghiệp. Tuy nhiên sau hai năm, mức độ dễ chịu của họ bắt đầu suy giảm và về lâu dài, tụt xuống thấp hơn những người không bị mất việc. Đối với nữ giới, tính dễ chịu sẽ suy giảm theo mỗi năm bị thất nghiệp.

“Trong giai đoạn đầu tiên bị thất nghiệp, cá nhân thường có xu hướng hành xử theo kiểu dễ chịu nhằm nỗ lực tìm kiếm công việc khác hay xoa dịu những người xung quanh. Tuy nhiên những năm sau đó, khi tình huống trở nên quen thuộc, xu hướng này có thể bị suy yếu.”

Đối với yếu tố tận tâm, nam giới thất nghiệp càng lâu thì điểm số yếu tố này giảm bớt càng nhiều. Theo các nhà nghiên cứu, yếu tố này cũng gắng với mức độ cá nhân hài lòng với thu nhập của mình. Khi so sánh về giới, nữ giới thường trở nên tận tâm vào các giai đoạn đầu và cuối thời gian thất nghiệp, tuy nhiên lại sụt giảm vào giai đoạn giữa. Các nhà nghiên cứu đưa ra lý thuyết cho rằng phụ nữ có thể vẫn tích lũy sự tận tâm thông qua những hoạt động không liên quan đến công việc gắn liền với giới nữ, ví dụ như chăm sóc gia đình.

Nam giới thất nghiệp thường cho thấy mức độ cởi mở ổn định trong năm đầu tiên, tuy nhiên điểm số sẽ giảm dần theo thời gian không có công việc. Ngược lại, phụ nữ cho thấy sự sụt giảm đáng kể trong tính cởi mở trong năm thứ hai và thứ ba bị thất nghiệp, tuy nhiên điểm số sẽ gia tăng vào năm thứ tư.

Boyce cho biết, nghiên cứu cho rằng tác động của thất nghiệp không chỉ đơn giản là lo lắng về mặt kinh tế - người thất nghiệp có thể bị đánh giá sai lầm vì những thay đổi không thể tránh được về nhân cách, điều này có nguy cơ đào sâu những khó khăn trong việc tìm kiếm công việc mới.

“Vì vậy, các chính sách công có vai trò then chốt trong việc phòng tránh những thay đổi tiêu cực về nhân cách trong xã hội thông qua làm giảm tỉ lệ thất nghiệp và cung cấp sự hỗ trợ lớn hơn cho những người không có công việc. Như thế, các chính sách giảm thiểu thất nghiệp đóng vai trò rất quan trọng không chỉ trong việc bảo vệ nền kinh té mà còn trong công tác hỗ trợ sự phát triển nhân cách tích cực của mỗi cá nhân.”

Bài báo: “Personality Change Following Unemployment,” by Christopher J. Boyce, PhD, and Alex M. Wood, PhD, University of Stirling and University of Manchester; Michael Daly, PhD, University of Stirling; and Constantine Sedikides, PhD, University of Southampton, Journal of Applied Psychology; online, Feb. 9, 2015.

Link full nghiên cứu:
http://www.apa.org/pubs/journals/releases/apl-a0038647.pdf

Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ APA (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của APA http://www.apa.org/news/press/releases/2015/02/personality-unemployment.aspx và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/08/tac-hai-tam-ly-cua-that-nghiep.html . Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của APA và thông báo cho người dịch.

Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter