Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2014

TẠI SAO TA CẢM THẤY KHÓ KHĂN KHI PHẢI SỐNG VỚI NGƯỜI ÁI KỶ

0

Susan Krauss Whitbourne, Ph.D.

Những nét tính cách đi kèm với sự ái kỷ của một người thường khiến cuộc sống của những người xung quanh trở nên cực kỳ khó khăn. Những người có tính ái kỷ cao thường chuyên quyền, đòi hỏi và thích tập trung vào bản thân mình. Họ cũng hay trốn tránh trách nhiệm, tin rằng công việc nhà thật chẳng xứng tầm với nhân phẩm cao sang của họ. Bằng cách liên tục đòi hỏi sự ngưỡng mộ, họ khiến những người yêu thương và sống quanh họ gặp căng thẳng – bạn không bao giờ đem lại đủ sự chú ý và tung hô cho người ái kỷ cả đâu.

Bên cạnh đó, bạn có thể thêm sự cầu toàn, nhu cầu đưa người khác vào một bộ những chuẩn mực lý tưởng, vào trong danh sách những vấn đề khi phải sống với người ái kỷ. Mà còn phải là một loại cầu toàn đặc biệt! Trong nghiên cứu được thực hiện bởi tâm lý gia người Canada Simon Sherry cùng đồng nghiệp (2014), gần 1000 sinh viên ĐH tự đánh giá bản thân về mức độ ái kỷ và một vài kiểu cầu toàn. Hai phần ba mẫu là nữ, và khoảng một nửa là người gốc Châu Á, đây là những dữ kiện bạn cần phải nhớ khi đến phần diễn dịch kết quả nghiên cứu ở phía dưới. Cũng cần đề cập đến việc nghiên cứu không chỉ tập trung vào những người có rối loạn nhân cách ái kỷ, mà còn đến những mức độ ái kỷ “bình thường” hơn chưa cần đến can thiệp lâm sàng.

Nghiên cứu đã đưa ra một số ý tưởng đáng chú ý.
Nhằm đo đạc tính ái kỷ, Sherry cùng nhóm nghiên cứu đã sử dụng Bảng câu hỏi Nhân cách Ái kỷ nổi tiếng, một trắc nghiệm gồm 40 câu hỏi hai lựa chọn. Ví dụ, một người ái kỷ cao sẽ đồng ý với phát biểu “Tôi là người siêu việt,” nhưng lại không tán thành phát biểu trái ngược, “Tôi khá giống với mọi người”.
Các tác giả dự đoán những người có nét nhân cách ái kỷ sẽ cần cảm thấy bản thân hoàn hảo, và, khi xét rộng hơn, những người gần gũi họ cũng phải hoàn thiện. Điều này gợi nhớ đến lời nói của hai nhân vật ái kỷ, Galinda và Fiyero, trao cho nhau trong “Wicked”, “Anh hoàn hảo, Em hoàn hảo, nên chúng ta cùng hoàn hảo”.

Theo Sherry và đồng sự, nguyên nhân của khát khao cầu toàn nơi người ái kỷ nằm ở học thuyết cho rằng người ái kỷ chưa bao giờ hoàn toàn vượt qua được cách nhìn lý tưởng hóa mà khi họ còn thơ ấu giành cho cha mẹ mình. Giống một tấm gương họ thường soi mình, những người ái kỷ sử dụng những hình ảnh hoàn hảo từ người khác để “phản chiếu hình ảnh tự đại của mình vào trong bản ngã” [Tham khảo thêm giai đoạn gương soi của Lacan]
Cơ chế gương soi nơi người ái kỷ

Ở mức độ nhận thức, những người mang tính ái kỷ nhìn thế giới từ vị trí của cảm giác mạnh mẽ về quyền lực, đồng thời họ tin rằng họ, và những người xung quanh, cần phải trở nên hoàn hảo. Sự kết hợp giữa mối liên hệ sâu xa đến cha mẹ và những tiến trình tư duy bị bóp méo duy trì sự chuyên quyền và tự đại tạo nên “bộ đôi hoàn cảnh” khiến người ái kỷ trở thành một người tình không thể nào chịu đựng nổi.
Nếu bạn từng ở chung với một người như thế, bạn sẽ có thể liên tưởng đến tiền đề của nghiên cứu. Nếu người yêu của bạn là người ái kỷ, họ sẽ liên tục soi mói những thiếu sót của bạn, đặc biệt những điều có thể mắt thấy tai nghe. Khi tóc bạn bị rối, răng bạn dính bẩn, hay bạn đang ăn mặc “không đúng” hoàn cảnh, nếu không ép bạn chỉnh sửa thì họ cũng sẽ liền quở trách bạn. Việc có một người canh chừng những lỗi chải chuốt hiển hiện có thể là tốt, nhưng nó cũng có thể khiến bạn cảm thấy khó chịu, nếu chưa đến mức bị xúc phạm, khi bề ngoài của mình liên tục bị giám sát và chỉnh sửa.

Sherry và nhóm nghiên cứu đã sử dụng những câu hỏi sau để điều tra một vài phương diện của sự cầu toàn:
  1. Cầu toàn đối với chính mình: “Khi tôi đang thực hiện công việc, tôi không thể thư giãn cho đến khi nó hoàn hảo.”
  2. Cầu toàn đối với người khác: “Nếu tôi yêu cầu người khác làm gì cho tôi, tôi kì vọng họ sẽ hoàn thành mà không có sai sót.”
  3. Cầu toàn với xã hội: “Mọi người luôn kì vọng sự hoàn hảo nơi tôi.”
  4. Cầu toàn trong hình ảnh bản thân (3 kiểu): “Tôi luôn cố gắng giới thiệu một hình ảnh của sự hoàn hảo”; “Thừa nhận thất bại trước mặt mọi người là điều tồi tệ nhất”; “Nếu tôi tự làm bẽ mặt mình trước mặt mọi người thì sẽ rất kinh khủng”.
  5. Nhận thức cầu toàn: “Tôi phải hoàn hảo.”
Nghiên cứu chỉ có tính tương quan, nghĩa là bạn không thể xác định điều gì dẫn đến điều gì. Tuy nhiên, trong những mối quan hệ chính yếu mà họ tập trung nghiên cứu, các tác giả không tìm thấy tương quan với một số những yếu tố quan trọng, bao gồm giới và nguồn gốc dân tộc [có đề cập đầu bài]. Những phân tích của nhóm đưa đến kết luận rằng chỉ có hai thang đo cầu toàn đóng vai trò quan trọng. Với cả nam lẫn nữ, cầu toàn với người khác và cầu toàn trong việc giới thiệu bản thân (“Tôi luôn cố gắng giới thiệu một hình ảnh của sự hoàn hảo”) có liên hệ nhiều nhất đến điểm số ái kỷ.
Nghiên cứu cho rằng, bất kể giới tính là gì, cầu toàn với người khác có liên hệ một cách hạn chế đến nhưng nét nhân cách ái kỷ. Người ái kỷ cho thấy ít quan tâm hơn đến việc trở nên hoàn hảo so với việc trông có vẻ hoàn hảo trước mặt thế giới. Nếu bạn giành nhiều thời gian ở bên một người ái kỷ, bạn có thể sẽ gặp rất nhiều rắc rối với việc người ấy quá tập trung chú ý quá đến vẻ bề ngoài. Thật vậy, trên thang đo đo lường mức độ người tham gia thật sự cảm thấy lo lắng về việc thiếu hoàn hảo, những người ái kỷ thường có điểm khá thấp. Một lần nữa, với người ái kỷ, bề ngoài là tất cả.

Không những bạn có thể biết được những người yêu, bạn bè hày thành viên gia đình có tính ái kỷ sẽ mong bạn trở nên hoàn hảo, bạn còn dự đoán được việc họ ngoại hóa những cảm giác yếu đuối của bản thân bằng cách áp đặt chúng lên bạn. Khi người yêu của bạn đang lo lắng rằng họ nhìn trông mệt mỏi, căng thẳng hay bê bối, những quan ngại đó sẽ chuyển thành việc phê phán chính bạn nhếch nhác và mỏi mệt. Những người ái kỷ luôn cố gắng để có vẻ ngoài (đôi khi không cần thiết) hoàn hảo, điều này có nghĩa là họ phải “bơm” cái tôi của mình lên bằng cách trang hoàng cho diện mạo, khả năng và thành công của bản thân trước mặt người khác. Họ sẽ nhận những thành tựu không phải do bản thân đạt được, và trở nên bận bịu tạo dựng màn kịch làm lóa mắt mọi người.
Đáng chú ý, có thể nhận thấy một số khác biệt về văn hóa. Những người Canada gốc Á Châu tham gia nghiên cứu mang tính ái kỷ nhiều hơn những người gốc Á Châu ở những nơi khác, điều này cho thấy những người thuộc các nền văn hóa mang nhiều tính tập thể có khả năng ít muốn cảm thấy khác biệt hơn. Cũng cần ghi nhận rằng không hề có khác biệt nào về giới tính-nghiên cứu cho thấy phụ nữ có khuynh hướng ái kỷ cũng trông đợi sự hoàn hảo nơi được người yêu tương tự như nam giới.

Kết luận: Nếu bạn cảm thấy mình là một người ái kỷ, bạn có thể sẽ muốn xem xét cách bạn đối xử với những người gần gũi nhất với bạn. Thay vì xem họ như một phần nối dài của bản thân mình, hãy nhận thấy rằng phần còn lại của thế giới không nghĩ như thế. Mọi người nhìn bạn qua hành vi của chính bạn chứ không phải của người yêu bạn. Ngược lại, nếu bạn là mục tiêu thường trực của cặp mắt soi mói của người bạn mình, hãy nhận ra rằng việc liên tục bắt bẻ đến từ những yếu đuối bên trong họ.
Việc hiểu được tính ái kỷ và cầu toàn liên hệ với nhau như thế nào có những giá trị thực tiễn. Những người mang nhiều trong mình hai tính cách này cùng những người sống chung có thể học được cách chấp nhận nhiều hơn những thiếu sót của bản thân và của người khác. Sự chấp nhận này có tác động lớn lên sức khỏe và sức sống của từng người và của cả mối quan hệ.

Tài liệu tham khảo
Sherry, S. B., Gralnick, T. M., Hewitt, P. L., Sherry, D. L., & Flett, G. L. (2014). Perfectionism and narcissism: Testing unique relationships and gender differences. Personality And Individual Differences, 61-62, 52-56. doi:10.1016/j.paid.2014.01.007


http://www.psychologytoday.com/blog/fulfillment-any-age/201407/why-its-so-hard-live-narcissists
Đọc tiếp

Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2014

ĐẶC ĐIỂM BẤT NGỜ CỦA NHỮNG NHÀ LÃNH ĐẠO XUẤT CHÚNG

0


Nghiên cứu thực hiện trên 63 công ty và các CEO cho thấy một yếu tố lãnh đạo không ai ngờ tới.

Có phải những nhà lãnh đạo vĩ đại là những người khoa trương, biết tất cả mọi sự, kiểm soát và không ngại tin rằng quyết định của mình là đúng đắn?
Mọi người mong đợi sự chắc chắn? Họ cần có người lãnh đạo?
Có thật vậy không?
Một trong những yếu tố bất ngờ nhất liên tục được phát hiện nơi những nhà lãnh đạo lại chẳng liên quan gì đến sự khoa trương, tính chắc chắn hay quyền lực.
Nghiên cứu mới xuất bản trên Administrative Science Quarterly một lần nữa chứng minh chính sự khiêm nhường mới đem lại năng suất tốt nhất cho doanh nghiệp.
Phát hiện này được đúc kết từ những phiên phỏng vấn với các CEO của 63 công ty và gần 1000 nhân viên (Ou et al., 2014). Nhóm nghiên cứu tìm ra rằng các CEO khiêm tốn thường ủy quyền cho nhóm quản lý cấp cao, điều này hóa ra lại tạo điều kiện cho nhóm quản lý tham gia vào công việc tốt hơn.

Bầu không khí tổ chức ủy quyền này sau đó sẽ lan truyền xuống các quản lý cấp trung, giúp tăng hiệu quả, cam kết và khả năng tham gia vào công việc của họ
Các tác giả nghiên cứu mô tả những đặc điểm quan trọng của người lãnh đạo khiêm nhường như sau:
“Nhìn chung, những người khiêm tốn chấp nhận rằng có những thứ lớn lao hơn bản thân họ. Sự khiêm nhường biểu hiện qua khả năng tự nhận thức, sự cởi mở với phản hồi, việc trân trọng người khác, ít tập trung vào bản thân, và cố gắng vượt lên chính mình.
Người khiêm tốn sẵn sàng tìm kiếm hiểu biết chính xác về bản thân, chấp nhận sự bất toàn của mình trong khi vẫn biết rõ khả năng và tài năng của họ.
Họ đánh giá cao giá trị tích cực, sức mạnh và sự cống hiến của những người khác và vì vậy, không cần phải bảo vệ quyền hành hay thống trị trước mọi người.” (Ou et al., 2014).
Đây không phải là nghiên cứu đầu tiên phát hiện ra yếu tố lãnh đạo bất ngờ này.
Một nghiên cứu khác của Hoa Kỳ xoay quanh các CEO của 1000 công ty thuộc danh sách Fortune (Collins, 2001) tìm ra rằng sự khiêm tốn cũng là nhân tố quan trọng giúp biến lãnh đạo từ “giỏi thành vĩ đại”.
Những người đứng đầu hiệu quả nhất không phải là những người khoe khoang hoành tráng; họ là những người khiêm tốn và khiêm nhường đến không ngờ.
Đồng thời, nhìn chung, họ cũng được nhiều người yêu mến hơn so với những đồng nghiệp độc đoán.
Tác giả của nghiên cứu đầu tiên kết luận:
 “ Phát hiện của chúng tôi thay đổi những hiểu lầm thường thấy về việc các CEO khiêm nhường thì thiếu tự tin hay có thể không đủ khả năng thúc đẩy người khác
Chúng tôi cho rằng những nhà lãnh đạo có ảnh hưởng không nhất thiết là phải nam tính, thống trị và quyền lực. Thay vào đó, họ có thể trở nên khiếm tốn và hình thành ý nghĩa được chia sẻ xuyên suốt các cấp độ phân quyền, điều này sau đó sẽ tác động đến thái độ và hành vi của nhân viên các cấp thấp hơn.

Các CEO khiêm tốn có giá trị chiến lược trong xây dựng ưu thế cạnh tranh thông qua việc vun đắp những nhận thức chung nơi tất cả các cấp nhân viên.” (Ou et al., 2014).
http://www.spring.org.uk/2014/08/the-most-surprising-attribute-of-great-leaders.php
Đọc tiếp

Thứ Năm, 14 tháng 8, 2014

LÒNG TIN ĐƯỢC QUYẾT ĐỊNH MỘT CÁCH VÔ THỨC

0
Phần não chịu trách nhiệm cho phản ứng sinh tồn của chúng ta đồng thời cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá một cách vô thức độ tin cậy của một khuôn mặt – với tỉ lệ phần ngàn giây.
Emma Saville, The Conversation, 6/8/2014

Một nghiên cứu được xuất bản hôm 6/8 trên The Journal of Neuroscience cho thấy cách thức hạnh nhân- phẩn cấu trúc não liên hệ đặc hiệu với các phản ứng sơ cấp như sợ hãi- xử lý trong tiềm thức thông tin vê khuôn mặt và quyết định độ đáng tin của nó trong một phần ngàn giây.
Các nhà nghiên cứu tại ĐH New York đã sử dụng MRI nhằm theo dõi hoạt động của hạnh nhân trong lúc đối tượng đang xem một loạt những khuôn mặt thực tế và nhân tạo. Trong đó, các khuôn mặt sẽ có thay đổi chút ít trong các “đặc điểm đáng tin”, như phần trong lông mày cao hơn và xương gò má rõ hơn.
Các gương mặt trên xuất hiện mỗi lần chỉ vài phần ngàn giây- vừa đủ để hạnh nhân phản ứng trong khi đối tượng vẫn chưa kịp quyết định mức độ đáng tin một cách ý thức.
Ngay sau bức hình đầu tiên, bức hình thứ hai là một khuôn mặt có độ đáng tin trung bình sẽ xuất hiện trong thời gian dài hơn nhằm tránh việc tín hiệu của tấm hình đầu được xử lý bằng ý thức.
Gương mặt với mức đáng tin thấp, trung bình và cao. Journal of Neuroscience, CC BY


Một vài khu vực trong hạnh nhân cho thấy chỉ hoạt động phản ứng với riêng khuôn mặt không đáng tin. Các khu vực khác vẫn có hoạt động phản ứng với tất cả các gương mặt nhưng cường độ mạnh nhất vẫn là trước gương mặt có độ tin cậy thấp.
 “Hạnh nhân được liên kết chặt chẽ với việc xử lý các “manh mối” mang tính đe dọa”, Ricky van der Zwan, Giáo sư Tâm lý Thỉnh giảng tại ĐH Southern Cross, cho biết. “Một phần lý do nó xử lý nhanh như vậy là vì lúc bạn đối diện với mối đe dọa, bạn sẽ muốn có khả năng phản ứng thật nhanh, nghiên cứu này cho thấy hạnh nhân xử lý sự không đáng tin như một hiểm họa.
“Hoạt động của hạnh nhân giữ an toàn cho chúng ta. Nó muốn cho chúng ta cơ hội tốt nhất để sống lâu hơn một tí, mà trong trường hợp này, bằng cách tránh xa những người không đáng tin.”
Skye McDonald, Giáo sư Tâm lý Thần kinh Lâm sàng tại UNSW, cho biết việc những người trông có vẻ không đáng tin mang lại cảm giác khó chịu là hoàn toàn có thể xảy ra. Tuy nhiên, sau hết, chúng ta vẫn có thể vượt qua mối ngờ vực ban đầu đó.
Bà nói, “Việc tăng cường xử lý chi tiết—tăng ý thức—đồng thời kết hợp nhiều tiến trình nhận thức khác như trí nhớ, suy luận, giải quyết vấn đề, cũng sẽ thay thế và lấn át ấn tượng ban đầu nêu trên”
 “ Ngược lại, các khuôn mặt “đáng tin” lúc đầu cuối cùng vẫn có thể bị gắn với cảm giác nghi ngờ rõ rệt bắt nguồn từ hành vi của cá nhân đó”
Romina Polarmo, Giáo sư Tâm lý Thỉnh giảng thuộc trường ĐH Western Australia, cho rằng hạnh nhân được kết nối với hầu hết tất cả các phần của não bộ, như vậy có thể những khu vực khác đã cung cấp đường phản hồi ngược lại vùng này để xử lý khuôn mặt.
 “Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu liệu có một vùng xử lý khuôn mặt của não bộ được kích hoạt cùng lúc với hạnh nhân hay không.  Nhưng nghiên cứu cũng không cho thấy bất kỳ hoạt động nào khác trong khu vực đó khi đối tượng xem các bức hình trong một thời gian dài hơn – khi bộ não có đủ thời gian để xử lý các khuôn mặt một cách có ý thức.”
Giáo sư van der Zwan nói thêm: “Tất cả đều nằm ở ấn tượng đầu tiên. Trong 33/1000 giây, chúng ta quyết định liệu có nên tin một người nào đó hay không. Điều ta quyết định một cách vô thức trong khoảnh khắc ấy sẽ phải mất một thời gian dài để thay đổi nó.”

Đọc tiếp

Thứ Tư, 13 tháng 8, 2014

PHỤ NỮ THƯỜNG CHỊU THIỆT THÒI TRÊN BÀN ĐÀM PHÁN LƯƠNG

0

Phụ nữ thường rời bàn đàm phán với mức lương thấp và ít điều kiện ưu đãi hơn đàn ông.

Nghiên cứu mới chỉ ra trong những thời điểm thương lượng ban đầu, những người thương lượng thường đánh đồng những đặc điểm nữ tính với các suy nghĩ tiêu cực về kỹ năng thương lượng của phụ nữ.

Trong nghiên cứu gần đây, nhà khoa học tâm lý Eric Gladstone và Kathleen M. O’Connor, thuộc trường Đại học Cornell, cùng tìm hiểu việc sở hữu những đặc điểm nữ tính trên khuôn mặt có tác động như thế nào đến bàn thương thảo. Nhóm nghiên cứu giả định rằng những người có các đặc điểm nữ tính trên khuôn mặt, kể cả đàn ông, sẽ thường bị nhìn nhận là ít quyết đoán, ít gây hấn và dễ thỏa thuận hơn.
Dựa trên những đánh giá thị giác tức thời này, người thương lượng thường cư xử với những người có các đặc điểm nữ tính như những người đàm phán kém hiệu quả.

Trong thực nghiệm, Gladstone và O’Connor sử dụng một bộ các bức ảnh được chuẩn hóa có khuôn mặt thật của cả đàn ông và phụ nữ. Một vài đặc điểm riêng biệt sẽ được thêm vào để gương mặt trở nên nữ tính hơn, ví dụ phần lông mày nổi bật hơn, mũi nhỏ và môi dày hơn. Trong các bức ảnh dùng trong thực nghiệm, những đặc điểm trên được tinh chỉnh chính xác thành hai bộ ảnh 10% nữ tính hoặc nam tính hơn các ảnh “trung tính”.
Các nghiệm thể được cho biết sẽ tham gia vào một cuộc đàm phán song phương với một trong hai người. Nhóm nghiên cứu sẽ cho họ thấy hình hai gương mặt đàn ông hay hai gương mặt phụ nữ và nói với người tham gia đây là hình của một cặp song sinh. Một trong hai tấm hình sẽ là gương mặt “trung tính” trong khi tấm còn lại sẽ là bức ảnh đã được chỉnh để trở nên nữ tính hơn 10%.

Khi nghiệm thể được yêu cầu chọn một người họ muốn ngồi vào bàn đàm phán trong số hai người “song sinh”, người tham gia rõ ràng thường chọn tấm hình người có khuôn mặt nữ tính hơn. Trong bảng hỏi, nghiệm thể đồng thời đánh giá những khuôn mặt nữ tính là dễ thỏa thuận và ít mạnh mẽ hơn- điều này có nghĩa là đối thủ sẽ dễ dãi hơn trên bàn đám phán.

Chưa hết, khi người tham gia được yêu cầu chọn nhân vật “song sinh” nào họ muốn đại diện cho mình để đi đàm phán, lựa chọn lúc này lại nghiêng về nhân vật có khuôn mặt nam tính hơn. Người tham gia có vẻ cho rằng khuôn mặt nam tính đồng nghĩa với một người thương lượng mạnh mẽ và thành công hơn.
Thực nghiệm thứ hai cho thấy nghiệm thể đồng thời cũng đưa ra mức đề nghị thấp hơn rõ rệt cho “đối thủ” đàm phán có gương mặt nữ tính hơn.

Gladstone và O’connor viết trong tạp chí Organizational Behavior and Human Decision Processes “Đặc điểm khuôn mặt có thể dẫn đến những giả định về đặc điểm nhân cách, giống như sự hợp tác và tính gây hấn,”. “Những giả định này không chỉ tác động đến việc lựa chọn đối thủ của ngươi thương lượng  mà còn đến cách đối xử với đối phương trong lúc đàm phán.”

Nhóm nghiên cứu lưu ý rằng trong thực nghiệm, ngươi tham gia chỉ mới đánh giá đối phương qua các bức ảnh, họ sẽ phải cân nhắc quyết định nhiều hơn nếu hai bên có sự tương tác và duy trì liên hệ thị giác xuyên suốt những buổi đàm phán.

Tài liệu tham khảo
Gladstone, E., O’Connor, K. M. (2014). A counterpart’s feminine face signals cooperativeness and encourages negotiators to compete. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 125(1), 18-25. DOI: 10.1016/j.obhdp.2014.05.001


Đọc tiếp

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

CÁC NHÀ TÂM LÝ PHÁT HIỆN HARRY POTTER ĐEM LẠI ĐIỀU KỲ DIỆU CHO CÁC ĐỘC GIẢ NHÍ

0

Đánh bại Voldemort có lẽ không phải là thắng lợi lớn nhất của Harry Potter, mà đó chính là việc dạy thế hệ trẻ toàn cầu cách đập tan định kiến. Ít nhất đó là kết quả của một bài báo trong Tạp chí Tâm lý Xã hội Ứng dụng, trong đó cho rằng việc đọc cả bộ Harry Potter nâng cao đáng kể nhận thức của thanh thiếu niên đối với các nhóm người bị kì thị như người nhập cư, người đồng tính và người tị nạn.
Pacific Standard liệt kê 3 nghiên cứu khác nhau sử dụng trong bài báo.
Nghiên cứu đầu cho 34 học sinh lớp 5 người Ý tham gia vào một khóa học 6 tuần về Potter. Nhóm nghiên cứu bắt đầu bằng việc cho các nghiệm thể điền vào bảng câu hỏi về người nhập cư, sau đó chia các em ra thành hai nhóm và đọc các đoạn văn được chọn lựa từ bộ truyện. Các học sinh trong nhóm đầu bàn luận về vấn đề định kiến và cực đoan theo những chủ đề trong truyện, còn nhóm thứ hai thì làm nhóm kiểm soát (control group), không bàn luận gì. Các học sinh trong nhóm đầu cho thấy có “cải thiện thái độ đối với người nhập cư” nhưng chỉ khi các em đồng hóa họ với Potter.
Nghiên cứu thứ hai thực hiện với 117 học sinh trung học phổ thông Ý cho thấy, nhìn chung, sự đồng hóa cảm xúc của người đọc với Harry được gắn liền với nhận thức tích cực hơn về cộng đồng LGBT. Nghiên cứu thứ 3, khảo sát các sinh viên ĐH Vương quốc Anh, tìm ra rằng tuy không có mối liên hệ gì giữa những cảm xúc giành cho Harry với nhận thức về người tị nạn, nhưng những sinh viên có ít nhất một sự đồng hóa cảm xúc với Voldemort “có cải thiện thái độ với họ”.
Trong cả ba nghiên cứu, các nghiệm viên cho rằng chính bộ sách đã phát triển nơi người đọc khả năng đặt mình vào quan điểm của nhóm yếu thế. Các nhà nghiên cứu cũng tuyên bố trẻ nhỏ, với sự trợ giúp của giáo viên, có khả năng hiểu được việc Harry thường xuyên giúp đỡ dân “máu bùn” chính là một câu truyện mang tính ngụ ngôn đối với xu hướng cực đoan trong xã hội thực tại.
Không thể loại trừ những yếu tố khác xảy ra trong nghiên cứu, nhưng nếu bạn là "fan" của Harry Potter thì đây là một tin tuyệt vời. Nó cho thấy một số bằng chứng thực nghiệm về  ý kiến của J.K. Rowling, cho rằng, "Nhìn chung, bộ truyện là một luận điểm xuyên suốt về sự khoan dung, là một lời kêu gọi lâu dài về việc chấm dứt sự cực đoan.”
Quan trọng hơn, nó cho thấy việc truyền đạt những thông điệp về lòng khoan dung thông qua văn học thật sự có hiệu quả. Vậy nên, hành trình tự khám phá bản thân của Potter có thể ngày nào đó sẽ sống mãi trong những dự án nhằm giáo dục lòng khoan dung cho con trẻ.

http://mic.com/articles/95236/psychologists-find-a-surprising-thing-happens-to-kids-who-read-harry-potter
Đọc tiếp

Chủ Nhật, 10 tháng 8, 2014

SỨC MẠNH KHÔNG NGỜ TRONG CÁI CHẠM NHẸ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ

0
 David DiSalvo 

Nếu bạn là một quý ông hay lui tới các sòng bài tại Las Vegas, kịch bản này có thể quen quen với bạn: Bạn đang đứng tại Bàn Xúc Xắc, thảy mấy lượt và thua đều đều. Bạn thảy xúc xắc lần nữa, và kì diệu thay, thắng lại số tiền bạn đã mất.

Ngay khi đó, lướt qua tầm mắt, bạn nhận ra một cô gái khá hấp dẫn có vẻ rất say mê trò này (và biết đâu, mê cả bạn). Bạn ném xúc xắc, và lại thắng to. Bạn băn khoăn không biết có nên dừng lại khi đang trên đỉnh vinh quang để đổi tiền, ra về hay không, thế rồi bạn lại mất tập trung vì người con gái ấy. Cô ta vừa tiến gần hơn đến bên bạn. Mỉm cười, nàng nói: “Anh chơi hay quá”. Nàng đưa tay, chạm nhẹ vào lưng bạn.
Và rồi, bạn không chỉ quyết chí tiếp tục “chiến đấu”, mà còn tăng tiền cược của mình nhiều hơn nữa. Bạn thua. Nhưng nàng vẫn động viên bạn tiếp tục-đi kèm thêm một cái chạm-và bạn lại đặt tiền chơi tiếp.

Chuyện gì đang thật sự diễn ra?
Liệu bạn chỉ đơn thuần đang cố gây ấn tượng với nàng đến độ đặt hết tiền ngay khi rỗng túi? Có thể lắm. Nhưng theo một nghiên cứu được xuất bản trong tạp chí Psychological Science, lý do có thể sâu xa hơn.
Trong nghiên cứu, người tham gia được kiểm tra xem họ sẽ chịu mạo hiểm (trong đầu tư, tiền bạc, cá cược,..) dưới những điêu kiện gì. Trước khi đưa ra quyết định lựa chọn rủi ro, họ được một nghiệm viên nữ hoặc nam chào đón bằng một trong ba cách: chạm nhẹ vào vai, bắt tay hay không đụng chạm gì hết. Cuối thực nghiệm, người tham gia sẽ điền vào một bản khảo sát đánh giá mức độ họ cảm thấy an toàn.

Nhóm nghiên cứu tìm ra rằng những người tham gia được chạm vào vai cảm thấy yên tâm hơn và chịu mạo hiểm nhiều hơn những người còn lại…tuy nhiên, chỉ khi người chạm vai họ là phụ nữ. Chạm vào vai có hiệu quả lớn hơn bắt tay, nhưng nếu nghiệm viên (người chạm vào vai) là đàn ông, hiệu quả sẽ bằng số không.
Và bây giờ mới là phần hấp dẫn: Kết quả này tương tự ở cả người tham gia là đàn ông hay phụ nữ, điều này cho thấy nó không phải là hệ quả của hấp dẫn tính dục, ít nhất đây không phải là yếu tố duy nhất.

Nhóm nghiên cứu vạch ra mối liên hệ giữa phát hiện này với nghiên cứu trước đây về cách thức cái chạm của phụ nữ tác động lên trẻ nhỏ, nó khiến trẻ cảm thấy an toàn và dễ chịu hơn. Cái chạm lên người trưởng thành hoàn toàn có khả năng hoạt động  tương tự-khiến họ cảm thấy an tâm và sẵn sàng chấp nhận rủi ro.
Điều này đưa chúng ta lại khung cảnh sàn bài: Bạn nghĩ có bao nhiêu khả năng, người con gái ấy đang làm việc cho casino, trà trộn vào đám đông và đảm bảo những quý ông như bạn tiếp tục “chiến đấu”?
Chắc hẳn là cao hơn tỉ lệ bạn giành chiến thắng.


http://www.psychologytoday.com/blog/neuronarrative/201008/the-surprising-power-womans-touch
Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter