Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2014

LIỆU CÓ HAY KHÔNG BẰNG CHỨNG KHOA HỌC VỀ VIỆC KÝ ỨC BỊ DỒN NÉN?

0
Lớp học của GS. Freud.
Bài 1 - VÔ THỨC
"Tôi cần một người tình nguyện, có ai không?"

ERIC W. DOLAN 24/8/2014

Một nghiên cứu khoa học vừa cho thấy “cuộc chiến ký ức” giữa các nhà tâm lý về khái niệm hồi ức bị dồn nén của Freud, hiện tượng xuất hiện khi sự kiện sang chấn bị đè nén trong tâm trí một cách vô thức, vẫn chưa đến hồi kết.
Vào thập niên 90, tranh luận lên đến đỉnh điểm khi một số tâm lý gia tuyên bố họ “hồi phục” được nơi những bệnh nhân của mình các ký ức về lạm dụng tình dục trẻ em và lạm dụng nghi thức thờ quỷ (satanic ritual abuse), hai yếu tố dẫn đến hiện tượng “hoảng loạn ma quỷ” (satanic panic).
Tuy nhiên, tranh cãi ở quy mô nhỏ hơn vẫn tiếp tục diễn ra. Mối thâm thù khoa học bùng phát gần đây nhất khi nghiên cứu mang tên “ ‘Cuộc chiến Ký ức’ liệu đã kết thúc? Khác biệt về Niềm tin vào Ký ức bị Dồn nén giữa Nhà khoa học và Nhà thực hành chuyên môn” được xuất bản trong tạp chí Psychological Science vào tháng Hai.
Nhóm nghiên cứu cũng tuyên bố họ có bằng chứng về “khoảng cách” trên.
Patihis và đồng nghiệp giải thích: “Mặc cho sự thay đổi thái độ rõ ràng này, phần lớn những nhà chuyên môn không làm nghiên cứu vẫn công nhận sự có mặt của ký ức dồn nén ở mức độ nào đó và tin vào khả năng “khơi gợi” nơi phương thức trị liệu của mình,” “Đáng chú ý ở chỗ chúng tôi tìm ra một vực sâu ngăn cách niềm tin giữa các tâm lý gia tập trung vào nghiên cứu và những nhà thực hành hay người không chuyên.”
Nhóm nghiên cứu cho rằng khác biệt đến từ việc những nhà tâm lý lâm sàng xem trọng trực giác và quan sát của mình hơn bằng chứng khoa học.
“Một vài nhà lâm sàng có thể dựa vào những tường thuật về việc phục hồi ký ức với mức tự tin cao như bằng chứng khởi đầu về độ chính xác của những ký ức bị dồn nén, trong khi đa phần các nhà nghiên cứu lại yêu cầu những lý luận kiểu này phải qua nghiên cứu có kiểm soát.”
Tuy nhiên, nhà nghiên cứu người London Chris R. Brewin và Bernice Andrews lại lập luận trong
bài nhận xét được xuất bản vào tháng Tám rằng Patihis và cộng sự đã sai lầm khi tuyên bố sự khác biệt này có tồn tại. Họ cho rằng giả định “sự dồn nén là một khái niệm phi khoa học” và “những nhà thực hành tâm lý - lâm sàng chưa được huấn luyện đầy đủ các nghiên cứu về trí nhớ” là không đúng. Brewin và Andrews bắt đầu bài phê bình nghiên cứu của mình bằng việc quy trách những nhà khoa học đã không tính đến hai loại dồn nén khác nhau.

“Freud đã chỉ ra nhiều lần từ đầu và xuyên suốt tác phẩm của mình rằng ông thu nạp hai ý nghĩa khá khác biệt trong cùng một thuật ngữ dồn nén, một cái có liên quan đến phòng vệ hoàn toàn vô thức và một cái là chiến lược phòng vệ có ý thức. Trong khi các cố gắng tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm về phiên bản vô thức đa phần không thành công thì loại dồn nén có ý thức lại tương ứng với chiến lược ta sử dụng hàng ngày, ví dụ, những suy nghĩ tránh né hay bác bỏ.”
Họ nói, sự tồn tại của những ý nghĩ tránh né hay bác bỏ trong các rối loạn sức khỏe tâm thần từ lâu được củng cố bởi những nghiên cứu đã xuất bản.
“Để kết luận, chúng tôi cho rằng dữ liệu mà Patihis và cộng sự ghi nhận không giúp xác định sự phân chia quan trọng trong quan điểm của những nhà nghiên cứu và các tâm lý gia lâm sàng mà chỉ cho thấy sự khác biệt giữa nhà lâm sàng và những nhà thực hành khác. Trong đó, nhà lâm sàng trình bày những chứng cứ rõ ràng về việc họ thích ứng thực hành của mình theo những thay đổi trong cơ sở bằng chứng. Với những bằng chứng phong phú rằng các sự kiện như cái chết, giết chóc và tấn công tình dục đôi khi có thể bị quên lãng, trong tương lai, chúng tôi mong sẽ thấy được những nghiên cứu với trọng tâm rộng hơn tập trung vào những lý giải nhận thức khả thi đối với hiện tượng lãng quên các sự kiện sang chấn.”
Tuy vậy, trong bài hồi đáp phê bình, Patihis và đồng sự nhấn mạnh rằng nghiên cứu của họ có phân biệt ký ức bị dồn nén cách vô thức và việc loại bỏ có ý thức những ký ức đau thương.
Họ viết trong bình luận rằng, “chúng tôi tin rằng trí nhớ, dù là câu chữ hay thậm chí những sự kiện sang chấn, có thể không được nghĩ đến trong một khoảng thời gian rồi sau đó mới được nhớ lại, có lẽ là đi kèm một dấu hiệu nào đó,”. “Nhưng thay vào đó, nghi ngờ của chúng tôi đặt ở tình huống sau: Một thân chủ đến trị liệu với một triệu chứng tâm lý, ví như trầm cảm hay rối loạn ăn uống, đồng thời họ không hề có ký ức gì về việc mình bị lạm dụng, nhưng sau khi sử dụng mở rộng những kỹ thuật khơi gợi trí nhớ (v.d thôi miên, tưởng tượng có hướng dẫn, câu hỏi định hướng), họ bắt đầu nhớ lại thời gian sang chấn nặng nề. Chúng ta không có bất kỳ bằng chứng khoa học đáng tin cậy nào chứng minh trí nhớ hoạt động kiểu đó.”
“Kết luận, với việc chúng tôi đã định nghĩa đầy đủ về trí nhớ bị đè nén và làm rõ với người tham gia rằng chúng tôi tìm hiểu về niềm tin có liên quan đến việc ngăn cản những ký ức sang chấn một cách vô thức, chúng tôi vẫn bảo vệ kết quả của mình.”

http://www.psypost.org/2014/08/memory-wars-scientific-evidence-repressed-memories-27571
Đọc tiếp

Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2014

KHUÔN MẶT CÀNG NAM TÍNH THÌ CHẤT LƯỢNG TINH TRÙNG CÀNG THẤP

0
Tượng David - hình mẫu nam tính của Michel Angelo

ERIC W. DOLAN 2/9/2014


Một nghiên cứu mới trên Tạp chí Sinh học tiến hóa đã tìm ra mối liên hệ giữa mức độ nam tính thể hiện trên khuôn mặt và chất lượng tinh trùng – và kết quả hoàn toàn trái ngược với những gì chúng ta thường nghĩ.

Nghiên cứ phát hiện rằng các quý ông có nhiều đặc điểm nam tính trên khuôn mặt thường có chất lượng tinh trùng kém hơn.

Trong nghiên cứu, 64 phụ nữ và 24 nam giới đã đánh giá mức độ thu hút của khuôn mặt 50 người đàn ông từ 18 đến 36 tuổi. Các nhà nghiên cứu cũng phân tích 13 thông số đo lường của những khuôn mặt trên nhằm xác định mức độ nam tính thể hiện qua diện mạo và đồng thời kiểm tra chất lượng tinh trùng của họ.
Nhóm nghiên cứu viết: “chất lượng tinh trùng của nam giới liên hệ âm tính với chiều dài xương gò má. Số đo này được cho là biểu hiện của đặc điểm nam tính khi cho thấy có quan hệ dương tính với mức độ testosterone ở đàn ông và đồng thời dự đoán được số lượng những nét hành vi gắn với hormone đó, ví dụ tính gây hấn, mức thống trị, sức mạnh thể lý, địa vị, thành công kinh tế và cả mức độ lừa dối.”
Theo nhóm nghiên cứu giải thích, việc tăng mức testosterone được chứng minh có liên hệ với khiếm khuyết trong sản xuất tinh trùng, đồng thời kết quả này cho thấy quan hệ qua lại giữa việc đầu tư vào những dấu hiệu tính dục thứ cấp (như mức nam tính của khuôn mặt) và khả năng sinh sản.
“Lý thuyết cạnh tranh tinh trùng cho rằng nam giới phải đối mặt với việc đánh đổi sự đầu tư vào những nét thu hút nữ giới hay vào khả năng sinh sản. Vì lẽ đó, những cá thể nam giới đầu tư đáng kể lượng “tài nguyên” của họ vào việc thu hút bạn tình thì sẽ còn lại ít “nguồn lực” khả dụng để sản xuất tinh trùng “chất lượng cao”. Sự tồn tại của cơ chế trao đổi này đã được minh chứng trong một số nghiên cứu thực nghiệm ở nhiều chủng loại động vật khác nhau.”
Đáng chú ý, nhìn chung, so với đánh giá của nữ giới, nam giới thường cho rằng hình ảnh các gương mặt thu hút hơn. Điều này cho thấy, so với phụ nữ, đàn ông hay đánh giá quá mức sức hút của những người đàn ông khác.
http://www.psypost.org/2014/09/looks-can-deceiving-manly-face-mean-poorer-semen-quality-27822

Đọc tiếp

Thứ Năm, 4 tháng 9, 2014

CHUYỂN ĐỘNG MẮT KHÔNG Ý THỨC LÀ CHỈ BÁO CHÍNH XÁC CHO CHẨN ĐOÁN ADHD (Rối loạn tăng động kém tập trung)

0

AMERICAN FRIENDS OF TEL AVIV UNIVERSITY 14/08/2014

Theo Trung tâm Kiểm soát và Dự phòng Bệnh tật, rối loạn Tăng động Kém Tập trung (ADHD) là rối loạn hành vi được chẩn đoán – và cả chẩn đoán sai – nhiều nhất ở trẻ em tại Hoa Kỳ. Không may, hiện không có bất kỳ tiêu chuẩn thể lý nào đáng tin cậy giúp đưa ra chẩn đoán ADHD. Các bác sĩ thường xác định rối loạn này bằng cách thu nhận lịch sử xã hội và y khoa của bệnh nhân và gia đình, họ cũng bàn đến những triệu chứng có thể xảy ra và quan sát hành vi của người bệnh. Tuy nhiên, đánh giá thiếu chính xác lại có thể dẫn đến việc dùng quá liều Ritalin (methylphenidate), đều mà không cha mẹ nào mong muốn.
Một nghiên cứu mới của các nhà nghiên cứu tại ĐH Tel Aviv cho thấy có thể đem lại một công cụ khách quan giúp các nhà chuyên môn y khoa chẩn đoán chính xác ADHD. Theo nghiên cứu được xuất bản trên Vision Research, chuyển động mắt không chủ ý phản ánh chính xác sự có mặt của ADHD. Đồng thời, họ cũng minh chứng những ích lợi của các chất kích thích y khoa được sử dụng trong điều trị rối loạn.
Quan sát đôi mắt
Ts. Moshe Fried, Ts. Anna Sterkin, và Gs. Uri Polat thuộc Khoa Y Sackler, ĐH Tel Aviv; Ts.Tamara Wygnanski-Jaffe, Ts. Eteri Tsitsiashvili, Tsr. Tamir Epstein thuộc Viện Nghiên cứu Mắt Goldschleger của Trung tâm Y tế Sheba, Tel Hashomer; và Ts. Yoram S. Bonneh thuộc ĐH Haifa đã sử dụng hệ thống đánh dấu mắt để theo dõi chuyển động mắt không chủ ý của hai nhóm 22 người lớn được kiểm tra bằng trắc nghiệm chẩn đoán ADHD trên máy tính TOVA (Trắc nghiệm Thay đổi Tập trung). Bài tập được mỗi nghiệm thể thực hiện hai lần, mỗi lần 22 phút. Nhóm thứ nhất, được chẩn đoán với ADHD, sẽ thực hiện trắc nghiệm lần đầu mà không sử dụng thuốc, sau đó họ sẽ thực hiện một lần nũa dưới tác dụng của methylphenidate. Nhóm thứ hai, không có chẩn đoán ADHD, sẽ làm nhóm đối chứng.

TS. Fried, bản thân ông cũng được chẩn đoán có ADHD, nói, “Nghiên cứu có hai mục tiêu,” “Một là cung cấp công cụ mới giúp chẩn đoán ADHD, và hai là kiểm tra xem liệu các thuốc ADHD có hiệu quả hay không – và chúng tôi nhận thấy là có. Tồn tại sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm có và không có ADHD, và giữa hai nhóm người tham gia có ADHD làm trắc nghiệm trước và sau khi dùng thuốc.”
Chẩn đoán chính xác, tiết kiệm và phổ quát
Nhóm nghiên cứu tìm ra mối tương quan trực tiếp giữa ADHD và việc mất khả năng ức chế chuyển động mắt khi tiên đoán các kích thích thị giác. Nghiên cứu cũng cho thấy năng lực của những người tham gia được cải thiện khi dùng methylphenidate, chất này giúp cân bằng những ức chế chuyển động mắt không chú ý về mức trung bình của nhóm kiểm chứng.
“Trắc nghiệm này có giá tiết kiệm và mang tính phổ quát, điều này khiến nó trở thành công cụ thiết thực và chuẩn xác cho các nhà chuyên môn y khoa,” TS. Fried cho biết. “với những trắc nghiệm khác, bạn vẫn có thể nhầm lẫn và –vô tình hay cố ý – phạm phải sai lầm. Tuy nhiên, trắc nghiệm của chúng tôi không thể bị đánh lừa. Chuyển động mắt được theo dõi trong trắc nghiệm này là không chủ ý, thế nên chúng trở thành dấu hiệu thể lý chính xác của ADHD.
 “Nghiên cứu của chúng tôi đồng thời cho thấy hiệu quả của methylphenidat. Chắc chắn đây không phải là giả dược như vài người vẫn nói.”
 Nhóm nghiên cứu hiện đang thực hiện những thử nghiệm mở rộng trên những nhóm đối chứng lớn hơn nhằm khám phá thêm những ứng dụng của trắc nghiệm trên.

Đọc tiếp

Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014

NHỮNG NGƯƠI NHÚT NHÁT SỬ DỤNG FACEBOOK NHIỀU HƠN NHƯNG LẠI TIẾT LỘ VỀ BẢN THÂN MÌNH ÍT HƠN

0

UNIVERSITY OF ALABAMA HUNTSVILLE 

29/08/2014

Dù có thể bạn nghĩ những người đăng 10000 tấm ảnh một tuần về con mèo của họ là người sử dụng Facebook nhiều nhất, tuy nhiên không phải thế.
Thay vào đó, theo PGS. Pavica Sheldon thuộc Bộ môn Nghệ thuật Giao tiếp, ĐH Alabama Huntsville, những người trầm lặng mới là người đăng nhập lâu hơn.
“Những người nhút nhát giành nhiều thời gian để lên Facebook, nhưng họ lại chia sẻ ít thông tin hơn,” TS. Sheldon, người đã làm nhiều nghiên cứu về việc sử dụng phương tiện truyền thông xã hội nơi sinh viên ĐH, chia sẻ (Sheldon, P., 2009). “Việc tự bộc lộ, thu hút xã hội, khả năng dự đoán và niềm tin là những chỉ báo quan trọng của các mối quan hệ trên Facebook.” (Tâm lý Mạng: Tạp chí Nghiên cứu Tâm lý Xã hội về Không gian Mạng, 3(2), Article 1, 2009).
Bà Sheldon chỉ ra rằng, đối với một người hướng nội, việc sử dụng facebook chưa chắc luôn đi đôi với việc họ đăng tải thông tin lên đó. Nghiên cứu của bà cho thấy, những người hướng nội giành nhiều thời gian lên facebook hơn người hướng ngoại. “Những người nhút nhát và những người hay cô đơn thường lên Facebook để giết thời gian,”. (P. Sheldon, “Những tiếng nói vô âm: Liệu việc nhút nhát có thể giài thích cách chúng ta giao tiếp trên Facebook so sánh với giao tiếp trực tiếp” Máy tính với Hành vi Con người, 2013)
Thế nhưng, theo nghiên cứu, dù những người hướng nội đăng nhập lâu hơn, những người hướng ngoại, ái kỷ và những người có nhiều mong muốn kiểm soát cách họ tự giới thiệu bản thân lại là thành phần tích lũy những lợi ích quan hệ đến từ Facebook nhiều nhất. Một người càng hướng ngoại bao nhiêu thì số lượng những trạng thái họ đăng sẽ càng nhiều bấy nhiêu. (P. Sheldon, “Mối quan hệ giữa Không sẵn sàng Giao tiếp và Việc sử dụng Facebook nơi Sinh viên,” Tạp chí Tâm lý Truyền thông, 2008).
“Người ái kỷ thích nổi tiếng, họ thích được mọi người chú ý,” bà nói. Chính điều này mang lại nhiều lợi ích xã hội hơn từ Facebook đến cho họ, những người hay giao du xã hội.
TS. Shledon nhận xét, “Tôi nhận thấy nghiên cứu của mình củng cố cho giả thuyết ‘người giàu ngay càng giàu.” “Những người sỡ hữu nhiều mối quan hệ bên ngoài củng sẽ thu được nhiều ích lợi từ việc dùng Facebook. Bạn càng hướng ngoại bao nhiêu thì bạn sẽ càng có lợi bấy nhiêu.”
Còn việc nghiên “tự sướng” [tự chụp hình] thì sao? Những người ái kỷ và những ngươi có mức độ tự giám sát cao – khả năng thay đổi hành vi để thích ứng với hoàn cảnh xã hội biến động – có xu hướng đăng tải nhiều hình ảnh hơn những người dùng khác.
TS. Sheldon nói, “việc ‘post’ hình giúp họ kiểm soát cách bản thân tự thể hiện nhiều hơn.”
Nhưng khi cân nhắc mọi yếu tố, tổng thời gian sử dụng mới có ảnh hưởng bao quát lên việc đăng tải hình ảnh. Người dùng càng đăng nhập lâu bao nhiêu thì họ càng thoải mái với việc chia sẻ hình ảnh trực tiếp ngoài đời bấy nhiêu.
Vậy rồi, mọi người liên hệ với những ai trên Facebook? Đối với những mối quan hệ qua mạng xã hội, thật sự đúng là “càng xa càng nhớ”.
“Những nghiên cứu trước của tôi cho thấy lý do chính yếu khiến ta dùng Facebook là để duy trì mối quan hệ với những người ta biết dù không thể liên hệ thể lý”, TS. Sheldon nói.
Phân tích yếu tố được bà thực hiện trước đó cung cấp những bằng chứng thống kê giúp ngoại suy rằng duy trì mối quan hệ là nhân tố chủ chốt cho việc sử dụng Facebook, nó cũng thúc đẩy bà thực hiện những nghiên cứu sâu hơn về dân số sử dụng trang này.
“Tôi tìm hiểu cách mọi người giữ quen biết trên Facebook và so sánh chất lượng của những mối quan hệ đó so với quan hệ trực diện.” Nếu chỉ là một trang hẹn hò thì nó đã không được nhiều người “like” đến thế. Bà nhận thấy đây là nơi để gặp gỡ và chào đón không hơn không kém.
“Mọi người không gặp quá nhiều người mới”, bà cho biết. “Đa phần chúng ta gặp những người ta đã biết.” Chỉ có một phần trăm rất nhỏ những người ta mới quen từ Facebook.
Về thông tin cá nhân, nhìn chung, chúng ta thích trao đổi trực tiếp hơn. TS nhận xét “chúng ta tự bộc lộ trên Facebook ít hơn mặt đối mặt.” Đa phần Facebook dùng để liên lạc từ xa.
“Mọi người không biết cách người khác nhìn nhận họ như lúc họ trao đổi trực tiếp,” “Giao tiếp trực tuyến thiếu mất những tín hiệu phi ngôn, vì thế chúng ta sẽ trở nên cẩn trọng hơn. Facebook cũng sử dụng tên của chúng ta thay vì những biệt danh như trên các bảng tin lúc trước. Điều đó cũng sẽ khiến cho mọi người cẩn thận hơn.” (P. Sheldon, “Giống và khác trọng việc tự bạch và sự phát triển tình bạn giữa giao tiếp trực diện và Facebook,” Luận văn, ĐH Bang Louisiana và Trường Cơ khí và Nông)
Phụ nữ tiết lộ nhiều thông tin cá nhân hơn nam giới. Sheldon cho biết “điều tương tự xảy ra bên ngoài đời thực cũng diễn ra trên Facebook.” (P. Shelton, “Khảo sát Khác biệt về Giới trong Việc Tự Bộc lộ trên Facebook và Mặt đối mặt,” Tạp chí Truyền thông Xã hội trong Xã hội, 2013; và P. Sheldon, “Duy trì hay Phát triển mối quan hệ mới? Khác biệt Giới tính trong sử dụng Facebook ,” Rocky Mountain Communication Review; Summer 2009, Vol. 6 Issue 1, p51)
TS Sheldon hiện đang tìm hiểu tính hiệu quả liên hệ giữa Facebook và tin nhắn khi các ĐH gửi thông tin cảnh báo khẩn khi có khủng hoảng đến sinh viên. Bà đo đạc thành phần độ tin cậy đối với mỗi kiểu thông điệp, phương cách tác động đến nhận thức mức độ trầm trọng của sự kiện, cách nó ảnh hưởng đến ý định chia sẻ thông tin vừa nhận được với cha mẹ và bạn bè nơi sinh viên, cùng những kênh mà các bạn dùng để lan truyền.
Bà nói, “kết quả của nghiên cứu này sẽ giúp những nhà thực hành điều chỉnh các kế hoạch truyền thông trong khủng hoảng bằng cách biết được những kênh nào nên dùng để cảnh báo sinh viên về khủng hoảng cũng như cách họ liên lạc với cha mẹ và bạn bè.”

http://www.psypost.org/2014/08/shy-people-use-facebook-longer-disclose-less-research-reveals-27736
Đọc tiếp

Thứ Ba, 2 tháng 9, 2014

NHỮNG NGƯỜI CÓ MỤC ĐÍCH SỐNG THƯỜNG SẼ SỐNG THỌ HƠN

0

Chúng ta biết rằng, hạnh phúc và liên kết xã hội có thể mang lại những lợi ích tích cực cho sức khỏe. Nghiên cứu mới cho thấy việc ý thức được mục đích hay định hướng cuốc sống cũng đem lại nhiều hiệu quả tích cực.
Để tìm hiểu việc liệu ý thức mục đích sống có ảnh hưởng đến quá trình phát triển trưởng thành và lão hóa hay không, Patrick Hill, Phó Giáo sư Tâm lý học ĐH Carleton tại Ottawa, Canada, đã xem xét các dữ liệu từ nghiên cứu Tuổi trung niên Hoa Kì (MIDUS). Nghiên cứu này được tài trợ bởi Viện Người cao tuổi Quốc gia.

Hill và công sự của ông, Nicholas Turiano thuộc Trung tâm Y tế Đại học Rochester đã quan sát cách thức hơn 6000 người trả lời những câu hỏi như “Một số người quanh quẩn vô định suốt cuộc đời, nhưng tôi không phải một trong số họ” và các câu hỏi khác giúp đo lường cảm xúc tích cực và tiêu cực.

Họ nhận thấy,14 năm sau khi các câu hỏi này được đặt ra, những người có mục đích và định hướng sống có khả năng sống lâu hơn những người còn lại.

Thật vậy, nguy cơ tử vong ở những người có mục đích sống thấp hơn 15% so với những người ít nhiều không có định hướng. Đồng thời, thời điểm họ tìm thấy hướng đi dường như không quan trọng. Nó có thể ở độ tuổi 20, 50 hay thậm chí là 70
Phân tích của Hill kiểm soát các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến tuổi thọ, như tuổi, giới tính, tình trạng xúc cảm. Ý thức về mục đích vượt lên trên tất cả.
Hill định nghĩa ý thức về mục đích đem lại hình ảnh như “la bàn hay ngọn hải đăng cung cấp một mục tiêu bao quát và định hướng cuộc sống mỗi ngày”
Dĩ nhiên, mục đích có nhiều ý nghĩa khác nhau đối với mỗi người. Hill cho rằng nó có thể đơn giản như việc đảm bảo hạnh phúc gia đình hay to tát hơn như chung tay để thay đổi xã hội. Nó có thể tập trung vào bản thân, như thực hiện tốt công việc, hoặc có thể là sự sáng tạo
Hill nói“Thông thường, mỗi cá nhân sẽ muốn tạo ra một điều gì đó được mọi người đánh giá cao dưới hình thức văn bản hay nghệ thuật, cho dù là âm nhạc, nhảy múa hay nghệ thuật thị giác”
Cách thức mục đích mang lại lợi ích cho cơ thể không hoàn toàn rõ ràng. Những cá nhân có định hướng đơn giản là có thể có một cuộc sống khỏe mạnh hơn, Hill nói, nhưng cũng có thể chính ý thức về mục đích giúp chống lại những tác hại nguy hiểm của stress
Một thực nghiệm được thực hiện ở Chicago đã thử kiểm tra lý thuyết này. Anthony Burrow, nhà tâm lý học phát triển thuộc ĐH Cornell, cùng với nhóm sinh viên tình nguyện thuộc những chủng tộc và dân tộc khác nhau đi tàu nhanh qua các khu dân cư đa sắc tộc ở Chicago, họ ghi lại những cảm xúc của bản thân khi những người thuộc các nhóm chủng tộc và sắc tộc khác nhau bước lên tàu.

Nghiên cứu trước đây cho thấy, khi bao quanh chúng ta là những người thuộc các nhóm các dân tộc và chủng tộc khác, mức độ căng thẳng của ta sẽ tăng lên. Burrow muốn biết liệu việc suy nghĩ về ý thức mục đích của mình có thể làm giảm căng thẳng đó hay không.

Ông cho phân nửa các sinh viên viết về định hướng cuộc sống của họ trong 10 phút. Nhóm còn lại sẽ viết về bộ phim gần đây nhất họ đã xem. Tất cả đều được cung cấp một danh sách tên tất cả các trạm dừng. Khi tàu đến mỗi trạm, họ được yêu cầu đánh giá bản thân cảm thấy như thế nào và mức độ của xúc cảm đó bằng cách đánh chữ “X” vào ô trống kế những cảm xúc tiêu cực như sợ hãi, bị đe dọa, cô đơn hay đau khổ.
Kết quả, khi phần trăm những người thuộc các chủng tộc khác gia tăng, những sinh viên viết về bộ phim cuối cùng họ xem trải nghiệm mức độ căng thẳng tăng lên như dự đoán. Còn những sinh viên viết về ý thức mục tiêu cho biết hoàn toàn không có thêm cảm giác căng thẳng.


Còn phải có nhiều nghiên cứu hơn nữa về chủ đề này, tuy nhiên Burrow cho rằng phát hiện của mình cho thấy “ý thức về mục đích sống có thể bảo vệ con người chống lại căng thẳng”, với tất cả ảnh hưởng tiêu cực có thể xảy đến, bao gồm cả nguy cơ bệnh tim. Đồng thời, nó có thể giải thích lý do tại sao những người có ý thức về mục đích sống thường sống thọ hơn. 
http://www.npr.org/blogs/health/2014/07/28/334447274/people-who-feel-they-have-a-purpose-in-life-live-longer
Đọc tiếp

Thứ Hai, 1 tháng 9, 2014

1000 LƯỢT XEM

0

Chúc mừng trang blogspot của Hành Lang Tâm lý đã đạt 1000 lượt xem.

Xin cảm ơn mọi người đã luôn theo dõi trong thời gian qua.
Hãy luôn đồng hành với những nghiên cứu tâm lý mới nhất tại:

http://hanhlangtamly.blogspot.com/ 
https://www.facebook.com/hanhlangtamly

Một lần nữa, chân thành cảm ơn tất cả các bạn



Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter