Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015

TẠI SAO TA CÓ CẢM GIÁC THỜI GIAN ĐI VỀ LUÔN TRÔI QUA NHANH HƠN THỜI GIAN LÚC ĐI?

0
Thời gian qua nhanh hơn trên quãng đường về
Ana Swanson 11/6/2015  

Chúng ta không giỏi nhận thức thời gian, đặc biệt là trong việc đo đạc thời gian ngắn hạn như theo giây, theo phút hay theo giờ. Cảm giác về thời gian trôi qua rất chủ quan, chủ yếu dựa vào những sự việc khác đang diễn ra xung quanh, vào trạng thái cảm xúc hay vào hoạt động ta đang thực hiện.

Điều này dẫn đến nhiều hiện tượng khá kì lạ, bao gồm “hiệu ứng đường về”. Có thể bạn đã từng trải qua cảm giác này: Khi bạn đi đến một địa điểm mới lạ và quay trở về, dù quãng đường là bằng nhau, dường như đoạn đường lúc về luôn “ngắn” hơn đoạn đường lúc đi.  
Một nghiên cứu mới trên PLOS ONE vừa cung câp thêm bằng chứng chứng minh rằng hiệu ứng trên thực sự có tồn tại.
Để thực hiện nghiên cứu, các nhà khoa học ở Nhật Bản đã cho các nghiệm thể ngồi trong một căn phòng với ánh sáng mờ để xem một đoạn phim khoảng 20 phút ghi lại cảnh tượng khi người quay phim đi quanh thành phố. Một số người tham gia còn được yêu cầu sẽ ra hiệu mỗi khi họ nghĩ thời gian vừa trôi qua 3 phút. Các nghiệm thể xem tất cả hai đoạn phim và được yêu cầu đánh giá xem đoạn phim nào dài hơn.
Một nhóm sẽ “đi” một chuyến hai chiều: từ điểm “S” đến điểm “E” như trong bức hình bên trái phía dưới và sau đó quay ngược lại điểm “S” theo đúng lộ trình. Nhóm thứ hai sẽ “đi” hai chuyến một chiều: từ “S” tới “E” theo hình bên trái, và cũng từ “S” tới “E” nhưng lần này theo đường đi bên phải.

Nghiên cứu được thiết kế để tìm hiểu cách chúng ta nhận thức thời gian theo hai chiều: chúng ta cảm nhận thời gian ra sao khi nó diễn ra và chúng ta nghĩ lại về thời gian như thế nào khi nó đã kết thúc. Kết quả cho thấy sự khác biệt giữa hai mô hình trên.
Các nhà nghiên cứu phát hiện rằng trong lúc thực hiện thực nghiệm, cả hai nhóm dự đoán lượng thời gian đang trôi qua khá tương đồng. Tuy nhiên, sau đó, khi yêu cầu họ nhớ lại, nghiệm thể xem đoạn phim hai chiều thường nhớ chuyến đi về ngắn hơn, trong khi nhóm xem hai đoạn phim một chiều không có cùng trải nghiệm tương tự.
Theo Joseph Stromberg of Vox, nghiên cứu cho thấy “hiệu ứng đường về” có liên hệ với việc hồi tưởng quá khứ và khả năng tường thuật-cách con người sử dụng ngôn ngữ để ghi nhớ và nhìn lại trải nghiệm. Nhìn chung, để trải nghiệm “hiệu ứng đường về”, bạn cần phải biết mình đang trên đường “đi về”.
Tuy vẫn chưa rõ lý do vì sao hiện tượng này xảy ra nhưng các nhà tâm lý cũng đã đưa ra một vài lý thuyết.
Một cách giải thích là hiệu ứng này diễn ra khi bạn tập trung chú ý vào bản thân thời gian. Khi bạn tập trung hơn vào việc thời gian qua đi – ví dụ bạn đang bị muộn học và liên tục phải nhìn đồng hồ - thời gian có vẻ sẽ trôi rất chậm. Nhưng nếu bạn bị chia trí bởi những thứ khác, những thứ hấp dẫn hơn, thời gian sẽ trôi rất nhanh.
Ý tưởng này cũng giúp giải thích thêm về hiện tượng thời gian có vẻ như chậm lại khi mạng sống của bạn bị đe dọa. Nó cũng xảy ra với trí nhớ của chúng ta: Khi chúng ta chú ý nhiều vào một giai đoạn nào đó trong cuộc đời, chúng ta thường nhớ rằng quãng thời gian đó kéo dài lâu hơn bình thường.
Tất cả những điều trên dẫn tới một suy nghĩ khá thú vị: Bằng cách “định tâm” (mindful), hay tập trung chú ý vào “ở đây – bây giờ” (hic et nunc/ here and now), chúng ta thật sự có thể làm chậm nhận thức về thời gian của não bộ và làm cuộc sống chúng ta có vẻ kéo dài hơn trước.
Một cách lý giải khác lại liên quan đến sự quen thuộc. Trên đường đi, bạn chẳng biết đường xá gì cả; trên đường về, bạn nhận ra các địa danh và những địa điểm quen thuộc khác, chúng sẽ khiến chuyến đi của bạn có vẻ như ngắn lại. Chúng ta sẽ không cảm nhận được hiệu ứng “đường về” trên những đoạn đường chúng ta thường xuyên đi lại, như quãng đường thường nhật bạn đi qua. Điều này củng cố thêm minh chứng về cách giải thích trên.
Còn có một số nghiên cứu khác cho thấy thời gian có vẻ trôi chậm lại khi chúng ta bắt gặp những thứ không quen thuộc và thời gian dường như “tăng tốc” khi chúng ta thực hiện theo thói quen. Đó là lý do ta có cảm giác thời gian qua nhanh khi chúng ta già đi, do chúng ta gặp ít trải nghiệm mới mẻ hơn. Cảm giác sinh nhật của bạn đến “mỗi năm mỗi sớm hơn bình thường được thể hiện rất tài tình qua video sau:The Dictionary of Obscure Sorrows

Tuy nhiên, đây vẫn chưa phải là minh chứng cuối cùng cho “hiệu ứng đường về”. Một số nghiên cứu còn phát hiện rằng con người còn có thể cảm nhận hiệu ứng này khi họ đặt chân vào những miền đất lạ. Trong một nghiên cứu vào năm 2011, các nhà tâm lý yêu cầu một nhóm các cua-rơ xe đạp đạp xe đến một hội chợ. Sau đó, họ sẽ tách ra làm hai nhóm; một nhóm đạp xe về trê cùng một lộ trình, nhóm còn lại đạp xe theo một lộ trình khác có cùng khoảng cách. Cả hai nhóm đều trải qua “hiệu ứng đường về”.
Kết luận của nghiên cứu là chúng ta thường lạc quan thái quá về “lượt đi”, điều này khiến chuyến đi trông có vẻ lâu hơn. Khi đi về, nhóm nghiên cứu tìm hiểu kì vọng của các nghiệm thể về “lượt đi”. Người tham gia thường kì vọng chuyến đi sẽ ngắn hơn so với thực tế, vì vậy họ thấy đường đi có vẻ dài hơn. Theo tác giả nghiên cứu, đó là lý do tại sao chúng ta không trải nghiệm “hiệu ứng đường về” trên những quãng đường thường nhật: Chúng ta đi lại quen đến độ cảm nhận rõ chính xác thời gian cần đi.
Kết luận, “hiệu ứng đường về” có thể là sự kết hợp của cả ba ý tưởng trên, và có thể còn có những yếu tố mà các nhà tâm lý chưa tìm ra. Tuy nhiên, với nghiên cứu hiện tại, chúng ta thấy thời gian là một cảm nhận mang tính chủ quan, có thể co giãn khác hẳn những gì đồng hồ ghi nhận.

Xin vui lòng không sử dụng bài viết, bài dịch cho mục đích thương mại mà chưa liên hệ với tác giả bài viết gốc và dịch giả. Nếu các bạn có nhu cầu chia sẻ bài viết này với mục đích phi lợi nhuận, xin ghi rõ:
Nguồn bài viết gốc:
Nguồn dịch:
Hành lang Tâm lý (hanhlangtamly.blogspot.com/ www.facebook.com/hanhlangtamly)
http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/06/tai-sao-cam-giac-duong-ve-dai-hon.html




Đọc tiếp

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2015

LỢI ÍCH MỚI CỦA CÂY XANH ĐỐI VỚI NÃO BỘ

0
Tầm quan trọng của thiên nhiên trong công việc
Chris Mooney 26/5/2015  
Mô hình “mái nhà xanh” – việc phủ xanh nóc nhà bằng cỏ, cây và các mảng xanh khác- đang trở nên ngày càng phổ biến khắp thế giới. Theo một đạo luật mới ở Pháp, những tòa nhà thương mại mới được xây dựng phải có mảng xanh hay pin năng lượng mặt trời trên nóc nhà. Trong khi đó, Facebook cũng vừa phủ xanh 3,6 héc-ta nóc nhà trụ sở của mình tại Menlo Park, California.
Lý do khá rõ ràng: Trồng cây trên nóc nhà có thể giúp hạn chế việc giữ nhiệt trong các khu vực thành thị, góp phần làm “nguội” tòa nhà và giúp tiết kiệm năng lượng. Thậm chí nó còn thu một lượng các-bon đi-ô-xít nhất định trong không khí để cây xanh tăng trưởng. Ngoài ra, trông chúng còn rất thú vị!
Không những thế, theo một nghiên cứu mới, “mái nhà xanh” còn đem lại nhiều lợi ích về tâm lý cho người lao động. Trong một bài báo trên Environmental Psychology, Kate Lee và cộng sự đến từ ĐH Melbourne chứng minh rằng, bằng cách chèn vào giữa những công việc buồn chán và đòi hỏi sự chú ý 40 giây “nghỉ ngơi”, chỉ đơn giản bằng việc nhìn vào một bức hình “mái nhà xanh” trên máy tính, khả năng tập trung chú ý và hiệu suất thực hiện nhiệm vụ có thể được cải thiện đáng kể.
Nghiên cứu trên góp phần vào một cơ số các dữ liệu về những lợi ích về sức khỏe, kể cả tâm lý, mà khung cảnh thiên nhiên nơi thành thị, ví dụ như công viên hay cây xanh, có thể mang lại cho chúng ta. Thật ra, nghiên cứu về phương diện này còn tiến xa đến độ các nhà khoa học đang cân nhắc xem liệu có thể xác định một “liều lượng” thiên nhiên phù hợp mà con người cần có giúp mang lại những lợi ích về sức khỏe.
Những lợi ích khác về tâm lý mà khung cảnh thiên nhiên mang lại còn được ghi nhận trong những nghiên cứu mới đây. Trong một nghiên cứu, các nghiệm thể được xem một bộ phim tài liệu về thiên nhiên trong 12 phút trước khi chơi một trò chơi về quản lý đánh bắt cá thường sẽ có nhiều hành vi bảo vệ môi trường hơn.
Một nghiên cứu khác còn gây chú ý hơn khi cho thấy tác động – và lợi ích- mà việc “sống” trong thiên nhiên, với quy mô và thời gian nhỏ hơn, có thể mang lại.
150 sinh viên tham gia vào nghiên cứu được yêu cầu thực hiện một bài tập nhận thức rất khó mang tên Sustained Attention to Response Task (SART). Trong bài tập này, các nghiệm thể được cho quan sát một loạt các con số đơn lẻ từ 1 đến 9 trên máy tính. Mỗi số xuất hiện rất nhanh, dưới 1 giây đồng hồ, và các nghiệm thể phải bấm một phím trên bàn phím càng nhanh càng tốt khi thấy số đó – ngoại trừ số 3.
Khi số 3 hiện ra, người tham gia phải dừng lại và không trả lời – điều này rất khó thực hiện khi các bạn đã có thói quen bấm phím nhanh và liên tục.
Mỗi bài tập sẽ bao gồm 225 lần thực hiện, mất khoảng 5 phút để hoàn thành. Điều này khiến bài tập trên vừa khó vừa đòi hỏi cả thể chất lẫn tinh thần. Không ngạc nhiên khi nó được xem như là một trắc nghiệm kiểm tra khả năng tập trung và chú ý trong một khoảng thời gian nhất định.
Trong nghiên cứu, sinh viên phải hoàn thành bài tập SART trên không phải chỉ một mà tới hai lần. Tuy vậy, các bạn được nghỉ 40 giây giữa hai lần. Trong thời gian đó, màn hình máy tính sẽ hiện lên hình nóc nhà bê-tông hoặc hình mái nhà với “hoa cỏ”. Sau đó, các bạn sẽ tiếp tục thực hiện bài tập SART còn lại.
Hình mái nhà "hoa cỏ" sử dụng trong nghiên cứu
Nhóm nghiệm thể được xem cảnh nóc nhà phủ xanh không chỉ cảm thấy được “hồi sức” nhiều hơn mà còn thực hiện bài tập tốt hơn nhóm xem hình nóc nhà bê-tông. Cụ thể, các bạn cho thấy thời gian phản ứng ổn định hơn và ít mắc “lỗi” hơn khi số 3 xuất hiện.
Các tác giả kết luận, “Thiên nhiên giúp đem lại những lợi ích nhận thức trong thời gian ngắn hơn, và chỉ bằng một quy mô [cây xanh] nhỏ hơn các nghiên cứu trước đây đã chứng minh.”
Nhận xét sau đây có lẽ khá phù hợp với những người giành cả ngày miệt mài làm việc trong các văn phòng. “Những công việc hiện đại yêu cầu bạn phải tập trung suốt cả ngày, việc cung cấp những ‘thời gian nghỉ xanh’ có thể giúp ‘nạp’ lại tinh thần để bù đắp cho việc khả năng chú ý bị giảm sút,“ Kate Lee, chủ nhiệm nghiên cứu, cho biết.
Tuy nhiên, việc phủ xanh mái nhà không phải là lựa chọn duy nhất – Lee cho rằng kết quả nghiên cứu có thể được khái quát rộng hơn. “Nhiều nghiên cứu cho thấy việc nhìn ngắm các khung cảnh thiên nhiên khác (công viên hay rừng cây) cũng giúp làm tăng khả năng chú ý,” “Vì vậy, chúng tôi đặt giả thuyết rằng những mảng xanh đô thị khác có cùng các đặc điểm thực vật với nghiên cứu cũng có thể gia tăng khả năng chú ý.”
Vậy nếu bạn không làm việc gần nơi có mảng xanh, bạn vẫn luôn có thể ra ngoài đi bộ một ít, nếu không tới công viên thì cũng có thể tới một nơi có cây xanh rợp bóng.


Đọc tiếp

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2015

KHÁC BIỆT TRONG VIỆC TIẾP CẬN TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI GIỮA NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH VÀ TRẺ VỊ THÀNH NIÊN

0
Cách trẻ nhìn nhận Mạng xã hội

PENN STATE 17/3/2015
Trước việc một số cha mẹ đã và đang băn khoăn không biết con mình nghĩ gì khi chúng đưa những thông tin và hình ảnh cá nhân nguy hiểm lên các mạng xã hội, một nhóm các nhà nghiên cứu tại ĐH Penn State đã đưa ra câu trả lời: các bạn ấy không nghĩ gì cả, hay ít nhất là các bạn không suy nghĩ theo hướng mà đa phần người lớn sẽ suy nghĩ.
Trong một nghiên cứu, các nhà khoa học phát hiện ra rằng cách mà thanh thiếu niên xử lý những nguy cơ trực tuyến có liên quan đến thông tin cá nhân khác hẳn so với cách tiếp cận của người trưởng thành. Theo Haiyan Jia, học giả sau tiến sĩ về khoa học và công nghệ thông tin, trong khi đa số người trưởng thành sẽ suy nghĩ trước rồi mới đưa ra câu hỏi, các bạn trẻ thường có xu hướng “làm liều” trước rồi mới kiếm tìm sự trợ giúp.
“Người lớn thường cảm thấy hành động trên là rất nghịch lý và gây khó hiểu vì họ đã quá quen với việc cân nhắc trước tiên những nguy cơ có thể xảy ra khi tiết lộ thông tin qua mạng rồi sẽ thực hiện những bước đề phòng cần thiết tiếp theo dựa trên những quan ngại phía trước” Jia cho biết. “Mô hình nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trẻ vị thành niên không suy nghĩ giống vậy - các bạn sẽ chia sẻ thông tin rồi mới đánh giá các hệ quả. Đối với các bạn trẻ, tiến trình trên sẽ mang tính kinh nghiệm nhiều hơn.”
Theo Pamela Wisniewski, học giả sau tiến sĩ, người làm việc chung với Jia, mô hình “chia sẻ trước – sửa chửa sau” này có thể vay mượn cách nhìn mà các nhà nghiên cứu gọi là “nghịch lý riêng tư”.
Wisniewski chia sẻ, nghịch lý riêng tư cho rằng giữa những quan ngại về tính riêng tư của các bạn trẻ và những thông tin các bạn tiết lộ không có mối liên hệ với nhau.
Wisniewski cho biết, “Đối với người trưởng thành, nhiều yếu tố khác nhau sẽ góp phần vào quan ngại của cá nhân về thông tin riêng tư của họ. Đồng thời, dựa trên những quan ngại đó, cá nhân sẽ thực hiện những hành động cụ thể, chẳng hạn, chia sẻ ít thông tin hơn”, “Đây là một mô hình rất hợp lý và lấy người trưởng thành làm trọng tâm. Tuy nhiên, có vẻ nó lại không ứng dụng được vào trường hợp của các bạn thanh thiếu niên”.
Những hệ quả tiêu cực đến từ việc sử dụng mạng xã hội (SNS-Social Network Sites)
Theo các nhà nghiên cứu, khi trẻ bắt đầu gặp phải những vấn đề về sự riêng tư, các bạn thường sẽ cố gắng tìm những biện pháp bảo vệ khả thi để giảm thiểu những nguy cơ. Những biện pháp trên có thể bao gồm việc tìm kiếm lời khuyên từ người lớn, gỡ bỏ thông tin trực tuyến hay “offline” hoàn toàn.
Trẻ vị thành niên thường bị ảnh hưởng bởi các nguy cơ trực tuyến nhiều hơn vì các bạn sử dụng truyền thông xã hội như là nơi để thể hiện bản thân và giành lấy sự chấp nhận từ bè bạn. Khao khát thể hiện và được công nhận này có thể khiến các bạn tiết lộ quá nhiều thông tin. Ví dụ, các em có thể để lộ những thông tin liên lạc quan trọng, hay bắt đầu trao đổi hình ảnh nhạy cảm với người lạ.
Jia cho biết, “Người trưởng thành không hiểu được chuyện này quan trọng như thế nào đối với các bạn tuổi ‘teen’”. “Trước khi tôi bắt tay thực hiện nghiên cứu này, tôi đã nghe đến nhiều thảm kịch do các bạn trẻ đang tìm kiếm nhân dạng trực tuyến của mình, dẫn tới những tình huống rất nguy hiểm và thường kết thúc bằng những hệ quả rất khủng khiếp.”
Theo các nhà nghiên cứu, phản ứng đầu tiên của cha mẹ có thể sẽ là cấm trẻ lên Internet hay các mạng xã hội, tuy nhiên việc tránh né những nguy cơ lại mang tới các vấn đề khác.
Jia chia sẻ, “Đầu tiên, tôi không thể tưởng tượng được việc một bạn trẻ, vào lứa tuổi đó, mà phải lớn lên và tránh né Internet cùng giao tiếp trực tuyến.” “Nhưng cũng có nguy cơ rằng nếu không được phép đương đầu với những nguy cơ dù là nhỏ nhất, trẻ vị thành niên sẽ  không có cơ hội tiếp cận đến tất cả những lợi ích mà Internet mang lại, các bạn cũng sẽ không học được cách xủ lý các nguy cơ và cách di chuyển an toàn trong thế giới trực tuyến này.”
Jia nói thêm, việc học bơi có thể là mô hình tốt nhất dành cho những cha mẹ muốn động viên con mình sử dụng Internet và truyền thông xã hội an toàn.
“Nó khá giống với việc học bơi. Bạn cần để các em xuống nước từ từ và đảm bảo rằng các bạn cần biết cách bơi trước khi được phép bơi một mình và bơi vào những khu vực sâu hơn.”
Các nhà nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ Khảo sát Trẻ Vị thành niên và Quản lý Riêng tư năm 2012 của Trung tâm Nghiên cứu Pew. Bản khảo sát thu thập thông tin về những hành vi truyền thông xã hội từ 588 bạn thanh thiếu niên tại Hoa Kỳ, đa số các bạn vẫn đang sử dụng các trang xã hội như Facebook.

Đọc tiếp

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2015

LÀM CÁCH NÀO ĐỂ NÂNG CAO Ý CHÍ NHẰM ĐẠT ĐẾN MỤC TIÊU?

0
Làm cách nào để có ý chí?

Nhiều người cho rằng họ chỉ có thể thay đổi cuộc sống khi sở hữu một phẩm chất vô cùng khó nắm bắt sau đây: khả năng tự kiểm soát, hay còn gọi là ý chí. Có khả năng này, chúng ta có thể sẽ ăn uống lành mạnh, tập thể dục đều đặn, tránh xa rượu bia, tiết kiệm tiền bạc, ngưng trì hoãn và đạt được tất cả những mục tiêu cao cả mà chúng ta đặt ra.

Ý chí là khả năng chống cự lại những cám dỗ ngắn hạn để vươn tới những mục tiêu dài hạn. Một số người chỉ đơn giản xem nó như khả năng trì hoãn sự thích thú vì một mục đích cụ thể nào đó. Hàng ngày, theo cách này hay cách khác, chúng ta đều sử dụng ý chí. Dù đó là khi chúng ta ngăn cản bản thân lướt web trong lúc còn nhiều việc phải làm hay là chọn ăn trưa bằng rau củ nay vì một bữa ăn nhanh.

Khảo sát Stress in AmericaTM của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ cho thấy, việc thiếu ý chí là rào cản lớn nhất để dẫn tới thay đổi. Mặc dù khá nhiều người đổ lỗi cho những lựa chọn sai lầm vì ý chí nửa vời của mình, nhưng rõ ràng họ vẫn chưa từ bỏ hết hi vọng. Phần lớn những người tham gia khảo sát vẫn tin rằng ý chí là điều gì đó mà chúng ta có thể học và luyện tập.

Liệu ý chí là có chừng có mức?
Tương tự như cơ bắp, ý chí có thể được củng cố qua thời gian.[1] Tuy nhiên, mỗi người có một khối lượng ý chí nhất định và nếu chúng ta sử dụng nó qua mức, nó có thể trở nên cạn kiệt. Nhiều nghiên cứu hiện cho rằng việc liên tục chống trả lại cám dỗ sẽ làm cạn kiệt nguồn ý chí của chúng ta.

Thế nhưng, nhiều nhà khoa học không tin rằng ý chí của một con người có thể bị cạn kiệt hoàn toàn. Thay vào đó, chúng ta thường sẽ giữ lại một ít để dành cho những nhu cầu trong tương lai. Một động lực phù hợp sẽ cho phép con người chạm đến những “phần để dành” đó và tiếp tục kiên trì ngay cả khi sức mạnh ý chí bị suy giảm.

Tuy cơ bắp có thể trở nên mệt mỏi khi bị sử dụng quá mức trong một thời gian ngắn nhưng chúng cũng có thể trở nên bền bỉ hơn nếu được tập luyện thường xuyên trong một thời gian dài. Chúng ta có thể học cách sử dụng ý chí hiệu quả hơn sao cho nguồn lực có thể kéo dài và, cũng như cơ bắp, thậm chí có thể củng cố nó.

Nghiên cứu cho thấy có 3 bước để đạt đến một mục tiêu:[2]
·         Thiết lập động cơ thay đổi và đưa ra mục tiêu rõ ràng
·         Giám sát hành vi để đạt đến mục tiêu
·         Luyện tập ý chí để đạt chuẩn bị cho thành công

Bạn có thể làm gì?
Một vài chiến lược sau đây được đưa ra để giúp bạn luyện tập khả năng tự kiểm soát:
·      Tập trung mỗi lần một mục tiêu: Các nhà tâm lý phát hiện rằng việc tập trung vào một mục tiêu đơn lẻ, rõ ràng thay vì có quá nhiều mục tiêu cùng lúc sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn. Việc hoàn thành mục tiêu đầu tiên sẽ “giải phóng” một lượng ý chí và bạn có thể sử dụng nó  cho mục tiêu tiếp theo. Hãy tập trung mỗi lần vào một hành vi, ví dụ như quyết tâm đi bộ 45 phút vài lần trong tuần hay giành 20 phút mỗi ngày để học bài cho kì thi sắp tới.
·    Tránh xa cám dỗ. Né tránh sự chi phối là chiến lược hiệu quả để duy trì khả năng tự kiểm soát. Việc đem các nguồn gây nhiểu ra khỏi nơi bạn ở, hay ít nhất, là ra khỏi tầm mắt sẽ đem lại thành công. Ví dụ, việc có một không gian dành riêng cho việc học, giảm thiểu những thứ gây chia trí dù là nhỏ nhất, là rất quan trọng. Khi chúng ta cần tập trung, chúng ta có thể cần phải tắt điện thoại, thoát email và loại bỏ tất cả các nguồn gây nhiễu xung quanh chúng ta.
·      Lên kế hoạch. Các nhà khoa học chứng minh, có một kế hoạch cụ thể có thể giúp chúng ta chống lại những cám dỗ mà không phải mất nhiều ý chí.[3] Quyết định trước cách thức phản ứng với tình huống có thể giúp chúng ta kiên trì với mục tiêu. Ví dụ, một người đang quyết tâm bỏ rượu có thể tự nhủ trước khi đi chơi rằng “Nếu ai đó mời mình uống, mình sẽ uống soda chanh mà thôi.” Có một kế hoạch từ trước sẽ giúp chúng ta ra quyết định ngay lập tức mà không phải sử dụng ý chí.
·   Giám sát hành vi hướng đến mục tiêu cuối cùng: Hãy lập một kế hoạch hợp lý để hướng tới mục tiêu cuối cùng và tái cam kết mỗi ngày để tiến tới mục tiêu đó. Nếu nhiệm vụ của bạn là giảm chi tiêu trong tháng, hãy theo dõi tất cả tiền bạc của mình được sử dụng ra sao. Nghiên cứu cho thấy việc hành vi ghi nhận sẽ khiến chúng ta nhận thức rõ ràng hơn và đem lại những thay đổi về hành vi.
·  Tưởng thưởng bản thân. Khi bạn đạt đến một cột mốc nào đó, hãy tự thưởng vì đã hoàn thành tốt công việc, tuy nhiên hãy đảm bảo rằng phần thưởng không đi nguơc lại với những thay đổi mà bạn đang cố tạo ra, ví dụ như là quyết định đi ăn kem vì vừa sụt ký! Thay vào đó, hạy tham gia vào một hoạt động vui thú nhưng lành mạnh khác. Ví dụ, nếu bạn đang quá bận bịu, hãy đứng dậy, đi tới đi lui mỗi khi có thể như là cách để tự thưởng cho mình vài phút thư giãn.
·         Ngủ đủ giấc. Thiếu ngủ có thể ảnh hưởng đến cách thức cơ thể và trí não sử dụng năng lượng, điều này cũng ảnh hưởng đến khả năng kháng cự cám dỗ của chúng ta. Khi một người ngủ không đủ giấc, ý chí của anh ta sẽ dễ dàng thất bại. Tuy vậy, chỉ một đên ngủ ngon giấc cũng là đã đủ để thúc đẩy ý chí.[4]
·      Tìm kiếm sự hỗ trợ: Nghiên cứu cho thấy có một mạng lưới hỗ trợ sẽ giúp chúng ta đạt đến mục tiêu của mình. Hãy chuẩn bị xung quanh mình những người bạn tin tưởng và biết rằng sẽ ủng hộ mục tiêu của bạn, sẵn sàng giúp bạn thành công.

Nhà tâm lý sẽ giúp gì cho bạn?
Nếu bạn đang cố gắng cải thiện ý chí của mình, một nhà tâm lý có thể giúp đỡ cho bạn. Các tâm lý gia được đào tạo để hỗ trợ mọi người xác định khu vực vấn đề và từ đó phát triển kế hoạch hành động để thay đổi các vấn đề đó.
If you are trying to improve your self-control, a psychologist can help. Psychologists are trained to help people identify problem areas and then develop an action plan for changing them.
Nhiều câu hỏi về bản chất của ý chí vẫn còn cần những nghiên cứu trong tương lai trả lời. Nhưng hiện tại, có vẻ như với những mục tiêu rõ ràng, khả năng tự giám sát cùng một ít tập luyện, bạn có thể giúp ý chí của bạn vững vàng trước những điều gây xao nhãng.

The American Psychological Association’s Practice Directorate gratefully acknowledges the assistance of Linda Alverson-Eiland, PhD, Mary K. Alvord, PhD, Lynn Bufka, PhD, Mary Gresham, PhD, Mark Muraven, PhD, David J. Palmiter, PhD, Ron Palomares, PhD, and Richard G. Tedeschi, PhD. 
1 Baumeister, R.F., Bratslavsky, E., Muraven, M., Tice, D.M. (1998). Ego depletion: Is the active self a limited resource? Journal of Personality and Social Psychology, 74(5), 1252-1265.
2 Baumeister, R., & Tierney, J. (2011). Willpower: Rediscovering the Greatest Human Strength. New York: Penguin Press.
3 Duckworth, A.L., Grand, H., Loew, B., Oettingen, G. & Gollwitzer, P.M. (2010). Self-regulation strategies improve self-discipline in adolescents: benefits of mental contrasting and implementation intentions. Educational Psychology. 31, 17-26.
4 McGonical, K. (2012). The willpower instinct: How self-control works, why it matters, and what you can do to get more of it. New York, NY: Avery/Penguin Group USA

Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ American Psychological Association (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sữ dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của APA http://www.apa.org/helpcenter/willpower-fact-sheet.aspx và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/06/làm-cách-nào-để-nâng-cao-ý-chỉ-đặt-mục-tiêu-thành-công.html. Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của APA.


Đọc tiếp

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2015

TÌNH DỤC NHIỀU CHƯA CHẮC KHIẾN BẠN HẠNH PHÚC

0
Tình dục và hạnh phúc

đH CARNEGIE MELLON  08/05/2015
Dựa trên những kết quả chung chung về tương quan giữa tần suất quan hệ tình dục và mức độ hạnh phúc, vô số các nghiên cứu và sách self-help thường cho rằng tình dục sẽ làm tăng khả năng hạnh phúc. Tuy nhiên, có nhiều lý do có thể dẫn đến tương quan tỉ lệ thuận giữa hai yếu tố trên. Ví dụ, việc cảm thấy hạnh phúc có thể đưa đến việc một người quan hệ tình dục nhiều hơn (đây là hiện tượng mà các nhà nghiên cứu gọi là “tương quan nhân-quả ngược”), hay việc có sức khỏe tốt có thể khiến một người vừa hạnh phúc, vừa quan hệ nhiều hơn.
Trong nghiên cứu đầu tiên nhằm xác định mối liên hệ nhân-quả giữa tần suất tình dục và sự hạnh phúc, các nhà nghiên cứu ĐH Carnegie Mellon đã thực hiện một thực nghiệm trong đó yêu cầu một số cặp đôi sẽ quan hệ tình dục nhiều hơn một số khác, đồng thời họ cũng quan sát mức độ hạnh phúc của cả hai nhóm trong vòng 3 tháng. Trong nghiên cứu xuất bản trên Journal of Economic Behavior & Organization, nhóm nghiên cứu kết luận rằng chỉ quan hệ tình dục nhiều hơn là không đủ để làm tăng hạnh phúc của hai người, một phần là vì nâng tần suất sẽ dẫn đến suy giảm ham muốn và tận hưởng tình dục.
Mẫu nghiên cứu bao gồm một trăm hai mươi tám nghiệm thể khỏe mạnh từ 35-65 tuổi là những cặp vợ chồng đã kết hôn. Các nhà nghiên cứu phân bố ngẫu nhiên các cặp đôi trên vào hai nhóm. Nhóm đầu tiên không nhận được yêu cầu nào về việc tăng tần suât quan hệ tình dục. Trong khi đó, nhóm thứ hai được yêu cầu tăng số lượng quan hệ lên gấp đôi.
Mỗi người tham gia sẽ hoàn thành ba loại khảo sát khác nhau. Khi bắt đầu nghiên cứu, các nghiệm thể sẽ trả lời các câu hỏi nhằm thiết lập một chuẩn mực ban đầu. Trong suốt thời gian thực nghiệm, mỗi ngày các nghiệm thể sẽ thực hiện một khảo sát trực tuyến nhằm đo lường các hành vi sức khỏe, mức độ hạnh phúc và tần suất, kiểu cùng mức độ hài lòng trong quan hệ tình dục. Cuối cùng, nghiệm thể sẽ thực hiện một khảo sát còn lại nhằm phân tích xem liệu chuẩn mực ban đầu có thay đổi sau ba tháng hay không.
Những cặp đôi được yêu cầu tăng tần suất quan hệ tình dục đã làm y như hướng dẫn. Tuy nhiên, điều này không những không làm tăng mà còn làm giảm chút ít mức độ hạnh phúc. Tìm hiểu kỹ hơn, các nhà nghiên cứu còn phát hiện ra rằng những cặp vợ chồng quan hệ nhiều hơn còn cho thấy sự suy giảm trong mức ham muốn và thích thú với tình dục. Thật ra, quan hệ tình dục nhiều không dẫn tới hai hệ quả trên. Thay vào đó, có vẻ như việc bị yêu cầu quan hệ thay vì tự khởi sự lại chính là nguyên nhân của hiện tượng này.
“Có lẽ các cặp vợ đã thay đổi lý do thúc đẩy họ quan hệ tình dục, từ một hành động tự nguyện trở thành một hành vi thuộc một phần của nghiên cứu. Nếu chúng tôi có thể tiến hành lại nghiên cứu này, chúng tôi sẽ thử khuyến khích nghiệm thể quan hệ tình dục nhiều hơn nhưng theo những cách lãng mạn hơn, thay vì chỉ đơn thuần yêu cầu họ làm điều đó,” George Loewenstein, chủ nhiệm nghiên cứu và Herbert A. Simon, GS Kinh tế và Tâm lý, ĐH Nhân văn và Khoa học Xã hội Dietrich, cho biết.
Dù vậy, Loewenstein vẫn tin rằng đa số các cặp vợ chồng vẫn quan hệ tình dục khá ít và ông nghĩ rằng việc tăng tần suất quan hệ theo một cách tích cực sẽ mang lại những lợi ích nhất định.
Tamar Krishnamurti, một trong những người thiết kế nghiên cứu, cho rằng kết quả có thể giúp các cặp đôi cải thiện đời sống tình dục và trở nên hạnh phúc hơn.
Ông cho biết thêm, “Một khi đã bắt đầu, mong muốn tình dục sẽ sụt giảm nhanh hơn so với việc tận hưởng quan hệ. Thay vì tập trung vào việc tăng tần suất tình dục cho bằng mức độ họ từng trải qua vào giai đoạn đầu của mối quan hệ, các cặp vợ chồng có thể chú ý cố gắng tạo ra những khung cảnh khuyến khích mong muốn và biến tình dục trở thành một hoạt động mang đến nhiều niềm vui hơn.”



                                                                                         
Đọc tiếp

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2015

GIÁM SÁT NHÂN VIÊN BẰNG THIẾT BỊ ĐIỆN TỬ CÓ LÀM TĂNG HIỆU SUẤT CÔNG VIỆC?

0
Giám sát nhân viên bằng thiết bị điện tử. Nên hay không?


Nhằm nỗ lực nâng cao hiệu quả làm việc của nhân viên, nhiều công ty thường tăng cường sử dụng thiết bị điện tử (Electronic Performance Monitoring – EPM) để giám sát nhân viên của mình khi làm việc. Với hệ thống trên, người quản lý có thể liên tục theo dõi và phân tích ngay lập tức tiến trình làm việc của nhân viên.

Ví dụ một công ty tổng đài điện thoại với công nghệ EPM, giám sát viên có thể xem lại các đoạn băng điện thoại cũng như lắng nghe trực tiếp các cuộc hội thoại bất kỳ lúc nào. Hệ thống giám sát điện tử cũng được sử dụng để liên tục thu thập thông tin về đo lường hiệu quả công việc, ví dụ như thời gian làm việc, tổng doanh số hay thời gian nhân viên nghỉ giải lao.

Nhưng liệu những “con mắt tàng hình” này có giúp làm tăng hiệu quả công việc hay không?
Một nghiên cứu mới của nhà khoa học tâm lý Devasheesh P. Bhave thuộc ĐH Concordia cho thấy giám sát điện tử có mối tương quan với hiệu suất công việc; không những thế, ông còn phát hiện nhân viên càng được giám sát nhiều bao nhiêu thì họ càng làm việc hiệu quả nhiều bấy nhiêu.

Bhave cho rằng sự hiện diện của EPM có tác động tương tự của việc “sếp” hiện diện trực tiếp tại văn phòng trên hành vi của nhân viên. Việc nhân viên biết rằng họ có thể bị đánh giá bất kỳ lúc nào, nhưng không biết chính xác là khi nào, sẽ khuyến khích họ làm việc chăm chỉ và hiệu quả hơn trong mọi công việc.

Để kiểm chứng lý thuyết này, Bhave phân tích đánh giá chất lượng các cuộc gọi đến tổng đài trong vòng 3 tháng. Việc đánh giá được thực hiện bởi một công ty thứ ba chuyên về lượng giá chất lượng cuộc gọi theo một hệ thống đo lường được chuẩn hóa, ví dụ như đo đạc về mức độ nhiệt tình qua giọng nói và việc tuân thủ quy trình của công ty.

Sau khi phân tích hơn 4200 cuộc gọi từ 248 nhân viên, Bhave phát hiện rằng nhân viên càng bị giám sát nhiều bao nhiêu thì hiệu quả công việc của họ càng cao bấy nhiêu.

Một thực nghiệm thứ hai tìm hiểu về mức độ giám sát viên thường xuyên sử dụng giám sát qua điện tử để kiểm tra nhân viên. 24 giám sát viên được cho điền vào một phiếu khảo sát về mức độ họ sử dụng giám sát điện tử. Họ cũng được cho đánh giá hiệu quả công việc và mức độ các hành vi tích cực và tiêu cực tại nơi làm việc của 204 nhân viên.

Một lần nữa, kết quả cho thấy mối liên hệ thuận chiều giữa mức độ sử dụng giám sát điện tử thường xuyên và hiệu quả công việc. Các nhà quản lý sử dụng giám sát điện tử càng nhiều thì hiệu quả hoạt động của nhân viên càng cao. Tuy nhiên, Bhave cũng tìm thấy những tác động khác của hệ thống này lên hành vi nhân viên.

Trong khi việc giám sát thường xuyên không cho thấy những ảnh hưởng làm giảm các hành vi tiêu cực, như lướt web hay làm việc riêng, nó lại cho thấy có mối liên hệ đến việc tạo ra nhiều hành vi tích cực hơn, như giúp đỡ đồng nghiệp.

Không có lời giải thích rõ ràng cho mối liên hệ này nhưng một khả năng là nhân viên được thúc đẩy để thực hiện nhiều hành vi tích cực hơn nhằm tạo ra ấn tượng tốt khi được đánh giá.

Dù EPM cho thấy nhiều hứa hẹn trong việc cải thiện hiệu năng của nhân viên, những tổ chức như ACLU và Electronic Frontier Foundation lại lên tiếng quan ngại về việc sử dụng giám sát điện tử tại nơi làm việc.
Bhave viết trên Journal of Personnel Psychology, “Dù kết quả cho thấy mối liên hệ tích cực giữa việc sử dụng EPM để giám sát và hiệu quả hoạt động của nhân viên, việc sử dụng EPM quá mức lại có thể gây hại cho hiệu năng của người lao động khi tính đến những quan ngại về công bằng và tính tự chủ.”

Tài liệu tham khảo
Bhave, D.P. (2014). The Invisible Eye? Electronic Performance Monitoring and Employee Job Performance. Personnel Psychology. 67(3), 605–635. DOI: 10.1111/peps.12046



Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter