Thứ Năm, 12 tháng 5, 2016

NAM GIỚI LÀM VIỆC TRONG CÁC NGÀNH NGHỀ ĐẶC THÙ CỦA NỮ GIỚI THƯỜNG KHÔNG BỊ THÚC ĐẨY BỞI TIỀN BẠC

0
Giá trị của nghề nhà giáo
Nam giới làm việc trong các ngành nghề đặc thù dành cho nữ giới có xu hướng xem trọng khía cạnh xã hội của ngành nghề hơn yếu tố tài chính.

Đây là kết quả của nghiên cứu do TS. Kazia Solowiej, TS Catharine Ross, và GS. Jan Francis-Smythe của trường ĐH Worcester, TS. Dr Catherine Steele  từ ĐH Leicester.
Tổng cộng có 34 nam giới được phỏng vấn; bao gồm 15 giáo viên tiểu học và 19 nhân viên hành chính làm việc ở các trường Đại học. Họ trao đổi với nhau về kinh nghiệm nghề nghiệp, trải nghiệm về thành công và những hỗ trợ họ nhận được từ nơi làm việc. Kết quả phỏng vấn cho thấy định nghĩa về thành công nghề nghiệp bao gồm việc xây dựng các mối quan hệ thân tình với đồng nghiệp, tính linh hoạt của công việc, khả năng giành thời gian cho gia đình và cam kết xã hội. Tiền lương và sự thăng tiến không nằm trong những yếu tố được đề cập.

Đối với những giáo viên nam dạy tiểu học, sự phát triển nghề nghiệp được phản ánh qua những thử thách khác nhau do học sinh mang đến. Họ cũng đánh giá cao sự công nhận từ đồng nghiệp. Tuy nhiên, một số cảm thấy chịu áp lực khi bị yêu cầu tìm kiếm cơ hội phát triển nghề nghiệp, điều đi ngược lại với mục tiêu công việc thực sự của họ.

TS. Solowiej cho biết: “Chúng ta thường nghĩ nam giới đánh giá nghề nghiệp của mình thông qua việc thăng tiến thường xuyên; tuy nhiên nghiên cứu cho thấy điều đó không phải lúc nào cũng đúng. Nam giới làm việc trong những nghề mà nữ giới chiếm ưu thế thường đánh giá sự thành công qua những tiêu chí nằm ngoài lương bổng và thăng tiến.

“Các tổ chức cần hiểu rằng một số nhân viên nam không đơn thuần được thúc đẩy bởi các cơ hội thăng tiến. Vì vậy, những giả định khuôn mẫu về giới đối với sự thành công cần phải được xem xét. Từ đó, chúng ta mới có thể hiểu được đâu là điều quan trọng đối với mỗi cá nhân trong những bối cảnh nghề nghiệp khác nhau.”

Nguồn:

http://www.bps.org.uk/news/different-motivations-male-workers-typically-female-jobs
Đọc tiếp

Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2016

NHỮNG NGƯỜI SỢ NHỆN THƯỜNG THẤY NHỆN TO HƠN THỰC TẾ

0
Chứng ám sợ nhện
Một nghiên cứu mới cho thấy những người sợ nhện thường sẽ thấy nhện to hơn kích thước thật.
"Chúng tôi nhận thấy dù tất cả những người bị ám sợ nhện đều xem nhện là rất khó chịu, chỉ những người có mức ám sợ cao mới đánh giá quá mức kích thước của loài vật này”, Tali Leibovich, nhà khoa học tại Bộ môn Não và Khoa học Nhận thức thuộc ĐH Ben-Gurion (BGU), Negev-Israel, cho biết.
Các nhà nghiên cứu cho biết, ý tưởng cho nghiên cứu này xuất phát từ một kinh nghiệm thực tế. Noga Cohen, sinh viên cao học về tâm lý thần kinh lâm sàng tại BGU, một ngày nọ phát hiện một con nhện đang bò. Leibovich là người có chứng sợ nhện, đã yêu cầu Cohen tìm cách loại trừ con nhện “to đùng” đó.
Cohen nhận thấy yêu cầu trên thật kì lạ, nhất là do cô nghĩ con nhện trông khá nhỏ.
"Chuyện này làm sao có thể xảy ra nếu cả hai chúng ta đều đang nhìn cùng một con nhện?” Cohen đặt câu hỏi.
Vì vậy, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một thực nghiệm để hình dung liệu chứng sợ nhện ảnh hưởng tới nhận thức của chúng ta về nhện như thế nào. Theo ghi nhận trong nghiên cứu, nhóm nghiên cứu chỉ lựa chọn các nghiệm thể là nữ “do khả năng mắc chứng sợ nhện ở nữ giới cao hơn nam giới”.
Trong một thực nghiệm, các nhà khoa học đã yêu cầu 80 sinh viên nữ trả lời một bảng hỏi đánh giá mức độ ám sợ nhện của họ. Nhóm nghiên cứu chỉ chọn ra trong số đó 20% mức điểm cao nhất và 20% mức thấp nhất, tương ứng với 12 sinh viên cho biết rất sợ nhện và 13 sinh viên không hề sợ.
Nhóm nghiên cứu sau đó cho các sinh viên trên xem qua trên máy tính một loạt hình các loại chim, bướm, nhện và yêu cầu họ chọn kích cỡ của từng con vật trên phù hợp với một thang đo tỉ lệ đặc biệt với một cực là ruồi và cực còn lại là cừu. Thực nghiệm cũng yêu càu họ đánh giá mức độ gây khó chịu của từng tấm hình.
Thiết kế nghiên cứu với hình các loài vật khác và thang đo đặc biệt

 Nhìn chung, tất cả các sinh viên đều cảm thấy khó chịu với tấm hình có nhện. Tuy nhiên, chỉ các sinh viên trong nhóm sợ nhện mới đánh giá quá mức kích cỡ của nhện so với nhóm hình bướm.
Các nhà nghiên cứu không biết liệu đây là hiệu ứng chỉ xảy ra ở nhện hay cũng diễn ra với các ám sợ loài vật khác. Vì vậy, họ tiến hành thực nghiệm thứ hai, yêu cầu 64 sinh viên nữ thực hiện cùng quy trình với thực nghiệm đàu tiên. Tuy nhiên lần này là với hình ong vò vẽ, bọ và bướm cùng với hình nhện.
Nhóm có mức ám sợ nhện cao đánh giá hình ong gây khó chịu hơn nhóm ít sợ, tuy nhiên họ không đánh giá quá mức kích cỡ của ong.
"Kết quả cho thấy bản thân mức độ gây khó chịu là chưa đủ để giải thích cho việc thổi phồng kích cỡ”. Các nhà nghiên cứu cho biết, kết quả cũng cho thấy cảm xúc có thể ảnh hưởng đến cách chúng ta nhìn nhận kích cỡ của nhện.
"Nghiên cứu cũng đặt ra câu hỏi: liệu sợ hãi có làm sai lệch kích thước, hay chính việc nhầm lẫn về kích thước gây ra sự sợ hãi?”, Leibovich cho biết. “Các nghiên cứu trong tương lai đi tìm câu trả lời cho câu hỏi trên có thể sẽ trở thành nền tảng để phát triển các phương pháp trị liệu cho các loại ám sợ khác nhau.”
Dịch: Hành lang Tâm lý



Đọc tiếp

Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2016

ADHD - RỐI LOẠN TÂM LÝ HAY ĐƠN GIẢN TRẺ CẦN THÊM THỜI GIAN?

0

KJ DELL’ANTONIA  11/03/2016

Nghiên cứu mới cho thấy các học sinh nhỏ nhất trong lớp thường dễ bị chẩn đoán có rối loạn tăng động kém chú ý (ADHD – attention deficit hyperactivity disorder) nhiều hơn các học sinh lớn nhất lớp. Kết quả đặt ra câu hỏi về cách thức chúng ta nhìn nhận những trẻ “hiếu động” – đồng thời cho thấy điều gì diễn ra với các trẻ nhỏ nhất lớp.

Những nhà nghiên cứu tại Đài Loan đã phân tích dữ liệu từ 378.881 trẻ từ 4 đến 17 tuổi  và phát hiện những trẻ sinh vào tháng 8, giới hạn để đăng ký vào học lớp 1 tại Đài Loan, thường có chẩn đoán ADHD nhiều hơn những trẻ sinh vào tháng 9. Các trẻ sinh vào tháng 9 thường nhập học trễ hơn một năm và do đó có thêm 12 tháng để trưởng thành trước khi bắt đầu đi học. Kết quả nghiên cứu được đăng tải trên Journal of Pediatrics.

Với bối cảnh có một số tranh cãi về việc liệu ADHD có thật sự là khiếm khuyết ngăn cản khả năng thành công trong đời sống và học tập của trẻ và liệu trị liệu có hiệu quả hay không, các giả nghiên cứu kết luận “kết quả nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cân nhắc độ tuổi của trẻ trong cùng một lớp khi chẩn đoán ADHD và kê toa thuốc điều trị rối loạn này”. TS Mu-Hong Chen, chủ nhiệm nghiên cứu, hi vọng rằng những hiểu biết về mối liên kết giữa độ tuổi vào học và chẩn đoán ADHD sẽ khuyến khích cha mẹ, giáo viên và các nhà lâm sàng cho các trẻ nhỏ trong lớp thêm thời gian, đồng thời trợ giúp, tạo điều kiện cho các em chứng tỏ khả năng của mình.

Các nghiên cứu khác cũng cho kết quả tương tự. Một nghiên cứu tại Mỹ cho thấy 8,4% trẻ sinh trong tháng trước hạn nhập học mẫu giáo tại bang mà gia đình trẻ sinh sống có chẩn đoán ADHD, cao hơn so với con số 5,1% trẻ có cùng chẩn đoán nhưng sinh vào ngay tháng tiếp theo.

Vậy chúng ta lý giải các khác biệt này như thế nào? Cần phải thận trọng là ý kiến của Michael Manos, giám đốc Trung tâm Đánh giá và Điều trị ADHD thuộc Bệnh viện Nhi Cleveland.

“Loại tập trung chú ý mà chúng ta sử dụng trong trường học là kiểu chú ý mà các trẻ có ADHD cảm thấy khá khó khăn khi đối mặt”, vậy nên trong môi trường học đường, chúng ta thường dễ nhận ra các triệu chứng kém chú chú ý, Manos cho biết. “Nếu quy trình chẩn đoán chính xác, một số trẻ sẽ được phát hiện sớm hơn các trẻ khác. Sẽ rất tốt nếu các trẻ nhỏ tuổi hơn có ADHD bắt đầu được điều trị sớm hơn vì vào học sớm hơn.

Nhưng thực tế lại cho thấy quy trình chẩn đoán lại không chính xác. Manos cho biết, “Nếu gia đình đưa trẻ đến khám tại phòng khám nhi khoa chăm sóc ban đầu với mỗi lần khám chỉ 15 phút, phụ huynh mô tả các đặc điểm tăng động của trẻ và bác sĩ tự động kê toa thuốc, chúng ta sẽ thấy ở đây có vấn đề.” Nhiều cha mẹ mô tả những lo lắng của mình về hành vi của trẻ không phải vì những hành vi đó không phù hợp với các giai đoạn phát triển, họ đang mô tả các hành vi không được như họ kì vọng”, điều này cũng có thể là vấn đề trong lớp học khi nhiều học sinh lớn tuổi hơn các học sinh khác.

Daphna Bassok, giáo sư tại ĐH Giáo dục Cury, chuyên nghiên cứu về mức độ sẵn sang vào học mẫu giáo của trẻ, cho biết, “Tôi nghĩ mối liên hệ giữa độ tuổi vào học và chẩn đoán ADHD chưa hẳn là về việc trẻ còn nhỏ hay ‘chưa đủ sẵn sàng’. Thay vào đó, tôi nghĩ vấn đề nằm ở độ tuổi tương đối của trẻ.”

“Vào các lớp nhỏ, một hay hai tháng tuổi chênh lệch có thể tạo ra khác biệt khá lớn. Bất kể tuổi thật của trẻ ra sao, các giáo viên thường nhìn nhận những trẻ nhỏ nhất lớp là có vấn đề về tập trung chú ý và hành vi nhiều hơn các trẻ lớn hơn.” Khi các giáo viên trên ghi nhận vấn đề, họ đã vạch sẵn kết quả chẩn đoán. Tuy nhiên, bản thân chẩn đoán vẫn phụ thuộc vào chuyên môn của nhà lâm sàng.

Stephen Hinshaw, đồng tác giả cuốn sách “A.D.H.D: What Everyone Needs to Know”, cho rằng những nhận biết sớm về triệu chứng kém chú ý “có thể là cơ hội để can thiệp sớm cho tất cả các trẻ mẫu giáo […] Mặt khác, nó cũng có thể khiến chúng ta dán nhãn quá mức cho trẻ, đa phần là các trẻ trai, và đó là điều chẳng ai mong muốn.” TS Hindshaw kết luận.

Link nguồn:


Dịch: Hành Lang Tâm Lý
Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter