Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014

KHI TRẺ CẦN ĐƯỢC TRỊ LIỆU NHƯNG LẠI KHÔNG MUỐN ĐẾN

0
Trẻ em và trị liệu

MARGARITA TARTAKOVSKY, M.S. 

Trị liệu là việc khó khăn ngay cả với người lớn. Sự xấu hổ ngăn cản nhiều người trong chúng ta nhấc điện thoải lên và đặt hẹn. Thêm vào đó, tiến trình trị liệu còn rất vất vả. Nó thường đòi hỏi ta bộc lộ những yếu điểm, dấn thân vào những thử thách khó nhằn, thay đổi các hành vi không lành mạnh và học hỏi những kỹ năng mới.

Vì thế, chẳng có gì bất ngờ khi trẻ không muốn được trị liệu. Sự phản kháng này chỉ leo thang khi các em hiểu sai cách thức tiến trình trị liệu diễn ra. “Nhiều trẻ cảm thấy sợ hãi hay lo lắng khi đi trị liệu, đặc biệt nếu các em tin rằng mình đang gặp rắc rối hay cho rằng bản thân mình là ‘tồi tệ’”, Clair Mellethin, Nhân viên CTXH Lâm sàng, nhà trị liệu trẻ em và gia đình, cho biết.

Bà nói, trẻ nhỏ có “niềm tin sai lầm rằng chúng đang đến phòng khám của bác sĩ và sẽ bị tiêm chích hay phải trải qua những quy trình khó chịu khác.”
Vậy cách nào chúng ta có thể khuyến khích trẻ đi trị liệu khi đó là nơi cuối cùng chúng muốn đặt chân tới? Sau đây là những điều nên và không nên.
Một sai lầm cha mẹ thường phạm phải khi cố đưa trẻ đi trị liệu là không nói trước cho trẻ biết chúng đang đi trị liệu ngay từ đầu. Một lần nữa, như đã đề cập, những ngộ nhận trẻ có về trị liệu sẽ khiến các em thêm sợ hãi.

 “Thông thường, tôi phát hiện rằng trên đường đến buổi hẹn trị liệu, các bậc phụ huynh mới thông báo cho con mình. Như vậy hoàn toàn không có thời gian để trẻ bộc lộ ý muốn, đặt câu hỏi, thể hiện sự lo lắng hay thậm chí nói rằng mình một cái ôm hay được trấn an,” Mellethin nói, bà cũng là một nhà trị liệu thông qua hoạt động chơi và là giám đốc lâm sàng ở Phòng Trị liệu gia đình Wasatch.

Bà nói thêm, một sai lầm “khổng lồ” nữa chính là việc “bêu xấu và quở trách những triệu chứng của trẻ”. Bà chia sẻ ví dụ: “Nếu mày không không ngưng làm vậy, tao đưa mày đến gặp Cô Clair bây giờ!!!”

Việc cha mẹ tránh gặp nhà trị liệu cũng làm mọi việc thêm khó khăn. Molly Gratton, Nhân viên CTXH Lâm sàng, nhà trị liệu chơi và là người sáng lập Trung tâm Huấn luyện và Tham vấn Molly Và Tôi, cho biết, “Nhiều phụ huynh sắp xếp đưa đón cho con mình đi trị liệu nhưng lại chẳng bao giờ đến phòng tham vấn.” Điều này cản trở sự tiến triển và ngăn trẻ học cách làm việc cùng cha mẹ - “những người hỗ trỡ tuyến đầu” của các em.

Hãy thành thật về lý do tại sao bạn muốn con mình đi trị liệu. Dù là trẻ nhỏ hay tuổi teen, hãy nói chuyện với trẻ về hiệu quả của trị liệu và tại sao bạn muốn các em đến trung tâm, Mellenthin chia sẻ.
Bà đưa ra ví dụ sau về những điều chúng ta cần nói (có thể điều chỉnh tùy vào tuổi của con bạn):
“Chúng ta đi trị liệu là vì_______xảy ra trong nhà mình. Đó là một nơi đặc biệt mà con có thể nói về những cảm xúc cùa mình và những điều con lo lắng trong một không gian an toàn. Nó cũng rất thú vị và cô/chú hỗ trợ chúng ta cũng rất dễ thương.”

Bình thường hóa trị liệu. Trẻ thường đón nhận tiến trình trị liệu nhanh hơn nhiều nếu cha mẹ để việc trị liệu “là một trải nghiệm thông thường, không bí ẩn cũng như không xấu hổ” Mellethin nói. Tiếp cận vấn đề một cách có hệ thống. Theo Gratton, “đừng nói những điều như ‘con cần được giúp đỡ’ hay ‘con cần nói chuyện với nhà trị liệu’” Những câu nói đó có thể khiến trẻ cảm thấy chúng phải chịu trách nhiệm cho vấn đề của gia đình, bà chia sẻ. “Như vậy, các em sẽ phải mang vác gánh nặng của nỗi đau.” Thay vào đó, hãy cùng tham gia với con trẻ và “vui thú với tiến trình.”

Là người ủng hộ. Hãy để trẻ biết rằng chúng có thể nói chuyện với bạn về những gì chúng cảm nhận về nhà trị liệu và tiến trình, Gratton chia sẻ. Vì con bạn là người phải đối mặt với những vấn đề khó khăn trong trị liệu, chúng rất cần sự ủng hộ của bạn.

“Nhiều trẻ đang cố gắng học những cách bày tỏ cảm xúc mới và hiệu quả hơn, nếu cha mẹ không mở lòng lắng nghe và cho phép con mình bộc lộ bản thân, điều đó có thể rất nguy hại cho tiến trình chữa lành.”

Hãy nói chuyện với nhà trị liệu của con bạn về những phản kháng của chúng với các buổi làm việc. Theo Gratton, “đa số các nhà trị liệu vô cùng sẵn lòng giải quyết khúc mắc và khám phá những rào cản.” Bên cạnh đó, đa phần cũng sẵn sàng chuyển ca nếu họ không phù hợp với trẻ hay gia đình, bà cho biết.

Tuy nhiên, Gratton ghi nhận rằng việc “không chạy trốn những khó chịu và chán ghét” là rất quan trọng. Đầu tiên, hãy cân nhắc cùng làm việc với nhà trị liệu để giúp trẻ kiểm soát sự khó chịu của chúng, điều này “sau hết cũng là cách tốt để luyện tập một kỹ năng mà chúng cần phải có.”

Gratton chứng kiến nhiều trẻ nhỏ và vị thành niên không muốn đi trị liệu khi cha mẹ tiết lộ những vấn đề của các em với nhà trị liệu trước mặt chúng. “Thông thường, những điều cha mẹ nói đều không tích cực. Bạn có muốn đi trị liệu khi cha mẹ bạn nói ra toàn những thứ tệ hại?”

Bà đề nghị nên trao đổi riêng với nhà trị liệu về những khó khăn cũng như những thay đổi tích cực ít nhất một tháng một lần. Bà thường yêu cầu cha mẹ gửi mail cập nhật tình hình.

Chữa lành và thay đổi không chỉ xảy ra bên trong phòng tham vấn. Việc thực hiện can thiệp tại gia là rất quan trọng, đây là một yếu tố then chốt khác trong việc cha mẹ cần tham dự vào tiến trình. Gratton đề nghị cần cân nhắc và áp dụng những gợi ý của nhà trị liệu. Sau đó, cung cấp phản hồi cho nhà trị liệu về những gì hiệu quả hay chưa hiệu quả.

“Tôi tin rằng chúng ta nên đi theo sự dẫn dắt của trẻ: Nếu chúng nói rằng chúng không muốn đi, có thể đây chưa phải là thời điểm và các em cần được nghỉ ngơi,” Gratton nói. Tuy nhiên, điều này phải được đánh giá cẩn trọng, vì bạn không hề muốn ngưng việc trị liệu trừ khi con bạn thật sự cần như vậy.

Bà đưa ra những ví dụ sau về những vấn đề cấp bách cần được trị liệu: con bạn bị trầm cảm; các em tự giam mình; điểm số tụt giảm rõ rệt; trẻ không hứng thú với những điều vẫn khiến chúng vui vẻ trước đó; các em đề cập đến cảm giác vô vọng hay bất lực; hay chúng tự tử.

Khi trị liệu là cần thiết, Mellethin cho rằng nên nói những câu như: “Cha mẹ yêu con rất nhiều đến độ sẵn sàng không bắt con làm thế ngay lúc này. Cha mẹ yêu con nhiều đến mức cho phép nỗi đau mà con đang cảm nhận tiếp tục diễn ra mà không trợ giúp [vì con không muốn].”

Có thể hiểu được rằng, trị liệu có thể rất khó khăn với con trẻ. Nhưng khi cha mẹ giải thích tiến trình, sẵn sàng ủng hộ, giao tiếp thường xuyên với nhà trị liệu và tỏ ra cho trẻ thấy việc gặp nhà trị liệu không phải là điều đáng xấu hổ, tình hình có thể sẽ được cải thiện. Đây thật sự là một hành động đòi hỏi rất nhiều sự mạnh mẽ.

http://psychcentral.com/blog/archives/2014/10/02/when-your-child-doesnt-want-to-go-to-therapy-but-needs-to/
Đọc tiếp

Thứ Tư, 1 tháng 10, 2014

MẶT TÍCH CỰC CỦA CẠNH TRANH: TĂNG ĐỘNG LỰC, NÂNG NĂNG SUẤT

0
Kình địch Bill Gates và Steve Jobs

04/09/2014


30 năm cạnh tranh quyết liệt giữa hai “đại gia” công nghệ Bill Gates và Steve Jobs đã giúp sản sinh ra những phần mềm và thiết bị không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta hiện nay, những màn thi đấu khốc liệt giữa “Magic” Johnson và Larry Bird [2 vận động viên bóng rổ nổi tiếng] đem lại số lượt theo dõi trên TV cao nhất trong lịch sử bóng rổ. Từ phòng giám đốc cho đến sân bóng, cạnh tranh giữa những kình địch từ lâu đã đem lại thành công và cải tiến.

Một nghiên cứu mới của nhà khoa học tâm lý Gavin J. Kilduff thuộc ĐH New York đã tìm ra rằng cạnh tranh với kình địch không chỉ mang lại hiệu suất cao hơn mà còn giúp cải thiện “thời gian thi đấu” .

Không giống những đua tranh khác, đối đầu kình địch xảy ra giữa hai cá nhân đã hiểu biết lẫn nhau và đem lịch sử đối đầu trong quá khứ vào cuộc thi đấu. Với cả hai, phần thắng về tâm lý còn quan trọng hơn bất kỳ giải thưởng hay danh hiệu nào khác.

Kilduff cho biết, “Lấy sự canh tranh giữa Andre Agassi và Pete Sampras [2 vận động viên tennis nổi tiếng vào những năm 90] ra làm ví dụ. Những năm vừa qua, cả hai đã tổ chức nhiều trận đấu biểu diễn với mục đích từ thiện, và mặc cho sự thật là cả hai đều đã giải nghệ từ lâu cùng với việc không hề có phần thưởng tiền bạc, họ vẫn thi đấu rất quyết liệt.” 

Những nghiên cứu chứng minh rằng cạnh tranh có thể làm tăng động lực đã được bắt đầu thực hiện từ năm 1898, khi tâm lý gia Norman Triplett phát hiện ra các tay đua xe đạp sẽ đạp nhanh hơn khi có sự xuất hiện của những cua-rơ khác.

Kilduff cho rằng những mối quan hệ liên cá nhân có thể có tác động lớn lên động lực, điều này lý giải cho việc vì sao quan hệ kình địch làm tăng hiệu suất cao hơn những cạnh tranh thông thường. Ví dụ, nhiều nghiên cứu cho thấy, khi nhiệm vụ ảnh hưởng tới việc tự lượng giá bản thân, con người thường trở nên tranh đua với bạn bè nhiều hơn so với người lạ. Hiện tượng tương tự cũng có thể xảy ra với mối quan hệ kình địch.

Trong một nghiên cứu, một bản khảo sát trực tuyến yêu cầu 317 nghiệm thể nghĩ về một lần họ cạnh tranh với một ai đó. Một nửa số người tham gia được chỉ định vào trong “điều kiện kình địch”, họ được yêu cầu nhớ lại việc mình ganh đua với một “kỳ phùng địch thủ”. Còn những nghiệm thể trong “điều kiện không kình địch” được hướng dẫn nhớ lại lần cạnh tranh với một người bất kỳ, nhưng không phải là kình địch.

Đúng như dự đoán, những người suy nghĩ về kình địch cho biết hiệu suất được tăng lên nhiều hơn, họ cảm thấy cả hai ngang bằng hơn và có nhiều động lực hơn.
Để tìm ra xem liệu kình địch có thật sự tác động đến năng suất hay không, Kilduff đã xem xét và phân tích 6 năm dữ liệu lưu trữ của một câu lạc bộ chạy đường dài nghiệp dư.

Sau khi chạy số liệu từ 82 thành viên trong 112 cuộc đua, kết quả xác nhận rằng việc có mặt  kình địch làm tăng tốc độ chạy lên 4.92 giây/ kilometer. Điều này có nghĩa là trong một cuộc đua 5 cây số, chạy với kình địch sẽ giúp bạn nhanh hơn 25 giây.


“Cách chúng ta hành xử trong những tình huống cạnh tranh phụ thuộc vào mối quan hệ và quá khứ tương tác với đối thủ của chúng ta,”  Kilduff viết trong tạp chí Social Psychological and Personality Science. “Điều này gợi ý rằng chúng ta có thể làm tăng mức độ động lực và năng suất của mình bằng cách hình thành sự kình địch hay củng cố mối quan hệ ta đang có. Nó cũng khiến ta phải suy nghĩ về việc liệu những ai ta quen biết có thể nhìn nhận ta như kình địch của họ.”

Tài liệu tham khảo
Kilduff G. J. (2014). Driven to Win: Rivalry, Motivation, and Performance. Social Psychological and Personality Science. DOI: 10.1177/1948550614539770


http://www.psychologicalscience.org/index.php/news/minds-business/the-upside-of-rivalry-higher-motivation-better-performance.html
Đọc tiếp

Thứ Hai, 29 tháng 9, 2014

HIỂU BIẾT LƯỠNG PHÂN: KHẢ NĂNG TIỀM ẨN CỦA NHÀ TRỊ LIỆU HIỆU QUẢ

0

 Ryan Howes, PhD, ABPP 


Điều gì làm nên một nhà trị liệu giỏi? Với tư cách là nhà lâm sàng, giáo sư và nhà giám sát, câu hỏi này luôn quanh quẩn trong đầu tôi [TS.Ryan Howes]. Tuy nhiên, giống như câu hỏi về Ý nghĩa Cuộc sống hay Bản Solo Guitar nào là hay nhất, đây là một thắc mắc mà tôi không nghĩ ta có thể giải quyết một cách trọn vẹn. Dẫu sao, chúng ta cứ thử xem như thế nào.

Đầu tiên, luôn có những tố chất khá dễ để xác định: nền tảng giáo dục vững chắc, có nhiều kinh nghiệm luyện tập, kiến thức làm việc về lý thuyết và kỹ thuật, kỹ năng lắng nghe tốt, giao tiếp rõ ràng, v.v. Đó là những điều cơ bản, những kiểu chứng minh mà ta có thể thấy trong các bản sơ yếu lý lịch hay thư giới thiệu.

Bên cạnh đó, có một phẩm chất ít rõ ràng hơn cũng rất quan trọng cho công việc này, một kỹ năng mà các nhà trị liệu sử dụng hàng chục lần trong mỗi phiên làm việc. Đó chính là khả năng giữ cân bằng giữa hai (hay nhiều hơn) lực đối đầu và nhận thức rõ đâu là lúc nên nghiêng về phía bên này hay bên kia. Tôi không thể nghĩ ra một thuật ngữ để bao hàm trọn vẹn phẩm chất này, vì thế, tôi sẽ hơi tự mãn một chút và chế ra một từ mới cho riêng mình: hiểu biết lưỡng phân (dichotomastery: dichotomy là lưỡng phân, mastery là hiểu biết, làm chủ) [HBLP].

Lực kéo giữa hai nguồn đối lập xuất hiện mọi nơi trong trị liệu. Liệu chúng ta làm theo lý thuyết hay làm theo bản năng? Ta tính tiền một buổi thân chủ lỡ hẹn hay bỏ qua? Chúng ta an ủi hay kiềm nén? Nói ra diễn dịch hay đỡi đến buổi sau? Thỏa mãn mong muốn của thân chủ hay giúp họ từ thực hiện? HBLP là hành động cân bằng áp lực này và quyết định liệu có nên hay khi nào sẽ để bập bênh nghiêng qua phía này hay hướng về phía còn lại. Đây là phẩm chất bao gồm sức mạnh, khả năng phân biệt, sức bật phục hồi và trí tuệ. Những nhà trị liệu xuất sắc là những người có khả năng làm chủ những thái độ lưỡng phân thường gặp trong trị liệu, bao gồm:

Tính khách quan/ Chủ quan: Mỗi nhà lâm sàng đều sẽ nói với các bạn rằng, sức mạnh mối quan hệ trị liệu chính là yếu tố quan trọng nhất cho sự thay đổi của thân chủ trong tiến trình trị liệu. Điều này có nghĩa là cả nhà trị liệu và thân chủ đều phải hòa hợp, giao tiếp tốt và quan tâm đến nhau. Để xây dựng điều này, nhà trị liệu phải có khả năng thấu hiểu thân chủ đến một mức nào đó. Nếu tôi thấu cảm quá mức và cảm nhận được đáy vực của đau khổ, hổ thẹn và vô vọng nơi thân chủ, cả hai đều sẽ mắc kẹt ở đó. Tôi cần giữ một chân nơi trải nghiệm chủ quan của thân chủ và chân còn lại ở nền tảng khách quan vững chắc: lý thuyết, thực hành dựa trên bằng chứng,cái nhìn về sự khỏe mạnh của nhà trị liệu. Thế nhưng, nếu tôi nghiêng quá nhiều về phía khách quan, thân chủ sẽ cảm thấy bị bỏ rơi. Còn hướng quá mức đến thấu cảm, cả hai sẽ không thể thấy được đường ra.

Cảm xúc/ Lý lẽ: Mặc cho định hướng trị liệu của nhà chuyên môn là gì, chúng ta lúc nào cũng phải nhận biết cảm xúc và lý lẽ trong trị liệu. Khi làm giám sát, tôi hay hỏi sinh viên của mình: “Bạn cảm thấy như thế nào khi trao đổi với thân chủ?” và “Bạn nghĩ điều gì đang xảy ra?” Tôi không muốn sinh viên cậy dựa quá nhiều vào chỉ một trong hai yếu tố, họ phải dùng cả trí óc và tâm hồn để thu nhận sự thông hiểu. Chúng tôi muốn hỗ trợ thân chủ làm điều tương tự, vậy nên điều này cần bắt đầu từ chính chúng tôi.

Ranh giới vững chắc/ linh động: Phần lớn thời gian, các nhà trị liệu cần duy trì những ranh giới chắc chắn, rõ ràng về thời gian làm việc, kiểu quan hệ với thân chủ, lệ phí cùng những yếu tố khác tạo nên “khung” trị liệu. Thế nhưng, đôi khi khung này cần trở nên mềm dẻo. Glen Gabbard phân biệt sự vượt khung, những lần thi thoảng phá khung để tạo hiệu quả lâm sàng, với những vi phạm khung cấm kỵ về đạo đức. Nếu có vượt khung, khi nào và như thế nào làm vậy là một câu hỏi thường gặp đố với những người HBLP.

Công việc/ Cá nhân: Đây là một điểm khó nhằn đối với nhiều thân chủ cũng như nhà lâm sàng. Chúng ta làm việc để kiếm sống, và đặc biệt chọn lựa nghề này vì ta muốn giúp đỡ người khác. Hai điều trên đều hoàn toàn đúng và cần được tôn trọng. “Ông chỉ quan tâm tôi vì tôi trả tiền cho ông” là câu nói mà mỗi nhà trị liệu đều đã nghe thấy ít nhất một lần trong nghề. Một vài nhà chuyên môn giảm tiền hay tự nhận thêm trách nhiệm bởi vì họ cảm thấy có lỗi khi nhận thù lao để giúp đỡ. Những người HBLP thật sự sẽ tìm ra cách để quản lý áp lực này.

Bản thân/ Người khác: Các nhà trị liệu cần phải nhận diện những khó khăn của bản thân nhằm phân biệt với những vấn đề của chính thân chủ. Cần khám phá bản thân rất nhiều nhằm tránh sự phản ứng hay phòng vệ khi những nan đề của thân chủ đánh trúng “tim đen”. Chúng ta không cần phải khỏe mạnh 100%, nhưng ít ra cũng nên có ý tưởng về việc đâu là khó khăn của thân chủ và đâu là của chúng ta. Tốt hơn nữa, chúng ta nên tham dự vào tiến trình khám phá liên tục bản thân thông qua những buổi tham vấn hay trị liệu giành cho riêng mình.

Biết/ Không biết: Hơi khó để giải thích điều này. Khi ai đó đến với bạn cùng một danh sách các triệu chứng, việc biết được những triệu chứng nào có ý nghĩa đối với chẩn đoán, kế hoạch điều trị, tiên lượng,v.v là rất quan trọng đối với nhà trị liệu. Tuy nhiên, quan trọng không kém, ta cũng không bao giờ được phép quá chắc chắn và đặt thân chủ vào một “khung” chẩn đoán. Triệu chứng có thể thay đổi. Con người có thể phát triển. Không hề có bất cứ hai người, hai câu chuyện hay hai con đường chữa lành nào mà lại giống hệt nhau. Như Yalom có đề cập, chúng ta cần tạo ra một phương thức trị liệu mới cho mỗi thân chủ bước vào phòng tham vấn. Khi tôi bắt đầu đưa ra giả định hay kì vọng một thân chủ trầm cảm đáp ứng điều trị giống hệt những thân chủ trầm cảm khác, có lẽ lúc đó tôi đang bỏ sót một điều gì đó.

Có rất nhiều cặp lưỡng phân khác trong danh sách như người tường trình/ người chăm sóc, định hướng/ không định hướng, người cố vấn/ hỗ trợ, hay thậm chí nhà khoa học/ nhà thực hành. Vấn đề vẫn vậy: tính chủ quan của chúng ta thường kéo ta về hướng phân biệt mọi sự, trong khi chúng ta lại cố gắng duy trì cả hai lối tư duy.

Liệu phẩm chất này có xứng đáng được gọi tên thành một từ mới? Một vài khái niệm khác đã tiến gần đến chuyện này. Đánh giá lâm sàng và tư duy phản biện chắc chắn là những thành tố của HBLP. F. Scott Fitzgerald thậm chí đã nói rằng: “Bài kiểm tra quan trọng nhất của trí thông minh là có thể duy trì trong đầu hai ý tưởng trái ngược nhau cùng một lúc, trong khi vẫn giữ được khả năng hoạt động.”Thế nhưng, những phẩm chất này liên hệ đến nhận thức và khả năng ra quyết định, trong khi HBLP lại làm việc nhều hơn với ý tưởng. Khái niệm của Bowen về cá biệt hóa và đối tượng tổng thể trong học thuyết Quan hệ Đối tượng cũng có thể được áp dụng, dù vậy những thuật ngữ này lại tiêu biểu cho các tình huống liên nhân vị (kiểu như cặp lưỡng phân bản ngã/ tha nhân). Thêm vào trí tuệ và khả năng điều hướng mối quan hệ, HBLP là sức bật về cảm xúc cần có để cầm cương hai tuấn mã đang chạy ngược chiều hoặc đang đấu đá lẫn nhau. Tôi muốn an ủi thân chủ, nhưng nó có thể gửi đi một thông điệp sai lầm. Vậy tôi phải làm gì?

Những người HBLP tốt sẽ có khả năng quản lý các lực đối lập và nhận biết rõ khi nào nên sử dụng lực này mà không để mất lực kia. Họ nhận thức về tình trạng tiến thoái lưỡng nan và sử dụng thời gian cần thiết để suy nghĩ hay tham khảo những vấn đề đó. Những người HBLP không tốt sẽ để các lực trở nên mất cân bằng. Tôi cho rằng nhiều thất bại trong điều trị và vi phạm đạo đức là do sai lầm trong HBLP. Giữ được áp lực này là một công việc khá vất vả, dẫn đến mức độ căng thẳng, mệt mỏi cao và cuối cùng, khiến nhiều nhà trị liệu kiệt sức nghề nghiệp. Khi đó, ngay cả bản sơ yếu lý lịch ấn tượng nhất cũng chẳng còn ích lợi gì.


http://www.psychologytoday.com/blog/in-therapy/201105/dichotomastery-the-hidden-talent-good-therapists
Đọc tiếp

Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2014

VIẾT TAY GIÚP NÂNG CAO KHẢ NĂNG HỌC TẬP VÀ GHI NHỚ

0

BY ANNA MIKULAK,

Bất kể sở thích hay chuyên ngành của bạn là gì, khả năng xâu chuỗi từ ngữ nhằm mục đích trao đổi những điều ý nghĩa, sâu sắc, thú vị hay thuyết phục là một kỹ năng thiết yếu hỗ trợ đắc lực cho cuộc sống cá nhân và chuyên môn của chúng ta. Khả năng quan trọng và phức tạp nàp này bắt nguồn từ một kỹ năng căn bản, hiện đang dần biến mất trong thời đại máy tính và thiết bị di động ngày nay: viết tay.

Không quá bất ngờ khi một số chính sách và phát kiến giáo dục dần xa rời hoạt động viết tay khi hiện nay trẻ em, kể cả trẻ nhỏ, đang tiếp xúc nhiều hơn với các thiết bị truyền thông. Tuy nhiên, trong lúc hệ thống trường học [và sở GD] đang triển khai các chương trình laptop và máy tính bảng, và chữ viết tay đang dần biến thành tàn tích của một thời đã xa thì các nhà khoa học lại tìm ra rằng viết tay mang nhiều ý nghĩa hơn một hình thức giao tiếp lạc hậu.

Các nghiên cứu gần đây cho thấy viết tay có thể tác động đến nhiều lĩnh vực khác nhau như khả năng đọc viết ở trẻ nhỏ, trí nhớ và kĩ năng vận động.

Khả năng đọc viết

Với nhiều giáo án phải hoàn thành, ngay cả với trẻ nhỏ, việc hi sinh thời gian giảng dạy để các bé viết tay xem ra có vẻ thiếu hiệu quả, đặc biệt là khi trẻ ngày càng trở nên quen thuộc hơn với bàn phím máy tính. Tuy nhiên nghiên cứu lại cho rằng việc các bé học cách viết “O tròn như quả trứng gà” có thể có những tác động quan trọng lên các kỹ năng góp phần hình thành khả năng đọc viết nói chung.

Trong nghiên cứu năm 2005, Marieke Longcamp thuộc ĐH Paul Sabatier, Pháp, cùng các cộng sự đã nhận ra rằng, ví dụ, trẻ đi học mẫu giáo có tập viết chữ  sẽ hoàn thành những bài tập nhận diện chữ cái tốt hơn rõ rệt so với các trẻ tập đánh máy những chữ tương đương. Nhóm nghiên cứu kết luận rằng chỉ tiếp xúc với chữ cái thôi thì chưa đủ để nhận diện chữ, thay vào đó, chúng ta cần xây dựng một mô hình những con chữ ở bên trong tâm trí thông qua hoạt động viết chữ bằng tay thực tế.

Nghiên cứu năm 2006 của Longcamp và cộng sự không chỉ giới hạn phát hiện trên nơi các học sinh nhỏ tuổi: Những người trưởng thành được tiếp xúc với những ký tự xa lạ thuộc bảng chữ cái Bengali hay Gujarati, khi luyện tập bằng cách viết tay, cũng nhận diện kí tự tốt hơn so với những người luyện tập bằng cách đánh máy.

Các nhà nghiên cứu dự đoán rằng những ích lợi của viết tay bắt nguồn từ cách thông tin cần được thống hợp xuyên suốt những mô hình cảm giác khi ta dùng tay đẻ viết:
Longcamp và đồng sự viết, “Viết tay cung cấp những tín hiệu liên lạc từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm thị giác, hiệu lệnh vận động, phản hồi chuyển động, chúng được liên kết gần gũi với nhau và phân phối cùng lúc ngay khi cần thiết. Trong khi đó, không có mô hình không gian – thời gian nào xuất hiện lúc đánh máy.” Những nghiên cứu tìm hiểu về mối liên hệ nguyên nhân – kết quả trực tiếp giữa viết tay và khả năng đọc hiểu tổng quát rất khan hiếm, tuy nhiên dữ liệu từ các nghiên cứu hình ảnh thần kinh cho thấy viết tay có thể hỗ trợ các kỹ năng đọc viết.

Trong nghiên cứu năm 2012, nhà nghiên cứu tâm lý Karin James thuộc ĐH Texas Autin đã yêu cầu trẻ chưa biết chữ từ 4 – 5 tuổi luyện tập nhiều kỹ năng vận động khác nhau, bao gồm đồ chữ, vẽ và đánh máy các chữ viết hoa cùng các hình dạng. Sau đó, các bé sẽ nhìn các chữ và hình một cách thụ động khi đang nằm trên máy chụp fMRI. Kêt quả cho thấy việc tri giác chữ cái kích hoạt các vùng não được cho là nằm bên dưới hoạt động đọc và viết – bao gồm các nếp gấp dưới trán, nếp gấp fusiform và vỏ não sau đỉnh – tuy nhiên, điều nảy chỉ xảy ra với những chữ cái được luyện tập bằng  tay.

James và Engelhardt viết “Phát hiện này bổ sung cho những nghiên cứu trước đây chứng minh rằng kinh nghiệm viết tay tạo thuận lợi cho tri giác chữ cái, đồng thời nó đưa ra ý kiến xa hơn cho rằng kinh nghiệm viết tay cũng đóng vai trò quan trọng đê chữ cái xử lý trong não.”

Các nhà nghiên cứu kết luận rằng “việc viết riêng rẽ từng chữ có thể là cánh cửa mà qua đó trẻ em học được những thuộc tính của chữ cái, điều này có tầm quan trọng đối với khả năng phân loại thành công.”

Trí nhớ

Nhưng đâu là những lợi ích mà viết tay mang lại cho những người đã học chữ từ lâu, đã đọc và viết thành thạo? Liệu tính hữu dụng của viết tay có tỉ lệ nghịch với khả năng đọc viết?
Có lẽ là không. Nghiên cứu chứng minh viết tay có thể mang lại những tác động có ý nghĩa lên khả năng lưu giữ thông tin của chúng ta.

Trong nghiên cứu được xuất bản vào năm nay trên Psychological Science, các nhà nghiên cứu Pam Mueller thuộc ĐH Princeton và Daniel Oppenheimer thuộc ĐH Quản lý Anderson, ĐH California, Los Angeles, đã tìm hiểu về trí nhớ đối với những tài liệu bài giảng nơi các sinh viên ĐH ghi chép bằng tay và các bạn sinh viên ghi bài trên laptop. Nhóm nghiên cứu tìm ra rằng cả hai nhóm đều trả lời những câu hỏi gợi lại các thông tin trong bài giảng tốt như nhau. Nhưng đến phần trả lời các câu hỏi về khái niệm yêu cầu họ phải ứng dụng những điều họ đã được học trong bài giảng thì những sinh viên đánh máy thực hiện tệ hơn nhiều so với những bạn ghi chép bằng tay.

Các nhà nghiên cứu nghĩ rằng ghi chép của người dùng laptop có thể thể hiện sự “sao chép không suy nghĩ” về bài giảng, điều này được củng cố bằng chi tiết rằng những ghi chép của họ chứa tương đối nhiều chữ hơn, đồng thời cũng trùng lắp nguyên văn của tài liệu bài giảng nhiều hơn. Ngay cả khi những người ghi chép bằng laptop được hướng dẫn kỹ càng nhằm tránh ghi chép giống nguyên văn thì họ xem ra vẫn gặp rất nhiều khó khăn để làm điều đó.

Có lẽ kết quả bất ngờ nhất là việc một tuần sau đó, khi cả hai nhóm được cho cơ hội đọc lại những ghi chép của mình thì những người ghi chép bằng tay vẫn nhớ tốt hơn những người đánh máy. Tóm lại, những kết quả này cho thấy phương thức ghi chép thật sự có tầm quan trọng, ngay cả đối với những người ghi chép chuyên cần nhất.

Các nhà nghiên cứu viết, “Có thể là do những người ghi chép bằng tay phải tham gia vào nhiều tiến trình xử lý hơn người đánh máy nên họ cần lựa chọn những thông tin nào quan trọng hơn để ghi lại, chính điều này cho phép họ nghiên cứu nội dung bài học hiệu quả hơn.”

 

Kỹ năng vận động

Viết tay có thể biến mất trong môi trường công việc hay giáo dục, nhưng nó có vẻ cũng đang lụi tàn trong giao tiếp cá nhân khi như viết tay hay thiệp mời thư pháo phải nhường chỗ cho “điện tử” – thư điện tử, thiệp điện tử, thông báo điện tử. Ta thường thấy, khi có một vài trường hợp ta phải viết tay nhiều, lập tức điệp khúc “Đau tay, mỏi tay quá!” sẽ lại vang lên. Giống như bất kỳ kỹ năng vận động nào khác, viết tay sẽ trở nên khó khăn hơn nếu không được luyện tập, nghiên cứu còn cho thấy, ít viết tay thậm chí còn để lại hậu quả cho “kho lưu trữ” vận động của chúng ta.

Một nghiên cứu thực hiện năm 2011 do Sandra Sülzenbrück thuộc Trung tâm Nghiên cứu Môi trường Làm việc và Nhân tố Con người IfADo-Leibniz, Đức, cho thấy khác biệt có ý nghĩa trong hiệu suất vận động giữa người trưởng thành thường chủ yếu đánh máy và những người hay viết tay. Đặc biệt, những người đánh máy thực hiện bài kiểm tra đồ đường chậm hơn, bài kiểm tra này được thiết kế nhằm đo độ chính xác và tốc độ chuyển động liên tục của cánh tay-bàn tay. Kết quả này vẫn giữ nguyên ngay cả khi các nhà nghiên cứu sau đó đã kiểm soát những yếu tố củng cố khả dĩ khác như tuổi, giới, số lỗi thực hiện, và tổng số thời gian hoạt động viết hàng tuần. Dù kích thước mẫu nhỏ, xong Sülzenbrück và cộng sự kết luận rằng sử dụng máy tính có thể ảnh hưởng đến “kỹ năng vận động tinh, từ đó, đến nhiều đặc tính tổng quát của ‘kho lưu trữ’ hành vi con người.”
Kết luận, các kết quả cho thấy sự chuyển đổi từ văn hóa viết tay sang viết bằng máy tính không chỉ ngăn khả năng tạo ra các bản viết nhất quán, rõ ràng, sạch đẹp, mà còn đem lại nhiều hậu quả ảnh hưởng đến các kĩ năng vận động cơ bản.

 

Tài liệu tham khảo

James, K. H., & Engelhardt, L. (2012). The effects of handwriting experience on functional brain development in pre-literate children. Trends in Neuroscience and Education, 1, 32–42.doi: 10.1016/j.tine.2012.08.001
Longcamp, M., Zerbato-Poudou, M.-T., & Velay, J.-L. (2005). The influence of writing practice on letter recognition in preschool children: A comparison between handwriting and typing. Acta Psychologica, 119, 67–79. doi: 10.1016/j.actpsy.2004.10.019
Longcamp, M., Boucard, C., Gilhodes, J. C., Velay, J. L. (2006). Remembering the orientation of newly learned characters depends on the associated writing knowledge: A comparison between handwriting and typing. Human Movement Science, 25, 646–656.
Mueller, P. A. & Oppenheimer, D. M. (2014). The pen is mightier than the keyboard: Advantages of longhand over laptop note taking. Psychological Science, 25(6), 1159–1168. doi: 10.1177/0956797614524581
Sülzenbrück, S., Hegele, M., Rinkenauer, & Heuer, H. (2011). The death of handwriting: Secondary effects of frequent computer use on basic motor skills. Journal of Motor Behavior, 43(3), 247–251. doi: 10.1080/00222895.2011.571727


http://www.psychologicalscience.org/index.php/publications/observer/2014/september-14/getting-it-in-writing.html
Đọc tiếp

Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2014

CHÚNG TA ĐỒNG CẢM HAY THÍCH THÚ TRƯỚC NỖI ĐAU CỦA KẺ THÙ?

0
Chủ nghĩa Phát xít mới


Một nghiên cứu mới phát hiện, khi chúng ta chứng kiến những người ta ghét chịu đau đớn, phần não có liên hệ với việc thấu cảm nỗi đau của tha nhân được kích hoạt mạnh mẽ hơn so với khi ta thấy những người ta yêu mến phải chịu đựng. 

Dù có thể cho rằng mình sẽ đồng cảm nhiều hơn với nỗi đau của những người chúng ta quý mến, con người lại tập trung vào đau đớn của kẻ thù vì ta cần giám sát họ một cách kỹ càng.
TS. Lisa Aziz-Zadeh, người đứng đầu nghiên cứu, chia sẻ:
“Khi bạn xem một bộ phim hành động và lúc nhân vật phản diện sắp bị đánh bại, giây phút y gục ngã thu hút mạnh mẽ sự tập trung của chúng ta.
Chúng ta theo dõi sát sao xem liệu hắn có “gục” thật hay chưa, lý do là vì nó rất quan trọng trong việc dự đoán khả năng y trả thù trong tương lai.”
Nghiên cứu hình ảnh não bộ tìm hiểu cách thức “ma trận đau” của bộ não phản ứng trước việc chứng kiến sự đau khổ của người khác (Fox et al., 2013).
“Ma trận đau” diễn tả một mạng lưới cấu trúc trong não – bao gồm vỏ não thùy đảo (insular cortex) và phần não vành trước (anterior cingulate)- được kích hoạt khi ta thấy người khác chịu đau đớn.
Điều này khiến chúng ta nghĩ đến việc ma trận đau có thể có liên hệ tới cách thức ta thấu cảm với tha nhân.
Với nghiên cứu, các nhà khoa học đặc biệt chọn các nghiệm thể tham gia là người Do Thái và cho họ xem những đoạn phim chiếu những cảnh cả các nhân bài Do Thái cũng như những người không kì thị, dễ gần hơn đang chịu đau đớn.
Họ được chụp cắt lớp não bằng fMRI nhằm đo mức độ hoạt động của ma trận đau.
Kết quả cho thấy những ma trận đau của các nghiệm thể người Do Thái được kích hoạt mạnh hơn khi họ xem cảnh những người bài Do Thái bị đau đớn.
Tuy nhiên, cùng lúc đó, trung khu tưởng thưởng của người tham gia cũng hoạt động nhiều hơn.
Điều này cho thấy có lẽ họ có trải nghiệm một ít cảm giác thỏa mãn xuất phát từ sự đau đớn của người khác.

Các tác giả kết luận:
 “ Những kết quả này nhấn mạnh một khía cạnh sâu xa và khó chịu trong trải nghiệm của con người [...] … chúng ta thấy có những chứng cứ củng cố ý kiến cho rằng việc nhìn thấy kẻ ta căm thù chịu đau đớn thu hút nhiều sự chú ý của ta lên đối tượng, đồng thời làm tăng yếu tố khoái cảm trong việc quan sát kỹ lưỡng nỗi đau của họ.”

http://www.spring.org.uk/2014/09/peoples-suprising-empathy-with-the-pain-of-their-enemies.php
Đọc tiếp

Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014

75 NĂM NGÀY MẤT CỦA SIGMUND FREUD

0
Sigmund Freud
"Đôi khi điếu xì gà chỉ là điếu xì gà" (Freud)

BẠN CÓ BIẾT: Ngày hôm qua 23/9 là kỷ niệm 75 năm ngày mất của Sigmund Freud, cha đẻ của Phân tâm học, một trong những nhà tâm lý học nổi tiếng nhất và cũng gây nhiều tranh cãi nhất?
Các bạn có đồng ý với quan điểm phân tâm học không?
Hãy cùng bàn luận tại:
https://www.facebook.com/hanhlangtamly
Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter