Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015

11 “MẸO” KHOA HỌC ĐỂ THUYẾT PHỤC NGƯỜI KHÁC

0
Khoa học và nghệ thuật thuyết phục
Shana Lebowitz 11/8/2015

Các nghiên cứu tâm lý tiết lộ nhiều cách khác nhau để chúng ta có thể “tranh thủ” sự giúp đỡ từ những người xung quanh – mà họ thậm chí còn không biết điều đó.
Chúng tôi tổng hợp 11 chiến lược khác nhau đã được khoa học chứng minh là có thể tạo điều kiện để người khác yêu mến, hỗ trợ hay tặng bạn những điều bạn mong muốn.
1. Sử dụng phương án “mồi nhử” để người tiêu dùng mua sản phẩm của bạn
Trong bài thuyết trình TED Talk của mình, nhà kinh tế học hành vi Dan Ariely giải thích thuật ngữ “hiệu ứng mồi nhử” thông qua một hình thức quảng cáo đã có từ lâu.
Chiến dịch quảng cáo sẽ đưa ra 3 cấp độ để người tiêu dùng lựa chọn: 59$ cho một cuốn sách online, 159$ cho bản in giấy và cũng 159$ cho cả bản giấy và online. Ariely cho biết lựa chọn $159 cho bản giấy chỉ tồn tại để khiến lựa chọn $159 cho cả hai phiên bản trở nên “hấp dẫn” hơn so với lựa chọn $59 còn lại.
Nói cách khác, nếu bạn đang gặp khó khăn trong việc bán những món hàng đắt giá hơn, hãy cân nhắc thêm vào lựa chọn thứ ba với mục tiêu khiến sản phẩm cao giá trở nên thu hút hơn.
2. Điều chỉnh môi trường để người khác ứng xử vị tha hơn
“Kích hoạt” (Priming) là hiện tượng tâm lý khi một kích thích sẽ đưa tới một phản ứng cụ thể cho một kích thích khác, thông thường là một cách vô thức.
Một nghiên cứu được trích dẫn trong cuốn “You Are Not So Smart” đã phát hiện ra rằng các nghiệm thể tham gia trò chơi tối hậu thư, khi được đặt ngồi trong một căn phòng có va-li, bìa da và bút mực, thường có xu hướng giữ lại tiền cho bản thân nhiều hơn khi được đặt trong căn phòng có những đồ vật “trung tính. Mặc dù các nghiệm thể không nhận thức được điều gì đang diễn ra, có vẻ như các đồ vật liên hệ đến kinh doanh đã tạo ra những kích thích cạnh tranh bên trên.
Chiêu thức này có thể hữu hiệu khi bạn áp dụng trong các cuộc thương thảo – thay vì gặp nhau trong các phòng hội nghị, hãy nghĩ đến những quán cà phê, nơi các đối tác có khả năng trở nên ít “hung hăng” hơn.
3. Nhận lại sự trợ giúp sau khi giúp đỡ người khác đạt được mục tiêu
Tâm lý gia Robert Cialdini cho rằng một cách để gây ảnh hưởng lên người khác là tạo ra quy luật hai chiều nơi họ. Cụ thể hơn, giúp đỡ người khác những điều họ cần sẽ khiến họ cảm thấy cần phải “trả ơn”.
Bên cạnh đó, sau khi được người khác cảm ơn, Cialdini khuyên rằng nên nói “Tất nhiên, đây là điều bạn bè/ đối tác làm cho nhau mà” thay vì “không vấn đề gì”. Như vậy, họ sẽ có cảm giác cần phải làm điều tương tự với bạn.
4. Bắt chước ngôn ngữ cơ thể của người khác
Lần tiếp theo nếu bạn có thử gây ấn tượng với nhà tuyển dụng hay một người bạn thích, hãy thử bắt chước một cách tinh tế cách người kia ngồi hay nói chuyện – nó có thể giúp bạn được người kia quý mến hơn.
Các nhà khoa học gọi đây là “hiệu ứng tắc kè bông”: Chúng ta thường thích nói chuyện với những người có cùng tư thế, phong thái, hay biểu lộ khuôn mặt của chúng ta.
Điều kì lạ nhất của hiện tượng này là nó thường diễn ra một cách vô thức – những nghiệm thể trong nghiên cứu thậm chí không nhận ra họ đang bị “sao chép”.
5. Nâng tốc độ nói để người kia dễ dàng đồng ý với bạn
Cách bạn truyền tải ý tưởng cũng quan trọng không kém nội dung lập luận của bạn. Nghiên cứu cho thấy khi có người bất đồng với bạn, nói nhanh sẽ khiến cho người kia có ít thời gian suy nghĩ điều bạn nói hơn.
Ngược lại, khi bạn đang đề cập đến một lập luận khiến người nghe đồng tình, nói chậm đi sẽ có lợi vì người nghe có thêm thời gian để đánh giá thông điệp của bạn.
6. Khiến người khác rối trí sẽ giúp họ làm theo yêu cầu của bạn
Một nghiên cứu vừa cho thấy khi những người tham gia đi từng nhà để bán thiệp từ thiện, chiến thuật “làm rối trí” giúp họ có doanh số tăng gấp đôi so với việc chỉ đơn thuần nói ra mức giá 8 bức thiệp $3. Trong kỹ thuật “làm rối trí”, các nghiệm thể nói với người mua rằng 8 bức thiệp có giá 300 xu (cũng bằng $3), và đó là “một khoảng hời” cho người mua.
Các nhà nghiên cứu cho rằng kỹ thuật trên mang lại hiệu quả do nó làm gián đoạn tiến trình suy nghĩ thông thường của người nghe. Người nghe sẽ bị phân tâm trong lúc cố gắng hình dung xem 300 xu là bao nhiêu đô-la, chính nhờ vậy mà họ chấp nhận rằng ý tưởng này đem lại lợi ích cho họ.
7. Đề nghị giúp đỡ khi người khác mệt sẽ dễ đạt hiệu quả hơn
Đầu óc đủ tỉnh táo, cảnh giác sẽ dễ nghi ngờ những lời đề nghị hơn. Tuy nhiên, khi một người cảm thấy mệt mỏi hay bị xao nhãng, họ sẽ ít suy nghĩ và vì thế thường chấp nhận những điều bạn nói là đúng.
Vậy nếu bạn có ý định nhờ vả đồng nghiệp hỗ trợ mình trong một công việc mất khoảng độ một tiếng, tốt nhất là nên nhờ họ vào cuối ngày. Lúc đó, họ đã gần hết năng lượng sau một ngày làm việc và không đủ “tỉnh táo” nhận ra rằng việc bạn nhờ có thể làm họ tiêu tốn thêm nhiều thời gian.
8. Hình ảnh đôi mắt giúp mọi người hành xử “đạo đức” hơn
Trong một nghiên cứu, các nghiệm thể thường dọn dẹp bàn ăn sạch sẽ hơn khi họ thấy hình ảnh đôi mắt thay vì hình ảnh hoa cỏ. Các tác giả nghiên cứu cho rằng đôi mắt là biểu hiện tượng trưng cho hành động giám sát xã hội.
Vậy nên mỗi khi bạn muốn mọi người ngưng xả rác hay trả sách lại cho thư viện đúng hẹn, hãy khiến họ có cảm giác mình đang bị quan sát!
9. Sử dụng danh từ thay vì động từ giúp người khác thay đổi hành vi
Trong một nghiên cứu, người tham gia được hỏi hai phiên bản của cùng một câu hỏi: “Đi bầu vào ngày mai quan trọng như thế nào với bạn?” và “Việc trở thành người đi bầu vào ngày may quan trọng như thế nào với bạn?” Kết quả cho thấy những người được hỏi câu hỏi sau thường đi bầu nhiều hơn vào ngày tiếp theo.
Có thể chúng ta bị thúc đẩy bởi nhu cầu thuộc về nên việc sử dụng danh từ giúp củng cố căn tính của chúng như một thành viên thuộc một nhóm cụ thể.
10. Làm người khác sợ dễ khiến họ giúp đỡ chúng ta hơn
Nghiên cứu cho thấy những người vừa trải qua lo âu rồi sau đó được thư giãn sẽ dễ đồng ý với các yêu cầu được đưa ra sau đó nhiều hơn. Ví dụ, những người nghe tiếng còi cảnh sát (không có thật) thường dễ đồng ý thực hiện khảo sát hơn những người không nghe.
Có lẽ việc chúng ta dồn nguồn lực nhận thức để suy nghĩ về những tình huống nguy hiểm tiềm tàng có thể gặp phải sẽ làm giảm khả năng tư duy về những yêu cầu được đưa ra sau đó.
11. Tập trung vào lợi ích của người đối diện sẽ khiến họ dễ dàng đồng ý với bạn hơn
Trong khi đàm phán, nghiên cứu cho thấy bạn nên nhấn mạnh với đối tác những điều họ sẽ có được thay vì những gì họ sẽ mất. Ví dụ, nếu bạn đang muốn bán một chiếc xe hơi, bạn nên nói, “tôi sẽ trao cho bạn chiếc xe hơi với $1000” thay vì nói “tôi muốn $1000 cho chiếc xe hơi này.”

Theo cách này, bạn sẽ có thể thuyết phục đối tác nhìn mọi việc theo một chiều hướng khác, và họ có khả năng sẽ dễ dàng đồng ý hơn.

Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Business Insider (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Business Insider http://www.businessinsider.com/psychological-tricks-to-influence-people-2015-8 và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/09/lam-cach-nao-thuyet-phuc-nguoi-khac.html .Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Business Insider và thông báo cho người dịch.
Đọc tiếp

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2015

THỰC NGHIỆM KẸO DẺO VÀ NHỮNG KẾT QUẢ THÚ VỊ SAU 40 NĂM

1
Thực nghiệm kẹo dẻo - Marshmallow test

Maia Szalavitz 6/9/2011
Có bao giờ bạn tự hỏi tại sao ý chí lại “rời xa” bạn trong những giây phút bạn cần đến nó nhất? Manh mối của câu trả lời cho câu hỏi này nằm ở kết quả một nghiên cứu chiều dài được bắt đầu từ cách đây 40 năm, mà nay nổi tiếng với tên gọi thực nghiệm kẹo dẻo trên trẻ mẫu giáo.
Vào những năm cuối thập kỷ 60, các nhà nghiên cứu cho hàng trăm trẻ 4 tuổi thực hiện một trắc nghiệm nhỏ vô cùng tinh tế về sức mạnh ý chí: trẻ được cho ngồi trong một căn phòng nhỏ với một viên kẹo dẻo hay một món ăn hấp dẫn khác, các nhà nghiên cứu sẽ bảo với trẻ rằng chúng có quyền ăn ngay hay phải chờ 15 phút cho đến lúc họ quay trở lại để được gấp đôi khẩu phần của mình.
Đa phần các trẻ nói rằng mình sẽ đợi. Tuy nhiêu, nhiều bạn thậm chí đã “sa trước cám dỗ” chỉ trong vòng một phút. Một số bạn khác sẽ vất vả “tranh đấu” một ít trước khi cuối cùng cũng thua cuộc. Đa phần các trẻ chờ đợi thành công là những trẻ nghĩ ra cách tự gây xao nhãng trước sức hút của món ăn – ví dụ bằng cách quay vòng vòng, che mắt hay đá bàn ghế - nhờ vậy mới trì hoãn được trong suốt 15 phút.
Những nghiên cứu theo dõi tiếp theo trên những trẻ mẫu giáo này cho thấy, vào độ tuổi trung học phổ thông, những bạn có khả năng đợi suốt 15 phút thường ít gặp phải những vấn đề về hành vi, nghiện thuốc hay béo phì hơn so với những trẻ chỉ “nhịn” được ít hơn một phút. Các bạn kiềm chế tốt trung bình cũng có điểm SAT cao hơn 210 điểm.
Các nhà khoa học vẫn tiếp tục nghiên cứu trên với một nhóm 60 nghiệm thể, nay đã hơn 40 tuổi, mà khả năng tự kiểm soát của họ vẫn ổn định ở mức thấp suốt từ thời thơ ấu cho đến tuổi trưởng thành (nghiên cứu không bao gồm những người thiếu kiềm chế khi nhỏ nhưng khi lớn học được cách kiểm soát tốt hơn.)
Các tác giả nghiên cứu, đứng đầu là B.J. Casey, giáo sự tạm lý sinh học phát triển tại ĐH Cornell, muốn tìm hiểu xem liệu những trẻ khi nhỏ thiếu kiềm chế có biểu hiện những dấu hiệu thiếu khả năng tự kiểm soát khi lớn hay không, hay liệu hiện tượng này chỉ diễn ra trong một số trường hợp cụ thể với sự có mặt của cảm xúc. Casey nói “Liệu đây là tình huống cá nhân gặp khó khăn trong việc kiểm soát xung năng hay nó là do tính nhạy cảm trước những lời mời gọi?”  
Các nhà nghiên cứu cũng muốn biết liệu có khác biệt gì về hoạt động não bộ giữa những người thiếu kiềm chế so với những người có khả năng kiểm soát bản thân tốt hơn hay không.
Các nghiệm thể được yêu cầu thực hiện hai nhiệm vụ khác nhau trên máy tính. Nhiệm vụ đầu tiên, trước một loạt hình ảnh các khuôn mặt trung tính về cảm xúc, người tham gia phải bấm nút khi nhận thấy một hình ảnh gương mặt đàn ông hoặc khi thấy khuôn mặt một phụ nữ tùy theo yêu cầu. Những nghiệm thể ban đầu được yêu cầu nhận diện gương mặt đàn ông trước sau đó mới chuyển sang nhận diện những gương mặt phụ nữ (và ngược lại), việc này khiến người tham gia phải kiềm chế xung năng trong việc đáp trả lại những câu trả lời mình đã thực hiện trước đó (với gương mặt đàn ông/ phụ nữ đã làm). Trắc nghiệm này đo đạt khả năng tự kiểm soát của con người trong hoàn cảnh thiếu vắng các tác nhân cảm xúc.
Trong phiên bản trắc nghiệm thứ hai với sự có mặt của cảm xúc, các nghiệm thể được yêu cầu bấm nút khi thấy một gương mặt vui vẻ hoặc khi thấy khuôn mặt sợ hãi tùy theo yêu cầu. Những nghiên cứu trước đây cho thấy chúng ta thường nhìn nhận những gương mặt hạnh phúc như là một phần thưởng – vì vậy các nhà nghiên cứu kì vọng rằng những người có khả năng kiềm chế thấp sẽ gặp rắc rối trong việc ngăn cản bản thân bấm nút khi thấy gương mặt mỉm cười xuất hiện trên màn hình.
Các nhà nghiên cứu cũng đồng thời chụp quét lớp não bộ của 26 nghiệm thể khi họ tham gia vào cả hai bài trắc nghiệm. Nhóm nghiên cứu phát hiện rằng những người kiềm chế tốt thường có nhiều hoạt động trong vùng vỏ não trán trước hơn người khó kiềm chế, đặc biệt là trong phần trắc nghiệm có liên hệ đến cảm xúc. Vỏ não trán trước là phần não bộ chịu trách nhiệm cho việc kiểm soát hành vi và xung năng. Trong khi đó, những người ít kiềm chế thường có nhiều tín hiệu hoạt động trong vùng não nằm sâu hơn bên trong, liên hệ nhiều tới việc nghiện, thích thú và khao khát, đặc biệt là khi đáp ứng trước những gương mặt hạnh phúc.
Bạn có thể thấy rằng những người kiểm soát tốt sẽ có “phanh thắng” tinh thần tốt hơn, trong khi những người khó kiềm chế lại bị thúc đẩy bởi một động cơ mạnh mẽ hơn. “Những người khó kiềm chế thường không có vùng vỏ não trán trước hoạt động nhiều như những người biết kiểm soát. Những người có khả năng tự điều tiết thường điều hòa hành vi của mình một cách rất hiệu quả, đồng thời ít kích hoạt hệ thống sâu hơn bên trong,” Casey cho biết. “Những người kiềm chế tốt thường ít bị giằn xé, thúc đẩy hơn”
Tuy nhiên, khác biệt chỉ thể hiện rõ khi các nghiệm thể đối diện với những hình ảnh mang tính cảm xúc. Điều này cho thấy những người ít kiềm chế, một cách tổng thể, thường không phải là  không có khả năng kiểm soát xung năng, giống như những người có rối loạn tăng động kém chú ý (ADHD), nhưng mà là họ gặp khó khăn trong việc ngăn cản bản thân trong một số hoàn cảnh kích thích cụ thể.
“Điều mà các nhà nghiên cứu phát hiện là 11 nghiệm thể có khả năng tự kiểm soát kém trong suốt cuộc đời thường không có các vấn đề trong việc kiểm soát hoạt động não bộ trong các khung cảnh bình thường”, Terrie Moffitt, giáo sư tâm lý và khoa học thần kinh tại ĐH Duke, cho biết. “Thay vào đó, những hoạt động não đặc thù của họ chỉ bắt đầu xuất hiện khi họ nhìn thấy một điều gì đó hấp dẫn, cuốn hút”
Moffitt chia sẻ, nghiên cứu trên 1000 người được bà theo dõi từ 3 đến 38 tuổi cũng cho một kết quả tương tự.
Cả Casey và Moffitt đều nhấn mạnh rằng những người ít kiềm chế không hề thiếu trí tuệ tổng quát, đồng thời họ sở hữu những phẩm chất vô cùng quan trọng đối với xã hội. Trong một số thời điểm, kiềm chế chưa chắc là một lựa chọn chính xác, những người đi theo xung năng cảm xúc của mình có khả năng sẽ trở thành những nhà khám phá hay doanh nhân vĩ đại. (Steve Jobs là một minh chứng kinh điển).
Tuy nhiên, việc những người kiểm soát kém có thể vướng vào những rắc rối là hoàn toàn có thể hiểu được. Moffitt mô tả một nghiệm thể đã từng nói với bà, “Hãy tin tôi, tôi hiểu hết về tiết kiệm hưu trí, nhưng tôi không giữ được đồng nào. Mỗi lần tôi thấy một chiếc mô-tô ‘quá đỉnh’ là tôi phải mua ngay!”
Dù vậy, cũng chẳng có ai nói rằng những người ít kiểm soát hoàn toàn không thể thay đổi. Nghiên cứu của Moffitt cho thấy trong thực tế, khả năng tự kiểm soát của trẻ không liên hệ quá mạnh mẽ đến khả năng tự chủ lúc trưởng thành. Ví dụ, “tương quan giữa xếp hạng trắc nghiệm IQ của nghiệm thể lúc nhỏ và lớn là 0.70 trên thang -1 (thay đổi hoàn toàn) và +1 (hoàn toàn ổn định). Nó khá ổn định!” “Tuy vậy, tương quan tương tự về khả năng tự kiểm soát  lại chỉ là 0.30, nó cho thấy nhiều người sẽ thay đổi khi lớn lên và rất ít người sẽ ổn định mãi.”
Những công trình trước đây làm việc với trẻ mẫu giáo cùng thực nghiệm kẹo dẽo cho thấy những trẻ kiểm soát tốt thường thành công không chỉ nhờ khả năng tự đánh lạc hướng bản thân khỏi tình huống thu hút mà còn do khả năng “hạ nhiệt” cảm xúc của bản thân. Ví dụ, các bạn sẽ tưởng tượng rằng kẹo dẻo là một đám mây hay chỉ là một tấm hình thay vì đó chính là một món ăn thật sự.
Có lẽ kĩ thuật tương tự cũng có thể được sử dụng trong các tình huống khác. Casey cho biết, “Nghiên cứu này cho thấy chúng ta nên chỉ cho người khác cách thức ‘hạ nhiệt’ những tình huống ‘nóng’ khi phải đối diện với những cá nhân gặp khó khăn trong việc kiềm chế.”
Nghiên cứu được xuất bản trên Proceedings of the National Academy of Sciences.


Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Time (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Time http://healthland.time.com/2011/09/06/the-secrets-of-self-control-the-marshmallow-test-40-years-later/ và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/09/thuc-nghiem-keo-deo-marshmallow-test-kha-nang-tu-kiem-soat.html .Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Time và thông báo cho người dịch.

Đọc tiếp

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2015

DẠY HỌC MỘT KÈM MỘT: GIẢM LO ÂU, TĂNG KẾT QUẢ

0
Các vùng não chịu trách nhiệm cho nỗi sợ và cảm xúc tiêu cực được kích hoạt
khi trẻ lo âu về môn toán gặp phải các bài toán khó.
08/09/2015 PATTI NEIGHMOND
Trong tâm trí của một bé 8 tuổi, toán học có thể đáng sợ y như rắn rết. Những âu lo với con số như thế có thể khiến trẻ gặp phải những bất lợi đáng kể kể cả trong trường học lẫn trong cuộc sống và công việc sau này (Wu, 2012 - http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/22701105)

May mắn thay, một nghiên cứu mới được thực hiện trên học sinh lớp 3 đăng tải trên Journal of Neuroscience đã đưa ra một can thiệp khá hữu ích. Các nhà nghiên cứu cho rằng dạy học một kèm một sẽ hữu hiệu hơn dạy học thông thường trong việc làm giảm sự sợ hãi trong não bộ.

Nhà khoa học thần kinh Vinod Menon, tác giả nghiên cứu và là giáo sư tâm thần học và khoa học hành vi tại ĐH Stanford, cho biết “Khía cạnh thú vị nhất trong nghiên cứu này là dạy học một kèm một không chỉ làm tăng kết quả học tập mà giúp giảm lo âu.”

Nghiên cứu trước đây của Menon và các cộng sự sử dụng hình ảnh quét MRI não bộ cho thấy lo âu về toàn học kích hoạt cùng hệ thống tế bào thần kinh thường thấy ở các rối loạn ám sợ - như sợ rắn rết hay sợ độ cao. Nhóm nghiên cứu cũng biết rằng trị liệu tiếp xúc giúp làm giảm lo âu nơi những người có ám sợ. Vậy liệu cơ chế tương tự có diễn ra trong hoạt động dạy kèm cá nhân môn toán hay không?

Để tìm hiểu vấn đề này, các nhà nghiên cứu đã cho 46 học sinh lớp 3 trả lời những câu hỏi về việc lo lắng khi làm toán dồng thời cho các em giải những phép tính cộng đơn giản trong khi quét não bộ bằng MRI chức năng. Dựa vào những câu trả lời, hình ảnh quét và điểm số trong mỗi bài làm, trẻ sẽ được chia vào hai nhóm: một nhóm có mức độ lo âu toán học cao và một nhóm có mức độ thấp hơn.

Sau đó, trong tám tuần, cả hai nhóm sẽ trải qua vài buổi dạy kèm cá nhân số học trong mỗi tuần.

Vào cuối giai đoạn, cả hai nhóm đều có tiến bộ. Tuy nhiên, theo kết quả từ hình ảnh quét não bộ, quan trọng nhất là mức độ lo âu của những trẻ có mức lo âu về môn toán cao giảm thiểu tới 20%.

Việc dạy kèm có tính phù hợp với cá nhân cao, Menon cho biết. Nếu trẻ mắc kẹt với khái niệm nào đó, dạy kèm sẽ giúp trẻ “vượt qua nút thắt một cách tích cự và mang tính khích lệ.”
Ông hi vọng nghiên cứu kế tiếp sẽ tìm hiểu xem liệu dạy kèm thông qua kỹ thuật số có giúp tạo ra những lợi ích và thay đổi về thần kinh tương đương, đồng thời liệu việc mức độ lo lắng được giảm thiểu có tiếp tục duy trì khi trẻ thực hiện các kỹ năng giải quyết vấn đề phức tạp hơn hay không?
Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ NPR (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của NPR http://www.npr.org/sections/health-shots/2015/09/08/438592588/one-tutor-one-student-better-math-scores-less-fear và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/09/day-hoc-giup-tre-lo-lang-khi-hoc-toan.html. Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của NPR và thông báo cho người dịch.




Đọc tiếp

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2015

HIỆU QUẢ CỦA TRỊ LIỆU TÂM ĐỘNG VÀ TRỊ LIỆU GIA ĐÌNH VỚI RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở TRẺ

0
Tỉ lệ trầm cảm ở trẻ em tại Hoa Kỳ theo giới tính và tuổi

JOURNAL OF PSYCHOTHERAPY AND PSYCHOSOMATICS 5/9/2014

Một nhóm các nhà tâm lý tại Hi Lạp đã công bố trên tạp chí Psychotherapy and Psychosomatics nghiên cứu tìm hiểu về vai trò của lòng tự tín (đánh giá cao, cho rằng bản thân mình có giá trị - self-esteem) và khả năng điều chỉnh xã hội của trẻ em và trẻ vị thành niên. Cả hai yếu tố trên đều cho thấy giúp trẻ có khả năng đối mặt hiệu quả trước các tình huống gây stress thường ngày và có chức năng bảo vệ trẻ trước trầm cảm.

Nhóm nghiên cứu tiến hành trị liệu trong vòng 9 tháng với 72 thân chủ từ 9 đến 15 tuổi. Trong đó , một nhóm được chỉ định tham gia trị liệu hệ thống gia đình thống hợp (systems integrated family therapy – FT) trong 90 phút đều đặn 8-14 tuần với trọng tâm xoay quanh các vấn đề gia đình nhưng không chú trọng đến quá khứ tuổi thơ hay các xung đột nội tâm lý chưa được giải quyết. Một nhóm khác được chỉ định tham gia các buổi trị liệu tâm động tập trung vào cá nhân (PP) trong vòng 50 phút xuyên suốt 16-30 tuần, tập trung vào các mối quan hệ liên cá nhân, những căng thẳng trong đời sống cùng việc gắn bó gây rối loạn chức năng bên cạnh các buổi làm việc với cha mẹ (cứ 2 buổi làm việc với trẻ sẽ có một buổi vói cha mẹ), chú ý vào cùng những vấn đề trên, do một nhà chuyên môn khác thực hiện.
Kết quả cho thấy cả hai phương pháp đều giúp cải thiện một cách có ý nghĩa các triệu chứng trầm cảm. Những ca “khó” thường có cải thiện đáng kể nhất, giảm thiểu gánh nặng trên các vấn đề điều chỉnh xã hội và lòng tự tín ở các buổi theo dõi về sau. Những phát hiện này phản ánh tầm quan trọng của lòng tự tín và khả năng điều chỉnh xã hội trong rối loạn trầm cảm của trẻ có stress mạn tính. Cả hai yếu tố trên đều giúp trẻ đối mặt với những môi trường gây căng thẳng, như cha mẹ có rối loạn tâm lý, ngược đãi, xung đột gia đình hay thiếu vắng sự hỗ trợ, tình cảm từ cha mẹ.
Thêm vào đó, lòng tự tín và khả năng điều chỉnh xã hội còn có thể giúp giảm thiểu các phản ứng tim mạch (như nhịp tim hay sự thay đổi nhịp tim) và viêm nhiễm trước stress, từ đó giúp bảo vệ trẻ khỏi trầm cảm. Tuy nhiên, khác biệt giữa số lượng các buổi làm việc (8-14 với FT và 16-30 với PP) dấy lên quan ngại về sự chênh lệch giữa mức độ hiệu quả về mặt chi phí giữa hai cách tiếp cận. Trong tương lai, cần có thêm các nghiên cứu so sánh tính hiệu quả giữa FT hay PP với phương thức điều trị trầm cảm cho trẻ đang được khuyến nghị hiện tại là CBT, trị liệu nhận thức hành vi và trị liệu liên cá nhân.
Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Psy Post (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Psy Post http://www.psypost.org/2014/09/better-troubled-adolescents-psychodynamic-therapy-family-therapy-27896 và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/09/tri-lieu-tam-ly-tram-cam-tre-em.html . Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Psy Post và thông báo cho người dịch.


Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter