Thứ Hai, 15 tháng 5, 2017

KHI NGƯỜI CAO TUỔI… HÀNH ĐỘNG

1
Thể thao ở người cao tuổi

Rebecca A. Clay
April 2017, Vol 48, No. 4, Monitoring on Psychology

Khi TS Anne Bowen bị gãy xương đòn sau khi ngã khỏi ngựa, bác sĩ của bà cho rằng việc xương của bà không lành hoàn toàn không có vấn đề gì to tát. “Ý của ông là tôi đã quá già đề phải lo lắng về nó, ông ấy cho rằng tôi có thể sống chung với nó”, Bà Bowen, giáo sư tâm lý 64 tuổi thuộc ĐH Arizona cho biết. Tuy nhiên, bà không thể sống chung với điều đó. Bà rất nghiêm túc trong việc học cưỡi ngựa đến mức sẵn sàng thuê người huấn luyện để bà đạt đến mức kỹ năng cao nhất. Bà cũng mong đó là con đường bà sẽ theo đuổi đến cuối đời. Bowen cho biết, “Tôi hi vọng đó là cách tôi kết thúc cuộc đời của mình-ở trên lưng ngựa.”

Trải nghiệm này giúp Bowen bắt tay vào một loạt các nghiên cứu mới tìm hiểu về động lực của những vận động viên cao tuổi và những ngăn trở họ phải đối mặt.
Số lượng người cao tuổi ở Mỹ hiện đang tăng nhanh, số lượng người cao tuổi tham gia thi đấu thể thao cũng đang phát triển tương tự. […] Các nhà tâm lý, vận động học và các chuyên ngành khác cũng bắt đầu tìm hiểu điều gì thúc đẩy những vận động viên cao tuổi tham gia tranh tài, đâu là những ích lợi đến từ việc tích cực vận động và liệu có hay không những mặt trái của việc thi đấu thể thao khi về già.

Thách thức tuổi tác
Nghiên cứu định tính của Bowen với những vận động viên cao tuổi cho thấy một số đặc điểm chung về lý do tại sao họ thi đấu. Với một số người, vấn đề không còn nằm ở việc thi đấu. “Tôi quan tâm nhiều hơn đến tiến trình…thay vì mục tiêu,” một vận động viên 66 tuổi chia sẻ với Bowen trong khi đang giới thiệu những phần thưởng bà đã đạt được trong quá khứ. “Những thứ này không quá hấp dẫn với tôi. Tôi yêu thích quá trình đạt được chúng. Quá trình đó có khả năng gây nghiện.”

Những vận động viên cao tuổi cũng mô tả những lợi ích tâm lý và thể lý của việc tập luyện, kể cả việc giảm cân, cùng với việc thiết lập các mạng lữoi xã hội với những vận động viên khác. Bowen cho biết “Tôi kì vọng được nghe nghiệm thể nói về những ngăn trở xã hội-như việc nghe người khác nói ‘Ông/bà đã già rồi, ông bà nên nghỉ ngơi, đừng làm mình bị đau’”. “Tuy nhiên xem ra tín hiệu tích cực hơn khá nhiều”.

Theo TS Rylee A. Diogini, giáo sư văn hoá xã hội tại Trường Khoa học Vận động, Thể thao và Sức khoẻ, thuộc ĐH Charles Sturt tại Bathurst, Úc, phát hiện này phù hợp với các nghiên cứu khác về động lực của vận động viên cao tuổi. Vào năm 2013, trong một nghiên cứu trên tạp chí Sport, Education and Society, Dionigi cùng các cộng sự đã phỏng vấn những người tham gia thi đấu tại World Masters Games. Khác với “câu chuyện văn hoá phổ thông” về việc cơ thể đang xuống dốc, các nhà nghiên cứu nhận thấy những vận động viên với độ tuổi trung bình là 72 cùng lúc vừa phản kháng, vừa tái định nghĩa và vừa chấp nhận tuổi già.

Các ứng viên mô tả việc luyện tập thể thao như một cách lam chậm quá trình lão hoá. “Tôi cho rằng mình chưa già như tuổi 80,” một vận động viên chia sẻ với nhóm nghiên cứu. “Tôi chỉ hơi bị hao mòn chút đỉnh, bạn nghĩ bạn già như thế nào thì bạn sẽ già như thế ấy”. Những người cao tuổi này cũng mô tả những kích thích về xã hội, tinh thần và thể lý mà thể thao mang lại. Thông qua thay đổi môn thể thao hay tham gia luyện tập mà không bân tâm đến thành tích, người tham gia còn nói đến khả năng thích ứng với việc đánh mất tốc độ, tính linh hoạt và các đặc điểm thế lý khác.

Một số lượng lớn các nghiên cứu khoa học thần kinh hiện nay cho thấy vận động cường độ cao có thể giúp làm chậm tiến trình lão hoá về nhận thức. Trong một nghiên cứu vào năm 2016 trên tạp chí Neurology, các nhà nghiên cứu yêu cầu 900 người cao tuổi thuộc nhiều chủng tộc và sắc tộc khác nhau trả lời về hoạt động thể chất của họ vào thời gian rảnh trong vòng 2 tuần. Khoảng 7 năm sau, nhóm nghiên cứu sẽ kiểm tra khả năng nhận thức của họ và kiểm tra lại một lần nữa sau 5 năm tiếp theo. 10% ngừơi tham gia có cường độ hoạt động từ vừa cho tới cao-ví dụ như chạy bộ hay aerobics-có mức độ suy giảm chức năng nhận thức chậm hơn 90% những nghiệm thể cho biết chỉ có mức hoạt động thấp-như chỉ đi bộ hay tập yoga-hay hoàn toàn không vận động.

Trong số những người không có các vấn đề về nhận thức vào thời điểm kiểm tra lần đầu tiên, nhóm hoạt động với cường độ nhẹ cho thấy mức suy giảm lớn về tốc độ xử lý và trí nhớ sự kiện (episodic memory) sau 5 năm. Kết quả này vẫn tương tự sau khi đã kiểm soát các yếu tố về hút thuốc, cao huyết áp và các yếu tố khác có thể gây ảnh hưởng tới sức khoẻ của não bộ. Nhóm nghiên cứu kết luận rằng, khác biệt về tốc độ suy giảm này tương đương với 10 năm lão hoá.

Trong khi các hoạt động thể chất có thể không đem lại nhiều ích lợi cho những người đã có các dấu hiệu về vấn đề nhận thức hay suy giảm trí nhớ, nghiên cứu cho thấy nó có thể bảo vệ những bộ não vẫn còn khoẻ mạnh. Đó là kết luận của Bác sĩ Clinton B. Wright, người thực hiện nghiên cứu trên tại ĐH Y Miller, thuộc ĐH Miami. Tuy nhiên, ông cho biết cần có thêm nhiều nghiên cứu về vấn đề này.

“Đó là một nghiên cứu quan sát”, Wright nhấn mạnh. Cần phải có các nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên (randomized clinical trial) để khẳng định rằng thể dục thể thao có thể giúp làm chậm tiến trình lão hoá não bộ. “Các tiếp cận mới có tính đến các thách thức trong đời thực, ví dụ như nghiên cứu lâm sàng thực tế (pragmatic clinical trial), đang rất được quan tâm”, Wright cho biết.

Nghiên cứu trên não bộ của một vận động viên cao tuổi tên Olga Kotelko cho thấy vận động cường độ cao thậm chí còn có thể mang lại những lợi ích mang tính phòng tránh. Kotelko, một giáo viên về hưu chuyển hướng sang thi đấu thể thao cao tuổi, bắt đầu chơi bóng mềm ở độ tuổi 65. Sau đó, bà chuyển sang điền kinh vào tuổi 77 và lập kỷ lục thế giới cũng như thắng hàng trăm huy chương vàng trong giải thi đấu cho ngừơi cao tuổi trước khi qua đời ở tuổi 95.

Trong nghiên cứu được công bố vào năm 2016 trên Neurocase, nhà khoa học thần kinh nhận thức, TS Agnieszka Z. Burzynska, giảng dạy về phát triển con người và nghiên cứu gia đình ở ĐH Bang Colorado tại Fort Collons, cùng đồng nghiệp đã so sánh kết quả chụp cộng hưởng từ và trắc nghiệm nhận thức của Kotelko lúc 93 tuổi với một nhóm các phụ nữ khoẻ mạnh, trẻ hơn 20 tuổi nhưng có mức hoạt động thấp. Kết quả cho thấy não bộ của Kotelko có những thay đổi liên quan đến tuổi tác. Tuy vậy, điều đáng ngạc nhiên là chất trắng của bà ít bị ảnh hưởng, đặc biệt ở phần gối thể chai (genu of the corpus callosum), nơi có các bó sợi nối với các phần não trán trước. Chúng chịu trách nhiệm cho các hoạt động nhận thức cấp cao. Mặc dù phần gối là phần chất trắng dễ bị ảnh hưởng bởi tuổi tác nhất, theo Burzynska, phần này ở Kotelko lại có điều kiện tốt hơn những ngừơi trong nhóm đối chứng.

Burzynska tin rằng không chỉ một mình luyện tập thể thao mang lại sự bền bỉ cho bộ não của Kotelko, chính mức hoạt động trung bình cùng ý chí đối mặt với thử thách, bao gồm thể thao, tình nguyện và du lịch đã góp phần mang lại kết quả trên. Burzynska nhận xét, “Olga tự tạo ra một môi trường phát triển phong phú cho chính mình.”
“Chúng ta không thể bảo đảm rằng bất kỳ ai luyện tập thể thao ngay sau khi nghỉ hưu đều sẽ có huy chương vàng hay não bộ của họ đều sẽ tiến triển tích cực”, Burzynska bổ sung, ví dụ trên chỉ là một điển cứu đơn lẻ về não bộ tại một thời điểm nhất định. “Tuy nhiên nó cho thấy bằng chứng về những ích lợi có thể có được khi bắt đầu và duy trì vận động tích cực lúc cao tuổi.”

Một bức tranh đa diện
Khi nói đến những tác động tâm lý do việc tham gia thể thao khi cao tuổi mang đến, nghiên cứu cho thấy nhiều kết quả khác nhau. Đó là nhận định của TS Amy M. Gayman, thành viên khoa vận động học thuộc ĐH Wilfrid Laurier, Waterloo, Canada.

Trong một bài tổng hợp nghiên cứu về việc tập luyện thể thao ở người trên 65 tuổi được đăng tải trên International Review of Sport and Exercise Psychology, Gayman cùng cộng sự nhận thấy thể thao giúp người cao tuổi đạt được cảm giác năng lực, niềm vui, nhiều mối quan hệ xã hội mới và có một nhân dạng tích cực hơn bên cạnh những ích lợi về nhận thức. Bài tổng hợp cũng cho thấy thể thao có thể mang lại động lực cho phụ nữ cao tuổi, và cả ở đàn ông nhưng ở một mức độ thấp hơn.

“Trong khi đàn ông thường quan sát kết quả của bản thân và so sánh với kết quả của phụ nữ hay của những người trẻ hơn, phụ nữ sẽ nhìn kết quả của mình và cảm thấy được truyền động lực bởi những thành tựu mình đạt được, bất kể họ đã làm gì trước đây hay những ngừoi khác làm được những gì,” Gayman chia sẻ. Tuy nhiên, cả ở đàn ông và phụ nữ, việc hiệu quả hoạt động bị giảm sút một cách không thể tránh khỏi do tuổi tác có thể gây chán nản, ưu phiền. Gayman cho biết, “Khi hiệu năng sụt giảm, người cao tuổi sẽ trải nghiệm một số cảm xúc tiêu cực, cụ thể hơn là nỗi sợ hãi bị lão hoá.”

Mối nguy đến từ việc kích hoạt nỗi sợ này không phải là hạn chế duy nhất của việc luyện tập thể thao lúc cao tuổi. Vận động viên lớn tuổi có thể phải đối mặt với sự chống đối đến từ những người xung quanh. Khi nghĩ đến thể thao, bạn sẽ nghĩ đến những ngừoi trẻ khoẻ, không phải đến những người 80 tuổi chạy marathon, Gayman nhận định. Những thiên kiến như vậy được ghi nhận trong những nhận xét mà các vận động viên cao tuổi hay nghe. “Người ta nói ‘Ông/Bà đang luyện tập và thi đấu à? Ông/Bà già rồi. Chẳng phải đây là lúc nghỉ ngơi và tận hưởng cuộc sống hay sao?’” Gayman ví dụ. Đồng thời, những căng thẳng trong gia đình cũng có thể xuất hiện khi vợ chồng hay những người xung quanh lo ngại về thời gian người cao tuổi sử dụng để luyện tập và thi đấu. Thay vào đó, xã hội hay kì vọng họ làm những việc nhẹ nhàng ở nhà.

Cần có thêm nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực mới mẻ này, TS Joseph Baker, đồng tác giả của nghiên cứu và là giáo sư khoa học sức khoẻ và vận động tại ĐH York, Toronto, cho biết. "Những điều chúng tôi kết luận vào cuối bài tổng quan hệ thống của mình là chúng ta hiện chưa có đủ thông tin”.
Đa phần dữ liệu tập trung vào sức khoẻ thể chất, Baker nhận xét. “Nếu chúng ta nhìn nhận theo hướng đó, tuyệt nhiên tham gia luyện tập thể thao sẽ có lợi,” ông cho biết. “Tuy nhiên nếu chúng ta nhìn theo một hướng khác, có lẽ không hẳn là vậy”. Sức khoẻ không phải là một khái niệm đơn lẻ, nó mang tính đa diện. “Với các vận động viên cao tuổi, chúng ta biết nhiều về khía cạnh thể chất và dần biết nhiều hơn về các khiá cạnh xã hội và nhận thức. Tuy nhiên, chúng ta không biết gì về những yếu tố khác của sức khoẻ-như cảm xúc, tinh thần và nhiều phương diện khác.”

Tương tự, “thể thao” không phải là một thứ đơn lẻ, Baker lưu ý về khác biệt giữa các môn thể thao khác nhau chú trọng năng lượng, sức bền, tốc độ và chiến lược. Một số môn thể thao có thể tốt cho người cao tuổi hơn một số môn khác. Bên cạnh đó, mẫu nghiên cứu mà các dự án thực hiện chưa phản ánh hết sự phong phú của những vận động viên cao tuổi. “Nếu bạn đi tới Thế Vận Hội Người cao tuổi, bạn sẽ nhận thấy sự áp đảo của những người Âu Châu giàu có, thường đến từ Bắc Mỹ hay Úc”, ông cho biết.
Vậy, Baker kết luận, “thông điệp chung là: thể thao là tốt. Hãy nhìn vào những vận động viên cao tuổi: họ cho thấy một hình mẫu tích cực và thành công khi về già. Tuy nhiên, còn có nhiều yếu tố hơn thế.”

Dịch: Hành Lang Tâm Lý

Các bài khác có liên quan đến ngừoi cao tuỏi trên Hành Lang Tâm Lý
HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI GIÚP LÀM CHẬM TIẾN TRÌNH SUY GIẢM CHỨC NĂNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI:

NHÂN VIÊN CAO TUỔI VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRONG TUYỂN DỤNG

TUỔI GIÀ VÀ TÌNH YÊU: NGHIÊN CỨU VỀ ĐỜI SỐNG TÌNH DỤC Ở NGƯỜI CAO TUỔI





Đọc tiếp

Thứ Hai, 1 tháng 5, 2017

SƠ LƯỢC VÀ MỘT VÀI GÓC NHÌN MỚI VỀ HỆ QUẢ TÂM LÝ CỦA CHIẾN TRANH LÊN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

0


Chiến tranh Việt Nam đã đi qua hơn 40 năm, cho đến hiện giờ, đa số các nghiên cứu về hệ quả tâm lý của cuộc chiến thường được phân tích bởi góc nhìn của giới khoa học Mỹ và trên binh lính Mỹ. Nguyên nhân của điều này là do ngừơi Mỹ xem cuộc chiến Việt Nam như một bi kịch của riêng họ cùng với việc giới chính trị và quân phiệt Mỹ thường tô vẽ một hình tượng phi nhân tính lên kẻ thù của mình (Merli, 2000).

Trong khi đó, Việt Nam cùng nhân dân Việt Nam cả hai miền đã chịu tổn thất về nhân mạng lẫn vật chất lớn hơn rất nhiều, thời gian trải qua xung đột cũng dài hơn thời gian can thiệp của Hoa Kỳ (Beresford, 1988; Merli, 2000), tuy nhiên số lượng nghiên cứu về hệ quả tâm lý lên người dân và cựu binh Việt Nam ở cả hai miền là rất khan hiếm (Teerawichitchainan & Korinek, 2012). Vì lẽ đó, hi vọng một ít tổng hợp và phân tích về các nghiên cứu trên tác động tâm lý mà ngừoi dân Việt Nam đã chịu do cuộc chiến để lại, cùng việc tìm hiểu chúng ta có thể vượt qua hậu quả chiến tranh như thế nào, có lẽ sẽ là một thông điệp, một lời tri ân có ý nghĩa cho những người đã ngã xuống hay đã và đang chịu đau khổ, mất mát do cuộc chiến gây nên.

Tiêu biểu trong số các nghiên cứu về hệ quả của cuộc chiến trên người dân Việt Nam là Khảo sát Chiều dài ở Việt Nam do Hisrchman và cộng sự thực hiện (Hirschman et al, 1995) ở Khu vực Nam Định-Hà Nam-Ninh Bình. Kết quả cho thấy cuộc chiến và tỉ lệ thương vong làm thay đổi cấu trúc xã hội lẫn gia đình ở Việt Nam (Merli, 2007). Theo Teerawichitchainan (2009) và Guillemot (2009), độ tuổi nhập ngũ ở miền Bắc là khá sớm, từ 15 đến 20 tuổi, và điều này có thể ảnh hưởng đến tâm lý và thể lý của họ. Các nguyên do là tham chiến, huấn luyện nặng, công việc nguy hiểm, bệnh dịch, sốt rét, dễ hút thuốc và sử dụng chất gây nghiện (Wilmoth et al. 2010). Như trong các nghiên cứu với cựu binh Mỹ, khó khăn trong tái hoà nhập thời hậu chiến cũng là vấn đề (Frey-Wouters and Laufer 1986). Phần lớn các nghiên cứu của người Việt Nam thực hiện về hệ quả tâm lý do chiến tranh thường tập trung vào tác động của Chất độc màu da cam lên tinh thần của cựu chiến binh. Tôn Thất Tùng cùng cộng sự (1982), Hảo & Martinez (2015) đều chỉ ra đa số cựu chiến binh chịu ảnh hưởng của Chất độc màu da cam đều có rối loạn stress sau sang chấn (PTSD). Trong một khảo sát không chính thức, Hà (2010) cho rằng tổn thương tâm lý của cựu binh trải dài từ rối loạn dạng cơ thể, rối loạn ám ảnh, trầm cảm cho tới hoang tưởng và loạn tâm. Tuy nhiên, chúng tôi không tìm thấy thông tin xuất bản chính thức cũng như các bằng chứng và phân tích chưa đủ thuyết phục để khẳng định tất cả các yếu tố trên đều bị gây ra do chiến tranh. Đây cũng là vấn đề của các nghiên cứu về hệ quả chiến tranh của Việt Nam, đa số chỉ nằm trong các hội thảo và tạp chí trong nước, không được đăng tải hay nhận xét bởi các tạp chí quốc tế nên phương pháp nghiên cứu cũng như kết quả chưa thể được kiểm định tốt nhất. Một thiếu sót khác của các nghiên cứu về hệ quả tâm lý của chiến tranh ở cả quốc tế và Việt Nam là thiếu tập trung vào những người dân thường, không tham chiến, đặc biệt là thiếu hình ảnh của phụ nữ. Guillemot (2010) đã bàn đến vấn đề hình ảnh của thanh niên xung phong, đặc biệt là các nữ thanh niên xung phong, đã được dựng nên và quên lãng như thế nào trong một xã hội phụ hệ.

Hệ quả của cuộc chiến không chỉ nằm ở một phía. Các binh lính và người dân miền Nam Việt Nam dưới thể chế Cộng Hoà cũng chịu những tổn thương tương tự, đặc biệt với những người phải rời bỏ đất nước sau cuộc chiến. Nghiên cứu cho thấy họ có mức trầm cảm rất cao (Beiser, 1988; Kroll et al;, 1989). Với vị trí là người tị nạn, họ thường phải chịu vị thế xã hội thấp, mang sang chấn do chiến tranh, gặp khó khăn trong hoà nhập do rào cản ngôn ngữ (Kim et al, 2011, 2011). Rumbaut (2000) còn chỉ ra những khó khăn về tâm lý đến từ việc bị buộc phải rời bỏ đất nước, quê nhà. 

Vậy, trước những khó khăn về tâm lý mà cuộc chiến để lại, chúng ta đã vượt qua chúng như thế nào? Trong một nghiên cứu vào năm 2011, Teerawichitchainan và Korinek đã thực hiện một khảo sát trên 310 người trên 55 tuổi nhằm tìm hiểu hệ quả của việc tham chiến và sống trong chiến tranh Việt Nam lên sức khoẻ và tinh thần của họ. Dân số nghiên cứu bao gồm cả những cựu binh lẫn thường dân. Các tác giả mong muốn tìm được mối liên hệ giữa sức khoẻ thể lý được đánh giá chủ quan, sức khoẻ chức năng và sức khoẻ tinh thần với các trải nghiệm chiến tranh mà các nghiệm thể có. Kết quả thu được khá bất ngờ, tình trạng sức khoẻ và tinh thần nhìn chung ở các cựu binh lẫn thường dân đều không có khác biệt đáng kể. Kết quả này không những khác với một số nghiên cứu được nêu bên trên mà còn khác với các nghiên cứu ở Mỹ, nơi cựu binh thường xuyên có các bệnh mãn tính, PTSD và tử vong sớm. Phát hiện này không có nghĩa là người Việt Nam không chịu tổn thương bởi chiến tranh mà là những tổn thương này được san sẻ đều cho tất cả mọi thành phần dân số. “Các chiến dịch đánh bom và kế hoạch di tản đồng nghĩa với việc trải nghiệm về cuộc chiến ảnh hưởng đến toàn bộ mọi người”. Giải thích về kết quả này, các tác giả còn cho rằng “thời gian” đóng vai trò rất quan trọng. Thời gian qua đi sẽ hạ thấp mức độ tổn thương do các sự kiện gây sang chấn gây nên. Bên cạnh đó, chiến tranh kết thúc không đồng nghĩa với việc cuộc sống hoàn toàn trở lại bình thường. Các biến động về kinh tế xã hội trong các giai đoạn tiếp theo vẫn diễn ra. Tuy nhiên, những cựu binh, với một vị thế mới, sẽ được bảo vệ và hỗ trợ tốt hơn người dân thường. Điều này khiến cho những khoảng cách tiêu cực về mặt tâm lý của nhóm dân số này so với thường dân được thu ngắn lại. Ngoài ra, khác với cựu binh Mỹ phải trờ về nhà không kèn không trống và thậm chí phải nhận phản ứng tiêu cực từ xu hướng phản chiến, cựu binh Việt Nam ở miền Bắc được xem là những anh hùng và cả gia đình cùng con cháu được nhận rất nhiều sự hỗ trợ từ chính phủ. Tuy nhiên, một mặt khác, các cựu binh miền Nam không được nhận những hỗ trợ tương tự và còn gặp phải những vấn đề khác nhau đến từ áp lực xã hội. Điều này chắc chắn dẫn đến những hệ quả nặng nề về tâm lý nhưng đến giờ vẫn không có bất kỳ nghiên cứu nào về nhóm dân số này.
Với bài tóm tắt và tổng hợp trên, hi vọng sẽ đem lại cho các bạn một cái nhìn mới về các hệ quả tâm lý mà người dân chúng ta đã phải gánh chịu do cuộc chiến gây nên. 42 năm đã trôi qua, có những tổn thương đã qua đi nhưng chắc hẳn không ít đau khổ vẫn còn xuất hiện ở nơi này hay nơi khác. Hy vọng chúng ta có thể thông hiểu những khó khăn và cùng nhau hỗ trợ tất cả những người từng bị chiến tranh ảnh hưởng. Từ đó đi tới việc xây dựng một xã hội biết yêu thương, chấp nhận và không làm ngơ trước những đau khổ của người khác.

N.H.A

Tài liệu tham khảo
Beiser, M. (1988). Influences of time, ethnicity, and attachment on depression in Southeast Asian refugees. American Journal of Psychiatry, 145(1), 46–51.
Beresford, Melanie. 1988. Vietnam: Politics, Economics, and Society. London and New York: Pinter Publishers.
Nguyen, D., & Goel, M. (2015). Social determinants and the psychological distress of Vietnamese immigrants. International Journal of Culture and Mental Health8(1), 22-33.
Frey-Wouters, Ellen, and Robert Laufer. 1986. Legacy of a War. New York: M.E. Sharpe
Guillemot, Francois. 2009. “Death and Suffering at First Hand: Youth Shock Brigades during the Vietnam War (1990-1975).” Journal of Vietnamese Studies 4(3): 17-60.
Guillemot, F. (2010). Trực diện với cái chết và nỗi đau: Vấn đề thanh niên xung phong trong chiến tranh Việt Nam (1950-1975). Tạp Chí Talawas, (Số 2 mùa Xuân), 1-22.

Hảo, L. V., & Martinez, T. S. M. (2015). Hậu quả tổn thương tâm lý ở các cựu chiến binh bị nhiễm chất độc da cam. Tạp chí Tâm lý học, (5), 26-35.

Kim, G., Aguado Loi, C. X., Chiriboga, D. A., Jang, Y., Parmelee, P., & Allen, R. S. (2011). Limited English proficiency as a barrier to mental health service use: A study of Latino and Asian immigrants with psychiatric disorders. Journal of Psychiatric Research, 5(1), 104–110. doi:10.1016/j.jpsychires.2010.04.031
Kim, G., Chiriboga, D. A., Jang, Y., Lee, S., Huang, C. H., & Parmelee, P. (2010). Health status of older Asian Americans in California. Journal of the American Geriatrics Society, 58, 2003–2008. doi:10.1111/j.1532-5415.2010.03034.x
Kroll, J., Habenicht, M., Mackenzie, T., Yang, M., Chan, S., Vang, T., ... Nguyen, H. (1989). Depression and posttraumatic stress disorder in Southeast Asian refugees. American Journal of Psychiatry, 146, 1592.
Merli, M.G. 2000. “Socioeconomic Background & War Mortality during Vietnam’s Wars,” Demography 37:1-15.
Teerawichitchainan, Bussarawan. 2009. “Trends in Military Service in Northern Vietnam, 1950- 1995: A Socio-Demographic Approach” Journal of Vietnamese Studies. 4(3): 61-97.
Teerawichitchainan, B., & Korinek, K. (2012). The long-term impact of war on health and wellbeing in Northern Vietnam: Some glimpses from a recent survey. Social science & medicine74(12), 1995-2004.

Tôn Thất Tùng, Tôn Đức Lang, Đỗ Đức Vận & Nguyễn Thị Phương (1982). Hậu quả
chiến tranh hoá học của người Mỹ trên người Việt  Nam .Tạp chí Y học thực hành. No 4, 1982, tr. 34-38.

Wilmoth, Janet, Andrew S. London, and Wendy M. Parker. 2010. “Military Service and Men’s Health Trajectories in Later Life.” Journal of Gerontology: Social Sciences 10.1093: 1- 12.
Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter