Thứ Ba, 25 tháng 4, 2017

LÀM CÁCH NÀO ĐỂ ĐO ĐẠC HẠNH PHÚC?

2
Làm sao để đo hạnh phúc?

24/1/2017

Có rất nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa của wellbeing (an nhiên, viên mãn, hạnh phúc). Tuy nhiên, hiện tại các nhà nghiên cứu đang dần đồng ý rằng nó không thể được tối giản chỉ còn là việc tận hưởng vật chất. Nó còn bao hàm các phương diện khác của cuộc sống như sức khoẻ và các mối quan hệ xã hội.

Nâng cao wellbeing được xem như là một trong những thành tố quan trọng trong việc phát triển xã hội. Tuy nhiên, nếu nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống ảnh hưởng đến wellbeing, vậy liệu chúng ta có nên xây dựng một cách đo lường chung về nó? Liệu đo lường “hạnh phúc” có phải là một thang đo hữu dụng?

Trước khi chúng ta bắt đầu sử dụng wellbeing để đánh giá sự phát triển của xã hội, chúng ta cần làm rõ bản thân khái niệm về wellbeing.

Đo lường hạnh phúc

Một trong những cách để đo hạnh phúc là sử dụng khảo sát số đông. Trong đó, mỗi ngừoi tham gia sẽ trả lời những câu hỏi đơn giản về mức độ hạnh phúc hay hài lòng về cuộc sống của mình. Nhiều bằng chứng cho thấy ảnh hưởng của điều kiện kinh tế lên mức độ hài lòng cuộc sống thấp hơn chúng ta thường nghĩ. Đồng thời, các mặt khác như sức khoẻ và tình trạng thất nghiệp có vai trò quan trọng không kém.

Cách đo lường bằng khảo sát này trông thì có vẻ đáng tin, tuy vậy, theo các nhà tâm lý, hạnh phúc và mức độ hài lòng với cuộc sống không đơn giản là trùng lắp với nhau. Hài lòng về cuộc sống có yếu tố nhận thức trong đó-cá nhân cần lùi lại một bước và đánh giá cuộc sống của mình- trong khi hạnh phúc lại phản ánh những cảm xúc tích cực và tiêu cực mà họ trải nghiệm.

Việc tập trung vào các cảm xúc tích cực và tiêu cực có thể dẫn tới việc hiểu wellbeing theo nghĩa “khoái lạc” (hedonic), chỉ dựa vào cảm giác thích thú và thiếu vắng đau khổ. Nó sẽ quan tâm tới việc cá nhân đánh giá điều gì là đáng trông đợi, dẫn tới việc tạo nên một tiếp cận dựa trên ý thích. Trong khi đó, con người có thể trông đợi hàng vạn thứ khác nhau.

Nói cách khác, hạnh phúc có thể là một yếu tố trong việc đánh giá wellbeing, nhưng đó không phải là yếu tố duy nhất.

Tiếp cận dựa trên khả năng

Amartya Sen, một nhà khoa học đạt giải Nobel, chỉ ra rằng việc hiểu wellbeing dựa trên cảm giác thoả mãn, hài lòng và hạnh phúc có hai vấn đề.

Vấn đề đầu tiên là “việc từ chối các điều kiện thể lý”. Cơ thể con người thích nghi một phần nào đó với các tình huống gây khó chịu, nghĩa là những người nghèo đói hay bệnh tật vẫn có thể cảm thấy hạnh phúc. Một nghiên cứu gây “sốc” bởi một nhóm các bác sĩ tại Bỉ và Pháp cho thấy thậm chí trong nhóm bệnh nhân có bệnh mãn tính, phần lớn họ cho biết mình vẫn cảm thấy hạnh phúc.

Vấn đề thứ hai là việc “từ chối đánh giá”. Việc đánh giá cuộc đời là một hành động mang tính tự suy ngẫm và phản ánh. Chúng ta không thể tối giản nó thành cảm giác hạnh phúc hay không hạnh phúc. Tất nhiên, Sen thừa nhận “việc cho rằng một người đang bị đau đớn hay buồn khổ hành hạ vẫn cảm thấy ổn thoả thì thật là kì quặc”.

Vì thế, chúng ta không nên từ chối hoàn toàn tầm quan trọng của cảm giác hạnh phúc nhưng cần nhìn nhận rằng đó không phải là thứ duy nhất mà con ngừoi quan tâm. Cùng làm việc với Martha Nussbasum, Sen đã đưa ra một cách nhìn khác: tiếp cận dựa trên khả năng, trong đó cho rằng cả đặc điểm cá nhân lẫn hoàn cảnh xã hội đều ảnh hưởng tới khả năng giành lấy hạnh phúc của con ngừoi tương ứng với nguồn lực nhất định.

Tặng sách cho một ngừoi mù chữ không thể làm tăng sự viên mãn của họ (thậm chí còn có thể gây ra điều ngược lại), điều này tương tự với việc có xe hơi không đồng nghĩa với việc làm tăng khả năng di chuyển nếu đường xá không thuận lợi.

Theo Sen, những gì con người có thể làm hay có thể trở thành – ví dụ như dinh dưỡng đầy đủ hay xuất hiện trước đám đông mà không ngại ngần – mới là những thứ quan trọng cho wellbeing. Sen gọi những thành tựu này là các “chức năng” của con người. Tuy nhiên, ông cũng cho rằng việc định nghĩa wellbeing chỉ dựa trên khái niệm về chức năng là không đủ, wellbeing còn bao gồm cả sự tự do.

Ví dụ điển hình mà ông đưa ra liên quan tới việc so sánh giữa hai cá nhân thiếu dinh dưỡng. Người đầu tiên là vì nghèo và không mua nổi thức ăn; người thứ hai thì giàu nhưng lựa chọn kiêng ăn vì lý do tôn giáo. Tuy cả hai đều có cùng một mức độ dinh dưỡng nhưng không thể nói họ có cùng chung một mức độ hạnh phúc.

Vì thế, Sen cho rằng wellbeing cần được hiểu theo nghĩa đó là những cơ hội thật sự của con người- thật vậy, tất cả những tập hợp chức năng khả thi mà con người có thể lựa chọn.

Tiếp cận dựa trên khả năng này có tính đa diện, tuy vậy với những người làm chính sách hay có tư tưởng tính toán thoả hiệp một cách lý trí lại thường yêu cầu phải có một công cụ đo lường độc nhất. Cũng dựa trên tiếp cận về khả năng nhưng những người có cách nghĩ này thường không tin tưởng vào hoàn cảnh và lựa chọn cá nhân, thay vào đó họ áp dụng một bộ các tiêu chí chung cho tất cả mọi người.

Các bộ “tiêu chí tổng hợp”-như Chỉ số phát triển con ngừoi (Human Development Index-HDI) của Liên Hiệp Quốc, trong đó đo lường tổng thể sức tiêu thụ, tuổi thọ trung bình và chất lượng giáo dục ở mức độ quốc gia- là kết qủa của cách nghĩ trên. Cách tính này khá thông dụng trong giới làm chính sách nhưng lại là nạn nhân của việc chỉ đơn giản cộng điểm số các mặt khác nhau, và xem tất cả các khía cạnh đều ngang bằng nhau.

Chú trọng đến đánh giá cá nhân

Bênh cạnh tiếp cận chủ quan và khả năng ở trên, một cách tiếp cận thứ ba về wellbeing-tiếp cận dựa trên sở thích-quan tâm đến việc con ngừoi đánh giá như thế nào về tầm quan trọng của những phương diện khác nhau trong cuộc sống.

Một số cho rằng làm việc siêng năng là có giá trị cho cuộc sống, một số khác lại mong muốn giành nhiều thời gian hơn cho gia đình. Vài người thích gặp gỡ bạn bè, trong khi vài người lại chỉ thích đọc sách ở một nơi yên tĩnh.

Cách nhìn “dựa trên sở thích” xuất phát từ từ ý tưởng cho rằng con ngừoi chỉ hạnh phúc khi thực tế tương đồng với những gì họ cho là quan trọng.

Vì thế, sở thích sẽ có yếu tố “giá trị” trong nó: nó thể hiện suy nghĩ được một người cân nhắc kỹ càng với đầy đủ thông tin về một cuộc sống viên mãn là gì chứ không đơn thuần là hành vi mang tính “thị trường”, cung-cầu.

Tiếp cận này không trùng lắp với khái niệm mức độ hài lòng cuộc sống chủ quan. Chúng ta có thể liên tưởng đến ví dụ về những người có hội chứng bại liệt nhưng vẫn còn đầy đủ ý thức, họ vẫn có mức độ hài lòng cuộc sống cao khi đã thích nghi với tình huống. Điều này không có nghĩa là họ không muốn tình trạng của mình trở lại bình thường-và chắc chắn không có nghĩa rằng những người khoẻ mạnh sẽ không cảm thấy phiền lòng khi rơi vào hoàn cảnh tương tự.

Một thang đo dựa trên sở thích khác được nhà kinh tế học Marc Flerubaey sử dụng yêu cầu cá nhân lựa chọn những giá trị khác nhau cho các khía cạnh cuộc sống không liên quan đến thu nhập (ví dụ sức khoẻ và số giờ làm việc). Những giá trị này sẽ phụ thuộc vào từng người: mọi người có thể sẽ đồng ý rằng không bị bệnh tật là trạng thái tích cực nhất, nhưng một luật sư nghiện công việc sẽ có những giá trị rất khác về số giờ làm việc so với một người công nhân phải làm việc cực nhọc và độc hại.

Sau đo, Fleurbaey đề nghị cá nhân, kết hợp với các giá trị đối chiếu phi-thu-nhập ở trên, xác định một mức lương sẽ khiến họ hài lòng với hoàn cảnh hiện tại.

Số lượng chênh lệch giữa “thu nhập tương xứng” và thu nhập thực tế công việc của cá nhân sẽ giúp trả lời câu hỏi: “Bạn muốn từ bỏ bao nhiêu để có nhiều sức khoẻ và thời gian hơn?”

Một số nhà tâm lý tỏ ra thận trọng với các tiếp cận dựa trên sở thích vì nó giả định con người luôn suy nghĩ có cân nhắc và có đầy đủ thông tin về những điều tạo nên một cuộc sống viên mãn. Và thậm chí nếu những sở thích này tồn tại, chúng ta vẫn sẽ gặp khó khăn trong việc đo lường chúng vì có các mặt trong cuộc sống không thể dễ dàng “mua bán” được như thời gian giành cho gia đình hay sức khoẻ.


Liệu tất cả những điều trên có thể được áp dụng vào thực tế?

Bảng xếp hạng bên dưới, được thực hiện bởi hai nhà kinh tế học người Bỉ Koen Decancq và Erik Schokkaert, cho thấy mỗi tiếp cận về wellbeing khác nhau sẽ đưa tới những hệ quả thực tiễn như thế nào.

18 quốc gia Châu Âu vào năm 2010 (ngay sau khủng hoảng kinh tế) được xếp hạng dựa trên 3 tiêu chí đo lường: thu nhập bình quân, mức độ hài lòng cuộc sống bình quân, và “thu nhập tương xứng” bình quân (trong đó có tính đến sức khoẻ, tỉ lệ thất nghiệp, độ an toàn và chất lượng tương tác xã hội).



Một số kết quả khá bất ngờ. Người dân Đan Mạch hài lòng với cuộc sống nhiều hơn khá nhiều so với thứ hạng giàu có của họ, trong khi đó Pháp lại là trường hợp ngược lại. Không có khác biệt lớn khi so sánh về thu nhập tương xứng, tuy nhiên, điều này cho thấy mức độ hài lòng của hai quốc gia bị ảnh hưởng khá lớn từ những khác biệt về văn hoá.

Đức và Hà Lan cũng có mức hài lòng thấp hơn mức thu nhập, tuy nhiên thu nhập tương xứng của hai nước này lại cho thấy các phương diện phi-thu-nhập có thứ hạng không được mấy khả quan.
Hy Lạp cũng có mức hài lòng về cuộc sống khá thấp. Các yếu tố văn hoá có thể đóng vai trò khá quan trọng trong vấn đề này, tuy nhiên Hy Lạp cũng có mức chênh lệch giàu nghèo khá cao. Điều này lại không được thể hiện rõ trong thứ hang thu nhập ở trên.

Những khác biệt giữa các cách đo lường khác nhau cho thấy vấn đề quan trọng trong việc nên lựa chọn sử dụng phương thức nào để tìm hiểu về well being. Nếu chúng ta muốn sử dụng thang đo nhằm xếp hạng khả năng đem lại hạnh phúc giữa các quốc gia, thang đo đơn giản như cảm nhận hạnh phúc chủ quan có thể được sử dụng. Với mục đích làm chính sách, nếu chúng ta muốn theo dõi liệu cá nhân có cải thiện các mặt mà họ cho là quan trọng, thang đo đánh giá đa diện theo tiếp cận dựa trên khả năng nên được sử dụng. Nếu quan tâm tới khác biệt giữa các cá nhân về việc đâu là những phương diện quan trọng trong cuộc sống, thang đo theo tiếp cận dựa trên sở thích, lựa chọn có thể là thang đo phù hợp giành cho chúng ta.

Henry S. Richardson, Professor of Philosophy, Senior Research Scholar, Kennedy Institute of Ethics, Georgetown University
Erik Schokkaert, Professor of Economics, University of Leuven

Dịch: Hành Lang Tâm Lý

Nguồn: http://theconversation.com/how-do-we-measure-well-being-70967
Đọc tiếp

Thứ Sáu, 17 tháng 3, 2017

PHẢN HỒI TRƯỚC CÁC TRƯỜNG HỢP LẠM DỤNG TÌNH DỤC TRẺ EM – TẠI SAO CHÚNG TA CẦN CẨN TRỌNG

0
Bạo hành và lạm dụng trẻ em
Ghi chú của ngừoi dịch:
Chúng ta đã biết những tác hại của việc lạm dụng tình dục ở trẻ em (Paolucci, Genuis, & Violato, 2001). Việc dư luận phản ứng mạnh mẽ trước các nghi phạm cũng như trước hiện tượng này là điều hoàn toàn có thể hiểu được. Tuy nhiên, vấn đề không thể chỉ dừng lại ở đó. Không chỉ lạm dụng tình dục, các hình thức lạm dụng khác như thể lý và tâm lý cũng ảnh hưởng rất tiêu cực đển trẻ em (Norman et al., 2012). Thậm chí, bạo hành về tâm lý có thể có tác hại tương đương với bạo hành về thể lý hay lạm dụng tình dục (Spinazzola et al., 2014/ Link bài viết tại HLTL: http://hanhlangtamly.blogspot.com/2014/10/bao-hanh-tam-ly-o-tre-em-co-tac-hai.html ). Vậy nên, tất cả các trường hợp bạo hành và lạm dụng trẻ em đều cần có sự quan tâm đúng mực.

Ngoài ra, có rất nhiều các yếu tố khác ảnh hưởng đến việc lạm dụng tình dục trẻ em diễn ra như hệ thống hỗ trợ xã hội, chính sách, cộng đồng, giáo dục, gia đình (Collin-Vezina &Garrido, 2017; Baril,Tourigny, Paillé, & Pauzé, 2016) . Đồng thời, đối với các nhà chuyên môn, một loạt các vấn đề khác về đạo đức cần phải đươc cân nhắc (Haverkampf & Daniluk, 1993). Một ví dụ cụ thể minh hoạ các bạn có thể tham khảo tại: http://www.socialworker.com/feature-articles/ethics-articles/To_Report_or_Not_To_Report%3A_That_Is_the_Ethical_Dilemma/ ). Vì thế, cần có một cái nhìn toàn diện nhưng không kém phần cẩn trọng khi bàn đến nguyên nhân và các giải pháp cho vấn đề lạm dung trẻ em. Hành Lang Tâm Lý xin giới thiệu một bài viết nêu ý kiến cá nhân của Giáo sư Ann Gallagher, Giáo sư về Chăm sóc và Đạo đức chuyên môn, Phòng Giám sát Đạo đức Chăm sóc Quốc tế, Đại học Surrey, Anh Quốc, về một vụ việc tương đương (và còn có thể nghiêm trọng hơn) xảy ra tại Anh cách đây 2 năm. Tính thời sự và các thông điệp nay vẫn còn có thể đem lại cho mọi người một góc nhìn mới về vấn đề lạm dụng tình dục trẻ em và cách chúng ta phản ứng.

Chúng ta rất dễ cảm thấy phẫn nộ khi nghe đến các trường hợp lạm dụng tình dục trẻ em đã và đang xảy ra. Cụ thể hơn, quy mô và hệ quả của vụ việc tại Rotherham (sáu người đàn ông bị kết tội lạm dụng nhiều phụ nữ và trẻ em gái, trong đó có một bé gái 12 tuổi, https://www.theguardian.com/uk-news/2016/nov/04/rotherham-child-sexual-exploitation-eight-men-jailed- Ghi chú của người dịch) khiến cho không ít chúng ta phải sử dụng những cụm từ như “kinh tởm”, “không thể bào chữa” và “công lý phải được thực thi”.
Nhưng chúng ta cần làm nhiều hơn thế. Thật vậy, chúng ta cần có những phân tích kỹ càng về mặt quy tắc đạo đức để cải thiện cách chúng ta phản ứng trước các trường hợp lạm dụng tình dục. Đặc biệt, chúng ta cần có cách tiếp cận sao cho quyền lợi của những nạn nhân và gia đình nạn nhân được đảm bảo một cách cẩn trọng nhất. Chúng ta cần có thời gian và không gian để làm việc với tất cả những người có liên quan. Chúng ta cần tham khảo quan điểm của cả những người bị cho là chưa hành động đúng mức cần thiết hay của những cộng đồng đã “làm ngơ” để cho những vụ việc trên xảy ra (Cảnh sát và Hội đồng thành phố Rotherham bị chỉ trích dữ dội vì đã phản ứng không hiệu quả và che đậy vụ việc-ghi chú của người dịch). Đồng thời, chúng ta cũng cần nỗ lực để hiểu được các yếu tố cá nhân, tổ chức và cộng đồng nào đã khiến cho việc làm dụng xảy ra trong một thời gian dài đến như vậy. Chúng ta cần có một tầm nhìn xa hơn.
Tựu chung lại, chúng ta cần một “quy tắc đạo đức từ tốn”. “Quy tắc đạo đức từ tốn” ở đây đặt trọng tâm vào: chất lượng làm việc với bối cảnh địa phương, hơn là số lượng hoạt động được thực hiện; giành thời gian và tạo không gian để hiểu và suy xét các cách giải thích, hơn là vội vã phản ứng; xây dựng các mối quan hệ hỗ trợ, hơn là chỉ làm theo quy trình; tập trung vào trải nghiệm của con người, hơn là vào các mục tiêu trừu tượng; hợp tác và đối thoại, hơn là thiếu hợp tác do những giả định thiếu thông tin và sự sợ hãi tạo nên [Xem bài báo khoa học sau: http://cet.sagepub.com/content/early/2013/09/13/1477750913502615]. Theo quan điểm của chúng tôi, việc này bao gồm cả việc tiếp xúc với cộng đồng của nạn nhân lẫn cộng đồng của nghi phạm. “Quy tắc đạo đức từ tốn” cũng bao hàm cả việc cam kết tôn trọng và cung cấp những chăm sóc sức khoe và an sinh ngắn và dài hạn cho các nạn nhân và gia đình của họ.
Theresa May (Bộ trưởng Bộ Nội Vụ Anh vào thời điểm bài viết, nay là Thủ tướng Anh – chú thích của nguòi dịch) vừa lên tiếng xin lỗi vì hai lành đạo vụ điều trần về trường hợp lạm dụng tình dục này vừa liên tiếp từ chức, để lại chỗ trống trong vị trí điều hành. Bà nói rằng bà sẽ tham khảo ý kiến của những nạn nhân về vụ việc này. Việc để những nạn nhân tham gia lên kế hoạch cho vụ điều trần cho thấy tín hiệu nhận thức về tầm quan trọng của ý kiến của họ. Kết luận “lắng nghe cẩn thận và phán xét cẩn trọng” là phát hiện quan trọng trong một nghiên cứu tôi thực hiện cách đây vài năm về cách thức các bác sĩ phản ứng với việc lạm dụng trẻ em (Xem: http://jme.bmj.com/content/38/2/87.abstract ]. Nó là một phần quan trọng trong việc đạt đến sự hiểu biết tường tận về vấn đề. Báo cáo của Điều tra Độc lập về Trường hợp Lạm dụng Tình dục Trẻ em ở Rotherham đã cho phép những nạn nhân được lên tiếng, những người thường bị buộc phải im lặng vì sự kì thị hay vì thái độ của những người xem nhẹ vụ việc. Một số tiết lộ rằng họ cảm thấy “như mình đã chết” hay thậm chí cảm thấy được “yêu thương” bởi người lạm dụng.
Trong trường hợp Rotherham, rõ ràng một số cá nhân trong các dịch vụ đáng lẽ phải bảo vệ và chăm sóc cho trẻ em và thanh thiếu niên đã không hoàn thành được trách nhiệm của mình. Các tổ chức có nhiệm vụ ngăn ngừa, bảo vệ và chăm sóc cũng đã thất bại trong việc lắng nghe các cá nhân và gia đình khi các báo cáo ban đầu cho rằng việc lạm dụng đã bị thổi phồng quá mức. Cộng đồng cũng đã thất bại khi nhắm mắt làm ngơ và có lẽ đã không nghĩ rằng các hành động trên đã vi phạm nghiêm trọng quyền con người. Việc thiếu kiên quyết trong hành động được bao biện dựa trên lo ngại rằng kết tội một nhóm người nào đó sẽ bị gắn mác phân biệt chủng tộc. Tất cả những quan điểm trên đều cần phải được thách thức.
Có rất nhiều bằng chứng về những vụ lạm dụng trẻ em đã xảy ra mà không được báo cáo cho đến khi trưởng thành. Chúng ta cũng biết rằng, trong quá khứ, nạn nhân thường sợ người khác không tin mình, sợ bị đổ lỗi hay bị cô lập do lạm dụng. Nhiều người xung quanh cũng có khả năng biết về các trường hợp bị lạm dụng. Đối với các nhà chuyên môn có liên quan, chúng tôi phải đặt câu hỏi vì sao có quá ít người lên tiếng dù cho họ buộc phải trả lời trung thực trước toà? Vì sao không có câu hỏi nào được đặt ra cho những mục tiêu hành động mà nay đã thất bại trong việc đặt nhân phẩm và quyền con người của trẻ em lên hàng đầu? Chúng ta cần có thời gian để cân nhắc những lời giải thích cho sự vô tâm trên cùng các hành vi phi đạo đức. Đó có thể là việc sợ hãi bị trả thù. Hay những người im lặng không nhìn nhận các trẻ bị hại giống như các trẻ trong chính gia đình hay khu vực của họ? Hay có lẽ họ cho rằng trẻ em một khu vực nào đó sẽ không đáng được chú ý và bảo vệ? Hay có lẽ họ không có đủ không gian và thời gian để tự suy xét những yếu tố đạo đức trong hành động và sự vô tâm của mình?
Vấn đề xảy ra ở Rotherham có thể do sự trì trệ, thờ ơ hay thiếu nhận thức về đạo đức, do sự sợ hãi hay thiếu ý thức về công bằng xã hội và trách nhiệm công dân. Việc cân nhắc cẩn trọng và từ tốn các yếu tố đạo đức trong giáo dục và thực hành chuyên môn có thể giúp nâng cao nhận thức và thách thức các các quan điểm chuyên môn tiêu cực cho rằng một số trẻ không cần được chăm sóc và bảo vệ. Nhưng như vậy là chưa đủ. Cần phải có sự đối thoại thường xuyên giữa các nhóm và cộng đồng để tìm ra những phương thế an toàn giúp các vấn đề được lên tiếng, tìm ra cách để chống lại việc phân biệt đối xử và thái độ kì thị, chống lại việc đặt ra những ưu tiên thiếu đạo đức, cần thách thức những mục tiêu sai định hướng và bàn luận cách để các giá trị then chốt của quy tắc đạo đức cẩn trọng và từ tốn như hiểu biết, nhân ái, dũng cảm và liêm chính được phát triển. Trẻ bị lạm dụng cùng gia đình xứng đáng có được nhiều hơn những gì chúng ta đang làm. Thật vậy, chúng ta có cơ hội để xây dựng một xã hội, mà theo lời của Mary Warnock, chúng ta có thể ca ngợi và ngưỡng mộ nếu làm được những điều trên. 
Ann Gallagher, Professor of Ethics and Care & Members of International Care Ethics Observatory Advisory Group, University of Surrey [http://www.surrey.ac.uk/fhms/research/centres/ICE/]

Dịch: Hành Lang Tâm Lý


Tài liệu tham khảo phần ghi chú:
Baril, K., Tourigny, M., Paillé, P., & Pauzé, R. (2016). Characteristics of sexually abused children and their nonoffending mothers followed by child welfare services: the role of a maternal history of child sexual abuse. Journal of child sexual abuse25(5), 504-523.

Collin-Vézina, D., & Garrido, E. F. (2016). Current issues in child sexual abuse, gender and health outcomes: shedding new lights to inform worldwide policy and practice.

Haverkamp, B., & Daniluk, J. C. (1993). Child sexual abuse: Ethical issues for the family therapist. Family Relations, 134-139.

Norman, R. E., Byambaa, M., De, R., Butchart, A., Scott, J., & Vos, T. (2012). The long-term health consequences of child physical abuse, emotional abuse, and neglect: a systematic review and meta-analysis. PLoS Med9(11), e1001349.

Paolucci, E. O., Genuis, M. L., & Violato, C. (2001). A meta-analysis of the published research on the effects of child sexual abuse. The Journal of psychology135(1), 17-36.

Spinazzola, J., Hodgdon, H., Liang, L. J., Ford, J. D., Layne, C. M., Pynoos, R., ... & Kisiel, C. (2014). Unseen wounds: The contribution of psychological maltreatment to child and adolescent mental health and risk outcomes. Psychological Trauma: Theory, Research, Practice, and Policy6(S1), S18.

Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter