Thứ Tư, 13 tháng 12, 2017

BẤT BÌNH ĐẲNG KINH TẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN TÂM LÝ NHƯ THẾ NÀO?

1
Chênh lệch giàu nghèo

Bất bình đẳng về kinh tế đang ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Ở đa phần các quốc gia công nghiệp, phân phối tài sản và thu nhập ngày càng tập trung vào một nhóm. Ở Hoa Kỳ, nhóm 10% những người giàu nhất
có mức thu nhập cao gấp 9 lần mức trung bình của những nhóm còn lại, còn ở Úc tỉ lệ là xấp xỉ 5 lần.
Sự gia tăng của bất bình đẳng về kinh tế có liên hệ tới một loạt các vấn đề về kinh tế và xã hội khác. Những xã hội bất bình đẳng thường có sức khoẻ kém, tỉ lệ béo phìbạo lực cao, nhiều bất ổn chính trị, và nhiều tham nhũng trong các cơ quan chính quyền.
Các tác động về tâm lý
Một điều mà ít người biết đến là bất bình đẳng kinh tế cũng có những tác động tiêu cực đến tâm lý. Ví dụ, có bằng chứng cho thấy những người sống trong các xã hội bất bình đẳng thường có mức độ hài lòng về cuộc sống (life satisfaction) thấp và có tỉ lệ trầm cảm cao. Những tác động tâm lý lên cá nhân có thể giúp giải thích những tác hại của bất bình đẳng trên quy mô lớn hơn về phương diện xã hội.
Một nghiên cứu tổng quan khá quan trọng đã giúp minh chứng cho vai trò của hai hiện tượng tiêu biểu. Nicholas Buttrick và Shigehiro Oishi cho rằng bất bình đẳng kinh tế làm mất lòng tin (mistrust) và gia tăng cạnh tranh địa vị (status competition). Những hiện tượng này làm nảy sinh các tác động lên sức khoẻ và tinh thần trong các xã hội bất bình đẳng.
Mất lòng tin
Buttrick và Oishi cho thấy bất bình đẳng có liên hệ tới việc con người mất lòng tin lẫn nhau. Những người nhận thấy chênh lệch giàu nghèo lớn có xu hướng tin rằng hệ thống kinh tế thiếu công bằng và những người khác đang tiến thân bằng những cách thức thiếu minh bạch.
Vấn đề mất lòng tin này được gia tăng bởi mức độ phân biệt đối xử dựa trên tầng lớp. Điều này làm giảm cơ hội cho con người tương tác với không gian bên ngoài môi trường kinh tế xã hội khép kín mà họ sinh sống. Sự kết hợp giữa mất lòng tin và ‘xa lạ với xã hội’ sẽ dẫn đến việc thiếu tính gắn kết xã hội (social cohesion). Đồng thời, cảm giác về sự phân chia kinh tế xã hội sẽ trở nên nghiêm trọng và là không thể tránh khỏi.
Mất niềm tin làm giảm tính kết nối xã hội và ứng xử văn minh. Nghiên cứu so sánh các bang ở Hoa Kỳ cho thấy những người sống trong những bang bất bình đẳng thường ít tham gia vào các nhóm xã hội, một trong những dạng thiếu liên kết xã hội dẫn đến những tác động tiêu cực đến sức khoẻ. Những người giàu có sinh sống trong những bang trên cũng thường ít đóng góp từ thiện.
Những người sống trong các bang bất bình đẳng thậm chí còn cho thấy những khác biệt trong nhân cách và xu hướng thực hiện các hành vi phi đạo đức. Một nghiên cứu cho thấy họ thường có mức điểm thấp trong nét nhân cách dễ chịu (agreeableness) – nét nhân cách thể hiện xu hướng thân thiện và hợp tác.
Một nghiên cứu khác cho thấy những người sống trong các bang trên cũng thường tìm kiếm trên Google những cách để gian lận trong thi cử và học thuật.
Giảm lòng tin trong các xã hội bất bình đẳng kinh tế có những tác động nghiêm trọng đến xã hội. Mức độ tin tưởng thấp một phần chịu trách nhiệm cho mối tương quan giữa bất bình đẳng và tỉ lệ tử vong. Mối liên hệ này được quan sát trên 33 nước và vẫn có ý nghĩa dù đã kiểm soát về thống kê các chi tiêu dành cho y tế công cộng. Nó cũng giải thích một phần mối liên hệ giữa bất bình đẳng và tỉ lệ giết người ở các quốc gia trên.
Tóm lại, một xã hội nơi người dân không tin tưởng lẫn nhau sẽ phải đối mặt với những nguy cơ về sức khoẻ và bạo lực. Các xã hội trên thường có mức bất bình đẳng kinh tế cao.
Cạnh tranh địa vị
Theo Buttrick và Oishi, mất lòng tin là một trong những tiến trình tâm lý chịu trách nhiệm cho những tác động tiêu cực của bất bình đẳng lên xã hội. Người dân trong các xã hội có bất bình đẳng lớn thường quan tâm tấn việc họ đứng đâu trong bậc thang địa vị.
Lo âu về vị thế có thể xuất hiện dưới hình thức lo sợ mất vị thế về kinh tế hay lo ngại về việc người khác sẽ đánh giá vị thế của mình ra sao. Điều này có thể được thể hiện trong chính chủ nghĩa tiêu thụ (consumerism). Những người sống trong xã hội bất bình đẳng sẽ tìm mua những mặt hàng tiêu thụ mang tính địa vị cao hơn, ví dụ như các nhãn hiệu đắt tiền.
Mối bận tâm về việc thể hiện địa vị cao có thể ảnh hưởng đến chính cảm giác bản ngã của cá nhân. Trong một nghiên cứu, những người sống trong các quốc gia có bất bình đẳng kinh tế thường sẽ xem mình có những đặc điểm được ‘ưa thích’ cao hơn mức trung bình. Kiểu “tự nâng cấp” (self-enhancement) này là tác nhân chính dẫn đến tính ái kỷ (narcissism).
Là nguyên nhân hay là kết quả?
Nghiên cứu trên bất bình đẳng tô vẽ một bức tranh u tối về các tác động tâm lý. Tuy nhiên, liệu có phải bất bình đẳng về phân phối thu nhập hay tài sản tạo ra những tác hại này? Có lẽ bất bình đẳng, mất lòng tin, lo âu địa vị, bệnh tật và mất liên kết xã hội chỉ là triệu chứng của những vấn đề tiềm tàng bên dưới hệ thống kinh tế.
Mối liên hệ nguyên nhân-kết quả giữa bất bình đẳng kinh tế và các tác hại được minh chứng thông qua các nghiên cứu chiều dài và thực nghiệm. Ví dụ, một nghiên cứu mới đây theo dõi bất bình đẳng trong thu nhập và mức độ hài lòng cuộc sống từ năm 1984 đến năm 2012 được khảo sát với quy mô lớn tại Đức. Trong những năm mà bất bình đẳng có mức độ cao, hài lòng về cuộc sống thường thấp. Mối quan hệ này được giải thích bởi mức độ lo âu về kinh tế trong những năm đó.
Các thực nghiệm cũng cho thấy bất bình đẳng có thể tạo ra những hệ quả tiêu cực. Trong một nghiên cứu, những người tham gia được cho tham gia vào một trò chơi trao đổi tài sản công (public goods game). Trong đó, mỗi người có thể chọn đóng góp cho những người cùng chơi để cả hai cùng có lợi hay chỉ quan tâm đến lợi ích của bản thân. Cuối cùng, họ sẽ quyết định liệu bản thân muốn duy trì hay chấm dứt mối liên hệ với những người chơi khác.
Khi bắt đầu trò chơi, những người tham gia sẽ được phân ngẫu nhiên vào những nhóm có điều kiện bình đẳng, hay bất bình đẳng vừa và cao. Kết quả cho thấy khi bất bình đẳng tài sản là rõ rệt, mức bất bình đẳng cao thường có những hệ quả tiêu cực.
Dưới những điều kiện bất bình đẳng, những người chơi có nhiều tài sản sẽ ít đóng góp cho những người ít tài sản hơn. Họ cũng hành xử theo hướng tư lợi nhằm duy trì tài sản của mình. Mức hợp tác trung bình giữa các nghiệm thể sẽ giảm, mạng luới kết nối xã hội sẽ trở nên mỏng hơn và dẫn đến việc làm mất cơ hội tại ra tài sản mới.
Những kết quả trên cho thấy bất bình đẳng kinh tế có những tác hại tâm lý và xã hội rất thực tế. Việc hiểu bất bình đẳng ảnh hưởng đến tâm trí và hành vi con người ra sao sẽ rất quan trọng nếu chúng ta mong muốn có hiểu biết đầy đủ về những tác động lớn hơn của bất bình đẳng đối với xã hội.
Dịch: Hành Lang Tâm Lý


Đọc tiếp

Thứ Tư, 6 tháng 12, 2017

TÂM LÝ HỌC CÓ ĐANG RƠI VÀO KHỦNG HOẢNG?

2
Khủng hoảng trong nghiên cứu tâm lý

Tâm lý học hiện đại đang rơi vào khủng hoảng. Nhận định này không phải mới xuất hiện. Từ não tướng học (phrenology – ngành nghiên cứu cho rằng kích thước hình dạng não bộ có liên quan đến tính cách và khả năng tâm lý) cho đến phân tâm học, tâm lý học có truyền thống hay bị đặt câu hỏi về tính khoa học của ngành. Thật vậy, triết gia về khoa học, Karl Popper, xem các lý thuyết của Freud là ví dụ điển hình của nguỵ khoa học (pseudoscience), những kiến thức mà không có bài kiểm tra nào có thể chứng minh rằng chúng sai (nhưng chưa chắc có nghĩa là chúng đúng). Mới đây, tâm lý học vừa cho ra đời một loạt những khám phá khó tin mà độ tin cậy về tính khoa học của chúng là một dấu chấm hỏi.
Một trong những kết quả nghiên cứu khó tin đó là thực nghiệm của Daryl Bem vào năm 2011. Nó cho rằng những sự kiện trong tương lai có thể ảnh hưởng tới quá khứ. Bem, giáo sư danh dự tại ĐH Cornell, cho rằng so với việc luyện tập ghi nhớ danh sách các từ trước khi làm thực nghiệm, con người sẽ có xu hướng nhớ những từ này nhiều hơn nếu học chúng sau khi đã thực hiện thực nghiệm nhớ từ. Trong một nghiên cứu khác, ông cho rằng, khi giấu một tấm hình khiêu dâm sau một trong hai tấm màn, con ngừoi có khả năng chọn đúng tấm màn có bức ảnh đó. Và kết quả này được cho là không chỉ đơn thuần vì may mắn.
Ngoài ra, vào năm 1996, John Bargh thuộc ĐH Yale đã báo cáo rằng khi gợi ý trong vô thức về những ‘thiên kiến về ngừoi cao tuổi’ (bằng cách nói ngẫu nhiên những câu có chứa các từ như ‘bingo’ hay ‘Florida’, ở Mỹ có định kiến cho rằng Florida là bang có nhiều người già ở), nghiệm thể sẽ vì vậy mà đi chậm hơn. Thêm vào đó, Roy Baumeister vào năm 1998 còn đưa ra bằng chứng cho rằng chúng ta có chỉ có một lượng ý chí nhất định và nó sẽ bị mất dần mỗi lần chúng ta kháng cự lại một cám dỗ nào đó, ví dụ như ăn chocolate. Trong cùng năm, Ap Dijksterhuis và Ad Van Knippenberg cho rằng chúng ta sẽ chơi giải đố tốt hơn nếu trước đó chúng ta tự liệt kê những phẩm chất của một giáo sư so với việc liệt kê đặc điểm cua một cổ động viên bóng đá quá khích.
Những nghiên cứu này là một trong những nghiên cứu gây tranh cãi nhiều nhất trong tâm lý học. Ít nhất là vì các nhà nghiên cứu gặp khó khăn trong việc tái hiện lại những thực nghiệm này. Những kiểu nghiên cứu này dấy lên lo ngại về phương pháp nghiên cứu mà các nhà tâm lý học đang sử dụng, đồng thời mở rộng ra quan ngại về chính bản thân ngành khoa học về tâm lý.
Không lặp lại
Một khảo sát trên 1500 nhà khoa học được đăng bởi tạp chí Nature cho thấy 24% những người được khảo sát cho biết họ có công bố một nghiên cứu lặp lại (replication) nghiên cứu trước đó với kết quả tương tự và 13% cho biết không thu được cùng kết quả khi thực hiện lại một nghiên cứu trước đây. So sánh với những công bố khoa học của ngành tâm lý trong một thế kỷ trở lại đây, chỉ có 1% các nghiên cứu thử lặp lại các kết quả nghiên cứu trong quá khứ.
Các ban biên tập và những người đánh giá trong các tạp chí khoa học thường hay mắc phải một định kiến mang tính hệ thống khiến cho các tạp chí khoa học tâm lý nổi tiếng trở thành kho chứa những bài báo kì lạ. Nhiều nhà tâm lý bị ám ảnh bởi “chỉ số ảnh hưởng” (impact factors) của tạp chí (chính các tạp chí khoa học cũng bị vậy) – và một cách để làm tăng ảnh hưởng là cho công bố những kết quả “lạ”. Một số các tạp chí có chỉ số ảnh hưởng cao được biết đến do công bố những nghiên cứu khác thường, tuy không bao giờ được thực hiện lại nhưng lại thu hút nhiều sự chú ý cho chính tác giả và tạp chí. Ngược lại, tái xác định kết quả nghiên cứu của người khác qua nghiên cứu lặp lại thường không hấp dẫn, ít gặp và hay bị đánh rớt xuống các tạp chí ít danh tiếng hơn.
Tuy tâm lý học có lịch sử bỏ rơi các nghiên cứu lặp, liệu xu thế có đang thay đổi? Trong năm 2016, một sáng kiến tình nguyện – Dự án tái tạo OSC (OSC Reproducibility project) – đã thử làm lại 100 nghiên cứu tâm lý học. Chỉ một phần ba (36%) các nghiên cứu cho kết quả tương tự nghiên cứu trong quá khứ. Liệu điều này có nghĩa là các kết quả nghiên cứu tâm lý học không đáng tin cậy?
Các dự án tái nghiên cứu thường mang tính chọn lọc, chỉ nhắm tới các nghiên cứu ít tốn kém và không phức tạp để tái thực hiện, hoặc chỉ chọn những nghiên cứu quá khó tin. Các dự án khác như “Many Labs” cho thấy tỉ lệ tái nghiên cứu thành công là 77%. Tất cả các dự án đều chọn mẫu không ngẫu nhiên và tỉ lệ thành công chỉ phản ánh các nghiên cứu được chọn. Ngay cả nếu các dự án chọn mẫu các nghiên cứu ngẫu nhiên, chúng ta cũng không biết được đâu là tỉ lệ tái nghiên cứu đủ tiêu chuẩn trong tâm lý. Đây không phải là vấn đề riêng của tâm lý học. John Ioannidis cho biết: “đa số các kết quả nghiên cứu được công bố đều sai”. Sau cùng, các giả thuyết nghiên cứu là ước đoán khả dĩ nhất mà chúng ta có về hiện tượng, chứ không đơn giản là tập hợp của chân lý.
Thực hành nghiên cứu gây nghi vấn
Có thể nhận thấy sự thất vọng của nhiều nhà tâm lý vì việc công bố bằng chứng phù hợp với giả thuyết nghiên cứu xem ra khá dễ dàng. Một nguyên do khả dĩ của cả các kết quả khác thường và việc thiếu nghiên cứu lặp lại là vì các nhà tâm lý thường sử dụng các “thực hành nghiên cứu gây nghi vấn” (Questionable research practices-QRPs)
Vào năm 2012, một khảo sát trên 2000 nhà tâm lý ở Hoa Kỳ cho thấy họ hay sử dụng QRPs. 67% thừa nhận họ báo cáo một cách có lựa chọn các nghiên cứu “thành công”, trong khi 74% không tiết lộ đầy đủ tất cả các thang đo được sử dụng. Khảo sát cũng cho thấy 71% tiếp tục thu thập dữ liệu cho đến khi kết quả có ý nghĩa xuất hiện và 54% báo cáo các kết quả không được dự tính từ trước nhưng lại cố tình viết rằng mình đã dự tính chúng trước khi làm nghiên cứu. 58% loại bỏ bớt dữ liệu sau khi phân tích. Đáng ngạc nhiên, hơn một phần ba công nhận, ít nhất một lần, họ nghi hoặc tính chính trực trong nghiên cứu của chính mình và 1.7% thừa nhận mình làm giả dữ liệu.
Vấn đề của tâm lý học hiện tại đã tồn tại từ lâu và mang tính văn hoá. Các nhà nghiên cứu, đánh giá, biên tập, các tạp chí và phương tiện truyền thông, tất cả đều ưu tiên và hưởng lợi từ chính nhiệm vụ “đi tìm tính mới trong nghiên cứu”. Chính định kiến mang tính hệ thống này, đi kèm với việc thiếu thống nhất trong các nguyên tắc nền tảng ở một số lĩnh vực tâm lý - một cách vô ý và hữu ý - đã khiến cho thực hành gây nghi vấn bùng phát. Các dự án lặp lại các nghiên cứu trên quy mô lớn không thể giải quyết vấn nạn này mà thậm chí có thể làm trầm trọng thêm tình hình bằng cách giới thiệu các nghiên cứu lặp lại như một phương tiện đặc biệt để nhắm đến các nghiên cứu khó tin. Nghiên cứu lạp lại – dù thành công hay thất bại – cần phải là một phần căn bản của khoa học thông thường và cần trở nên thông dụng lẫn được trân trọng hơn bởi các nhà tâm lý và các tạp chí tâm lý.
Dịch: Hành Lang Tâm Lý


Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter