Thứ Tư, 6 tháng 12, 2017

TÂM LÝ HỌC CÓ ĐANG RƠI VÀO KHỦNG HOẢNG?

2
Khủng hoảng trong nghiên cứu tâm lý

Tâm lý học hiện đại đang rơi vào khủng hoảng. Nhận định này không phải mới xuất hiện. Từ não tướng học (phrenology – ngành nghiên cứu cho rằng kích thước hình dạng não bộ có liên quan đến tính cách và khả năng tâm lý) cho đến phân tâm học, tâm lý học có truyền thống hay bị đặt câu hỏi về tính khoa học của ngành. Thật vậy, triết gia về khoa học, Karl Popper, xem các lý thuyết của Freud là ví dụ điển hình của nguỵ khoa học (pseudoscience), những kiến thức mà không có bài kiểm tra nào có thể chứng minh rằng chúng sai (nhưng chưa chắc có nghĩa là chúng đúng). Mới đây, tâm lý học vừa cho ra đời một loạt những khám phá khó tin mà độ tin cậy về tính khoa học của chúng là một dấu chấm hỏi.
Một trong những kết quả nghiên cứu khó tin đó là thực nghiệm của Daryl Bem vào năm 2011. Nó cho rằng những sự kiện trong tương lai có thể ảnh hưởng tới quá khứ. Bem, giáo sư danh dự tại ĐH Cornell, cho rằng so với việc luyện tập ghi nhớ danh sách các từ trước khi làm thực nghiệm, con người sẽ có xu hướng nhớ những từ này nhiều hơn nếu học chúng sau khi đã thực hiện thực nghiệm nhớ từ. Trong một nghiên cứu khác, ông cho rằng, khi giấu một tấm hình khiêu dâm sau một trong hai tấm màn, con ngừoi có khả năng chọn đúng tấm màn có bức ảnh đó. Và kết quả này được cho là không chỉ đơn thuần vì may mắn.
Ngoài ra, vào năm 1996, John Bargh thuộc ĐH Yale đã báo cáo rằng khi gợi ý trong vô thức về những ‘thiên kiến về ngừoi cao tuổi’ (bằng cách nói ngẫu nhiên những câu có chứa các từ như ‘bingo’ hay ‘Florida’, ở Mỹ có định kiến cho rằng Florida là bang có nhiều người già ở), nghiệm thể sẽ vì vậy mà đi chậm hơn. Thêm vào đó, Roy Baumeister vào năm 1998 còn đưa ra bằng chứng cho rằng chúng ta có chỉ có một lượng ý chí nhất định và nó sẽ bị mất dần mỗi lần chúng ta kháng cự lại một cám dỗ nào đó, ví dụ như ăn chocolate. Trong cùng năm, Ap Dijksterhuis và Ad Van Knippenberg cho rằng chúng ta sẽ chơi giải đố tốt hơn nếu trước đó chúng ta tự liệt kê những phẩm chất của một giáo sư so với việc liệt kê đặc điểm cua một cổ động viên bóng đá quá khích.
Những nghiên cứu này là một trong những nghiên cứu gây tranh cãi nhiều nhất trong tâm lý học. Ít nhất là vì các nhà nghiên cứu gặp khó khăn trong việc tái hiện lại những thực nghiệm này. Những kiểu nghiên cứu này dấy lên lo ngại về phương pháp nghiên cứu mà các nhà tâm lý học đang sử dụng, đồng thời mở rộng ra quan ngại về chính bản thân ngành khoa học về tâm lý.
Không lặp lại
Một khảo sát trên 1500 nhà khoa học được đăng bởi tạp chí Nature cho thấy 24% những người được khảo sát cho biết họ có công bố một nghiên cứu lặp lại (replication) nghiên cứu trước đó với kết quả tương tự và 13% cho biết không thu được cùng kết quả khi thực hiện lại một nghiên cứu trước đây. So sánh với những công bố khoa học của ngành tâm lý trong một thế kỷ trở lại đây, chỉ có 1% các nghiên cứu thử lặp lại các kết quả nghiên cứu trong quá khứ.
Các ban biên tập và những người đánh giá trong các tạp chí khoa học thường hay mắc phải một định kiến mang tính hệ thống khiến cho các tạp chí khoa học tâm lý nổi tiếng trở thành kho chứa những bài báo kì lạ. Nhiều nhà tâm lý bị ám ảnh bởi “chỉ số ảnh hưởng” (impact factors) của tạp chí (chính các tạp chí khoa học cũng bị vậy) – và một cách để làm tăng ảnh hưởng là cho công bố những kết quả “lạ”. Một số các tạp chí có chỉ số ảnh hưởng cao được biết đến do công bố những nghiên cứu khác thường, tuy không bao giờ được thực hiện lại nhưng lại thu hút nhiều sự chú ý cho chính tác giả và tạp chí. Ngược lại, tái xác định kết quả nghiên cứu của người khác qua nghiên cứu lặp lại thường không hấp dẫn, ít gặp và hay bị đánh rớt xuống các tạp chí ít danh tiếng hơn.
Tuy tâm lý học có lịch sử bỏ rơi các nghiên cứu lặp, liệu xu thế có đang thay đổi? Trong năm 2016, một sáng kiến tình nguyện – Dự án tái tạo OSC (OSC Reproducibility project) – đã thử làm lại 100 nghiên cứu tâm lý học. Chỉ một phần ba (36%) các nghiên cứu cho kết quả tương tự nghiên cứu trong quá khứ. Liệu điều này có nghĩa là các kết quả nghiên cứu tâm lý học không đáng tin cậy?
Các dự án tái nghiên cứu thường mang tính chọn lọc, chỉ nhắm tới các nghiên cứu ít tốn kém và không phức tạp để tái thực hiện, hoặc chỉ chọn những nghiên cứu quá khó tin. Các dự án khác như “Many Labs” cho thấy tỉ lệ tái nghiên cứu thành công là 77%. Tất cả các dự án đều chọn mẫu không ngẫu nhiên và tỉ lệ thành công chỉ phản ánh các nghiên cứu được chọn. Ngay cả nếu các dự án chọn mẫu các nghiên cứu ngẫu nhiên, chúng ta cũng không biết được đâu là tỉ lệ tái nghiên cứu đủ tiêu chuẩn trong tâm lý. Đây không phải là vấn đề riêng của tâm lý học. John Ioannidis cho biết: “đa số các kết quả nghiên cứu được công bố đều sai”. Sau cùng, các giả thuyết nghiên cứu là ước đoán khả dĩ nhất mà chúng ta có về hiện tượng, chứ không đơn giản là tập hợp của chân lý.
Thực hành nghiên cứu gây nghi vấn
Có thể nhận thấy sự thất vọng của nhiều nhà tâm lý vì việc công bố bằng chứng phù hợp với giả thuyết nghiên cứu xem ra khá dễ dàng. Một nguyên do khả dĩ của cả các kết quả khác thường và việc thiếu nghiên cứu lặp lại là vì các nhà tâm lý thường sử dụng các “thực hành nghiên cứu gây nghi vấn” (Questionable research practices-QRPs)
Vào năm 2012, một khảo sát trên 2000 nhà tâm lý ở Hoa Kỳ cho thấy họ hay sử dụng QRPs. 67% thừa nhận họ báo cáo một cách có lựa chọn các nghiên cứu “thành công”, trong khi 74% không tiết lộ đầy đủ tất cả các thang đo được sử dụng. Khảo sát cũng cho thấy 71% tiếp tục thu thập dữ liệu cho đến khi kết quả có ý nghĩa xuất hiện và 54% báo cáo các kết quả không được dự tính từ trước nhưng lại cố tình viết rằng mình đã dự tính chúng trước khi làm nghiên cứu. 58% loại bỏ bớt dữ liệu sau khi phân tích. Đáng ngạc nhiên, hơn một phần ba công nhận, ít nhất một lần, họ nghi hoặc tính chính trực trong nghiên cứu của chính mình và 1.7% thừa nhận mình làm giả dữ liệu.
Vấn đề của tâm lý học hiện tại đã tồn tại từ lâu và mang tính văn hoá. Các nhà nghiên cứu, đánh giá, biên tập, các tạp chí và phương tiện truyền thông, tất cả đều ưu tiên và hưởng lợi từ chính nhiệm vụ “đi tìm tính mới trong nghiên cứu”. Chính định kiến mang tính hệ thống này, đi kèm với việc thiếu thống nhất trong các nguyên tắc nền tảng ở một số lĩnh vực tâm lý - một cách vô ý và hữu ý - đã khiến cho thực hành gây nghi vấn bùng phát. Các dự án lặp lại các nghiên cứu trên quy mô lớn không thể giải quyết vấn nạn này mà thậm chí có thể làm trầm trọng thêm tình hình bằng cách giới thiệu các nghiên cứu lặp lại như một phương tiện đặc biệt để nhắm đến các nghiên cứu khó tin. Nghiên cứu lạp lại – dù thành công hay thất bại – cần phải là một phần căn bản của khoa học thông thường và cần trở nên thông dụng lẫn được trân trọng hơn bởi các nhà tâm lý và các tạp chí tâm lý.
Dịch: Hành Lang Tâm Lý


Đọc tiếp

Thứ Ba, 21 tháng 11, 2017

LIỆU THỜI GIAN SỬ DỤNG CÁC THIẾT BỊ ĐIỆN TỬ CÓ LIÊN HỆ ĐẾN TRẦM CẢM VÀ TỰ SÁT?

6
Sử dụng thiết bị điện tử ở thanh thiếu niên

Khảo sát trên nửa triệu thiếu niên ở Mỹ cho thấy một xu hướng đáng lo ngại.
Nghiên cứu mới cho thấy, thời gian sử dụng các thiết bị điện tử có khả năng là nguyên nhân làm tăng trầm cảm và hành vi tự sát ở người trẻ. Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Clinical Psychological Science (Twenge et al., 2017). Link bài báo: http://journals.sagepub.com/doi/10.1177/2167702617723376

Nữ giới đặc biệt có khả năng chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực khi dành qua nhiều thời gian sử dụng điện thoại thông minh, máy tính bảng hay máy tính thông thường.
Đó là kết quả của khảo sát trên 500 ngàn thiếu niên tại Hoa Kỳ. Nghiên cứu cho thấy tỉ lệ tự sát ở nữ giới từ 13-18 tuổi tăng 65% trong khoảng năm 2010-2015. Số lượng các thiếu niên nữ có trầm cảm nặng cũng tăng 58% trong cùng giai đoạn.
Giáo sư Jean Twenge, tác giả nghiên cứu, cho biết:
“Những con số gia tăng về các vấn đề sức khoẻ tâm thần ở độ tuổi thiếu niên rất đáng báo động. Các bạn thiếu niên cho thấy đang gạp phải nhiều khó khăn và chúng ta cần xem xét chúng một cách nghiêm túc. Khi lần đầu thấy những con số gia tăng đột biến về những vấn đề sức khoẻ tâm thần, tôi không dám chắc đâu là nguyên nhân dẫn đến chúng. Tuy nhiên, cũng trong khảo sát đó, các bạn trẻ cũng được đặt câu hỏi về việc các bạn sử dụng thời gian rảnh như thế nào. Trong khoảng 2010-2015, các bạn thiếu niên tăng thời gian sử dụng các thiết bị điện tử và giảm thời gian dành cho các hoạt động khác. Đó là thay đổi lớn nhất trong cuộc sống của các bạn trong khoảng thời gian 5 năm trở lại đây, và đó không phải là một phương thức tích cực cho sức khoẻ tâm thần.”
Nghiên cứu cho thấy những bạn sử dụng các thiết bị điện tử nhiều hơn 5 tiếng một ngày có xu hướng tự sát cao gấp đôi những bạn chỉ sử dụng một tiếng mỗi ngày trở xuống.
Giáo sư Twenge đề xuất hạn chế thời gian sử dụng khoảng một đến hai tiếng mỗi ngày nhằm giảm thiểu các nguy cơ. Giáo sư Twenge chia sẻ:
“Dù chúng ta không thể nói chắc chắn việc tăng thời gian sử dụng điện thoại thông minh làm gia tăng các vấn đề sức khoẻ tâm thần, đó vẫn là thay đổi lớn nhất trong cuộc sống của các bạn thiếu niên tử năm 2010 đến 2015.”
Do thiết kế của nghiên cứu, kết quả không cho phép chúng ta kết luận liệu việc gia tăng sử dụng thiết bị điện tử có gây ra trầm cảm và tự sát hay không. Cũng có khả năng những bạn thiếu niên có trầm cảm nên sẽ sử dụng các thiết bị điện tử nhiều hơn.
Trên một góc nhìn tích cực hơn, nghiên cứu cho thấy trầm cảm và tự sát được giảm thiểu khi có liên hệ với:
§  Tập thể dục và chơi thể thao
§  Làm bài tập
§  Trò chuyện trực tiếp với người khác trong cuộc sống thực tế

Tuy nhiên, trong một nghiên cứu khác trên tạp chí Psychiatry Quarterly, các tác giả cho rằng, thanh thiếu niên có thể sử dụng các thiết bị điện tử đến 6 tiếng mỗi ngày miễn là có tập thể dục và kết quả học tập được đảm bảo.

Nghiên cứu trong Khảo sát Hành vi Nguy cơ Thanh Thiêú niên Florida 2013 tìm hiểu thời gian sử dụng các thiết bị điện tử, thời gian ngủ, điểm số học tập, thói quen ăn uống của gia đình, trầm cảm, hoạt động thể chất và hành vi nguy cơ của 6089 thiếu niên. Kết quả cho thấy việc sử dụng thiết bị điện tử 6 tiếng một ngày là không quá đáng ngại. Tác giả nghiên cứu, Christopher J Ferguson, thuộc Bộ môn Tâm lý học trường ĐH Stetson Florida cho biết:

“Dựa trên nghiên cứu này, cũng như một nghiên cứu lớn khác của Andrew Przybylski tại ĐH Oxford, có vẻ như việc sử dụng lên tới 6 tiếng mỗi ngày là khá bình thường và không có liên hệ tới bất kỳ hệ quả tiêu cực nào.” Ferguson nói thêm, “Các thiết bị điện tử nay đã tích hợp mật thiết và cuộc sống của chúng ta, khái niệm về thiết bị điện tử ngày nay đã khác rất nhiều so với 20 năm trước.”
“Miễn là thiếu niên vẫn học tốt, đảm bào giấc ngủ và tập thể dục – với đa số các bạn- sử dụng thiết bị điện tử sẽ không có hệ quả nghiêm trọng nào.”
Sẽ vẫn hợp lý nếu bạn yêu cầu trẻ không dùng điện thoại một tiếng trước khi ngủ và không để các thiết bị điện tử trong phòng ngủ, đồng thời cổ vũ trẻ tập thể dục nhiều hơn. Việc bàn luận với trẻ về những nguy cơ của mạng truyền thông xã hội cũng rất quan trọng


Hành Lang Tâm Lý dịch và Tổng hợp từ:

Các bài viết khác cùng chủ đề:

ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH CÓ KHIẾN CHÚNG TA TRỞ THÀNH NHỮNG NGƯỜI LƯỜI SUY NGHĨ?
Link: http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/04/dien-thoai-di-dong-tac-hai-tu-duy.html

(NGƯNG) KẾT NỐI:
NUÔI DẠY MỘT THẾ HỆ ONLINE AN TOÀN VÀ TỬ TẾ:


Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter