Thứ Sáu, 12 tháng 9, 2014
Thứ Năm, 11 tháng 9, 2014
CHỜ ĐỢI LÀ HẠNH PHÚC? – MUA SẮM “TRẢI NGHIỆM” LÀM BẠN THÍCH THÚ HƠN MUA ĐỒ ĐẠC.
0
Đọc tiếp
Tiền chỉ có thể mua
được hạnh phúc khi bạn sử dụng tiền đúng cách. Các nghiên cứu gần đây cho
thấy chúng ta đánh giá giá trị của “trải nghiệm” trong các kì nghỉ, những bữa
ăn thịnh soạn cao hơn so với giá trị vật chất của đồ vật như xe hơi và quần áo.
Thậm chí, trong nghiên cứu mới xuất bản trên Psychological
Science,
các nhà nghiên cứu cho biết, người tiêu dùng thật sự thích việc chờ đợi để được trải nghiệm nhiều hơn.
Trong phần đầu của
nghiên cứu có tựa đề "Chờ đợi Merlot," (Merlot là một loại
rượu nho mà càng đợi lâu uống càng ngon) 97 sinh viên được yêu cầu tưởng tượng mình
sẽ mua một loại hàng hóa vật chất hay mua một dạng hàng hóa “trải nghiệm” và đánh
giá cảm xúc của bản thân là phấn khích hay mất kiên nhẫn. Trong khi đa phần các
sinh viên nhìn chung cho thấy những cảm xúc tích cực ở cả hai loại mua sắm, thì
những thứ như vé đi xem ca nhạc hay các kì nghỉ được mô tả là đem lại cảm xúc
hào hứng hơn việc nghĩ về máy tính xách tay hay quần áo, những vật dụng mà các
đối tượng cảm thấy mất kiên nhẫn để mua chúng.
Một phần khác của
nghiên cứu khảo sát 2266 người trưởng thành thông qua iPhones tại những thời
điểm ngẫu nhiên; trong đó hỏi là liệu ngay hiện tại, họ có đang nghĩ đến việc mua
một thứ gì đó trong tương lai hay không (20% người nói có). Nghĩ về việc mua
sắm “trải nghiệm” khiến họ cảm thấy hạnh phúc hơn so với lúc không hề nghĩ gì
đến mua sắm; trong khi mua sắm một món đồ đạc cụ thể lại không khiến họ thay
đổi trạng thái cảm xúc.
Điều này khá dễ hiểu
nếu bạn nghĩ như thế này: Một hàng hóa vật chất là thứ mà chúng ta sẽ sử dụng
cho đến khi nó lỗi thời, nhưng một trải nghiệm, chúng ta đều biết, là điều sẽ
mau kết thúc. Khi chúng ta thưởng thức mùi vị của sự chờ đợi nơi một trải
nghiệm, chúng ta đang tự giúp mình một việc – biến chờ đợi thành chính một phần trải nghiệm.
Mặt khác, chờ đợi một chiếc
iPhone mới chẳng mang lại cảm giác gì ngoại trừ việc cảm thấy phí thời gian cho
cái iPhone cũ.
Các
nhà nghiên cứu cho rằng tập trung nhiều hơn vào những trải nghiệm có thể lả
chìa khóa dẫn đến hạnh phúc. Điều này không những có thể hỗ trợ cho những lựa
chọn của cá nhân, mà còn có thể mang tới những ứng dụng phổ quát hơn.
“Nghiên cứu của chúng tôi cũng rất quan trọng đối
với xã hội”- Nhà nghiên cứu tâm lý học và là tác giả của nghiên cứu đang làm
việc tại ĐH Cornell- Thomas Gilovich- đề cập trong một tuyên bố, “Bởi vì nó cho thấy,
cũng như tiêu thụ vật chất, sức khỏe tinh thần và thể chất có thể được thúc đẩy
bằng việc cung cấp cơ sở hạ tầng mang lại những trải nghiệm - như công viên, đường
mòn đi bộ, bờ biển.”
Thứ Ba, 9 tháng 9, 2014
NGHIÊN CỨU MỚI LÝ GIẢI HÀNH VI NGUY CƠ NƠI THANH THIẾU NIÊN CÓ LIÊN QUAN TỚI NÃO BỘ
0
Đọc tiếp
Các bạn nam thiếu niên dễ thực hiện những hành vi nguy cơ là
điều mà đa số chúng ta ai cũng biết. Mới đây, một loạt các nghiên cứu đã tìm
hiểu những cơ chế não bộ đăc thù giúp lý giải những điều diễn ra trong trí óc
của các bạn trai tuổi vị thành niên.
ĐH Y Bang Florida cùng nhà khoa học thần kinh Pradeep Bhide đã
tập hợp những nhà nghiên cứu hàng đầu khắp thế giới nhằm tìm kiếm lý do thanh
thiếu niên - đặc biệt là nam giới – thường cư xử thất thường.
Kết quả được đúc kết từ 19 nghiên cứu, tiếp cận câu hỏi trên
thông qua nhiều ngành khoa học, bao gồm tâm lý học, hóa chất thần kinh, chụp
hình não, khoa học thần kinh lâm sàng và sinh học thần kinh. Các nghiên cứu được
xuất bản trong phần đặc biệt của Khoa học Thần kinh Phát triển, “Bộ não Vị
thành niên: suy nghĩ khác?”
Bhide nói, “Các nhà tâm lý, tâm thần, giáo dục, khoa học thần
kinh, chuyên gia tư pháp hình sự cùng các bậc phụ huynh hàng ngày đều phải chật
vật để hiểu và giải quyết những bí ẩn trong hành vi nguy cơ của tuổi dậy thì,”
“Những hành vi này không chỉ ảnh khiến các bạn trẻ vị thành niên tự đưa mình
vào những nguy hiểm trầm trọng và trường kỳ, mà nhìn chung còn tác động đến cả
gia đình và xã hội”.
“Những gánh nặng cảm xúc và kinh tế đến từ những hành vi này là
rất lớn. Nghiên cứu được mô tả trong tập san đưa ra những manh mối về nguồn gốc
của các hành vi thiếu thích ứng và cách thức cá nhân có thể đưa ra những phương
pháp đối đầu, tránh né hay điều chỉnh những hành vi trên.”
Sau đây là vài ví dụ về những phát hiện được xuất bản trong sách
giúp chúng ta có một cái nhìn sâu sắc hơn vê hoạt động bên trong của não bộ một
nam thiếu niên:
• Không giống trẻ em hay người lớn, phần não bộ kiểm soát cảm xúc
ở nam thiếu niên cho thấy tăng cường hoạt động trước những mối đe dọa. Trong
một nghiên cứu, kết quả từ máy quét cộng hưởng từ tiết lộ mức hoạt động của
phần não hệ viền nơi các bạn nam tuổi dậy thì trước hiểm họa khác biệt rõ ràng
so với đàn ông trưởng thành, ngay cả khi các bạn được dặn là không cần phản ứng
lại với chúng.
• Sử dụng những đo lường về hoạt động não bộ, một nhóm nghiên cứu
khác phát hiện rằng nam thiếu niên đa phần miễn nhiễm trước sự đe dọa trừng
phạt nhưng lại cực kỳ nhạy cảm với khả năng “thắng lớn” trong bài bạc. Kết quả
này nêu lên câu hỏi về tính hiệu quả của trừng phạt như một công cụ ngăn chặn
hành vi lệch lạc và nguy hiểm nơi trẻ nam tuổi dậy thì.
• Một nghiên cứu khác trình bày việc một phân tử được biết đến với
vai trò quan trọng trong phát triển sợ hãi trước những tình huống nguy hiểm
hoạt động ít tích cực hơn nơi não bộ nam thiếu niên. Những phát hiện này cho
thấy sự khác biệt về hóa chất thần kinh trong não bộ trẻ vị thành niên và người
trưởng thành, đây có thể là nguyên nhân của những hành vi phức tạp được thực
hiện bởi trẻ tuổi dậy thì.
“Các nghiên cứu mới cho thấy nền tảng sinh học thần kinh của một
số những hành vi “nổi tiếng” bất thường nơi các bạn tuổi dậy thì”, Bhide cho
biết, “Căng thẳng, thay đổi hormone, sự phức tạp trong môi trường xã hội cùng
áp lực từ bè bạn, tất cả đều góp phần tạo nên những thách thức cho quá trình
đồng hóa mà các bạn tuổi teen phải đối mặt.
“Các nghiên cứu này cố gắng phân tách, kiểm tra và thông suốt một
số nguyên nhân tiềm ẩn của câu hỏi hóc búa nơi trẻ vị thành niên. Nghiên cứu
cho thấy cách chúng ta tương tác tốt hơn với trẻ tuổi dậy thì như thế nào trong
và ngoài gia đình, cách thiết kế những chiến lược giáo dục và cách xử sự hay
điều chỉnh tối ưu hành vi thiếu thích ứng nơi trẻ vị thành niên.”
Bhide ấp ủ thực hiện và chủ biên tập sách “Bộ
não Vị thành niên: suy nghĩ khác?”. Các đồng chủ biên gồm có Barry
Kasofsky và B.J. Casey, cả hai đều đến từ Trường Y Weill, ĐH Cornell. Sách được
xuất bản bởi NXB Y học và Khoa học Karger, Basel, Thụy Sĩ.
Thứ Hai, 8 tháng 9, 2014
Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2014
LIỆU CÓ HAY KHÔNG BẰNG CHỨNG KHOA HỌC VỀ VIỆC KÝ ỨC BỊ DỒN NÉN?
0
Đọc tiếp
| Lớp học của GS. Freud. Bài 1 - VÔ THỨC "Tôi cần một người tình nguyện, có ai không?" |
ERIC W. DOLAN 24/8/2014
Một nghiên cứu khoa học vừa cho thấy “cuộc chiến ký ức”
giữa các nhà tâm lý về khái niệm hồi ức bị dồn nén của Freud, hiện tượng xuất
hiện khi sự kiện sang chấn bị đè nén trong tâm trí một cách vô thức, vẫn chưa
đến hồi kết.
Vào thập niên 90, tranh luận lên đến đỉnh điểm khi một số
tâm lý gia tuyên bố họ “hồi phục” được nơi những bệnh nhân của mình các ký ức
về lạm dụng tình dục trẻ em và lạm dụng nghi thức thờ quỷ (satanic ritual
abuse), hai yếu tố dẫn đến hiện tượng “hoảng loạn ma quỷ” (satanic panic).
Tuy nhiên, tranh cãi ở quy mô nhỏ hơn vẫn tiếp tục diễn
ra. Mối thâm thù khoa học bùng phát gần đây nhất khi nghiên cứu mang tên “ ‘Cuộc chiến Ký ức’ liệu đã kết thúc?
Khác biệt về Niềm tin vào Ký ức bị Dồn nén giữa Nhà khoa học và Nhà thực hành
chuyên môn” được xuất bản trong tạp chí Psychological Science vào
tháng Hai.
Nhóm nghiên cứu cũng tuyên bố họ có bằng chứng về “khoảng
cách” trên.
Patihis và đồng nghiệp giải thích: “Mặc cho sự thay đổi
thái độ rõ ràng này, phần lớn những nhà chuyên môn không làm nghiên cứu vẫn
công nhận sự có mặt của ký ức dồn nén ở mức độ nào đó và tin vào khả năng “khơi
gợi” nơi phương thức trị liệu của mình,” “Đáng chú ý ở chỗ chúng tôi tìm ra một
vực sâu ngăn cách niềm tin giữa các tâm lý gia tập trung vào nghiên cứu và
những nhà thực hành hay người không chuyên.”
Nhóm nghiên cứu cho rằng khác biệt đến từ việc những nhà
tâm lý lâm sàng xem trọng trực giác và quan sát của mình hơn bằng chứng khoa
học.
“Một vài nhà lâm sàng có thể dựa vào những tường thuật về
việc phục hồi ký ức với mức tự tin cao như bằng chứng khởi đầu về độ chính xác
của những ký ức bị dồn nén, trong khi đa phần các nhà nghiên cứu lại yêu cầu
những lý luận kiểu này phải qua nghiên cứu có kiểm soát.”
Tuy
nhiên, nhà nghiên cứu người London Chris R. Brewin và Bernice Andrews lại lập
luận trong
bài nhận xét được xuất bản vào tháng Tám rằng Patihis và cộng sự đã
sai lầm khi tuyên bố sự khác biệt này có tồn tại. Họ cho rằng giả định “sự dồn
nén là một khái niệm phi khoa học” và “những nhà thực hành tâm lý - lâm sàng
chưa được huấn luyện đầy đủ các nghiên cứu về trí nhớ” là không đúng. Brewin và
Andrews bắt đầu bài phê bình nghiên cứu của mình bằng việc quy trách những nhà
khoa học đã không tính đến hai loại dồn nén khác nhau.
“Freud đã chỉ ra nhiều lần từ đầu và xuyên suốt tác phẩm
của mình rằng ông thu nạp hai ý nghĩa khá khác biệt trong cùng một thuật ngữ
dồn nén, một cái có liên quan đến phòng vệ hoàn toàn vô thức và một cái là
chiến lược phòng vệ có ý thức. Trong khi các cố gắng tìm kiếm bằng chứng thực
nghiệm về phiên bản vô thức đa phần không thành công thì loại dồn nén có ý thức
lại tương ứng với chiến lược ta sử dụng hàng ngày, ví dụ, những suy nghĩ tránh
né hay bác bỏ.”
Họ nói, sự tồn tại của những ý nghĩ tránh né hay bác bỏ
trong các rối loạn sức khỏe tâm thần từ lâu được củng cố bởi những nghiên cứu
đã xuất bản.
“Để kết luận, chúng tôi cho rằng dữ liệu mà Patihis và
cộng sự ghi nhận không giúp xác định sự phân chia quan trọng trong quan điểm
của những nhà nghiên cứu và các tâm lý gia lâm sàng mà chỉ cho thấy sự khác
biệt giữa nhà lâm sàng và những nhà thực hành khác. Trong đó, nhà lâm sàng
trình bày những chứng cứ rõ ràng về việc họ thích ứng thực hành của mình theo
những thay đổi trong cơ sở bằng chứng. Với những bằng chứng phong phú rằng các
sự kiện như cái chết, giết chóc và tấn công tình dục đôi khi có thể bị quên
lãng, trong tương lai, chúng tôi mong sẽ thấy được những nghiên cứu với trọng
tâm rộng hơn tập trung vào những lý giải nhận thức khả thi đối với hiện tượng
lãng quên các sự kiện sang chấn.”
Tuy vậy, trong bài hồi đáp phê bình, Patihis và đồng sự nhấn mạnh rằng nghiên cứu của họ có
phân biệt ký ức bị dồn nén cách vô thức và việc loại bỏ có ý thức những ký ức
đau thương.
Họ viết trong bình luận rằng, “chúng tôi tin rằng trí
nhớ, dù là câu chữ hay thậm chí những sự kiện sang chấn, có thể không được nghĩ
đến trong một khoảng thời gian rồi sau đó mới được nhớ lại, có lẽ là đi kèm một
dấu hiệu nào đó,”. “Nhưng thay vào đó, nghi ngờ của chúng tôi đặt ở tình huống
sau: Một thân chủ đến trị liệu với một triệu chứng tâm lý, ví như trầm cảm hay
rối loạn ăn uống, đồng thời họ không hề có ký ức gì về việc mình bị lạm dụng,
nhưng sau khi sử dụng mở rộng những kỹ thuật khơi gợi trí nhớ (v.d thôi miên,
tưởng tượng có hướng dẫn, câu hỏi định hướng), họ bắt đầu nhớ lại thời gian
sang chấn nặng nề. Chúng ta không có bất kỳ bằng chứng khoa học đáng tin cậy
nào chứng minh trí nhớ hoạt động kiểu đó.”
“Kết luận, với việc chúng tôi đã định nghĩa đầy đủ về trí
nhớ bị đè nén và làm rõ với người tham gia rằng chúng tôi tìm hiểu về niềm tin
có liên quan đến việc ngăn cản những ký ức sang chấn một cách vô thức, chúng
tôi vẫn bảo vệ kết quả của mình.”
http://www.psypost.org/2014/08/memory-wars-scientific-evidence-repressed-memories-27571
Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2014
KHUÔN MẶT CÀNG NAM TÍNH THÌ CHẤT LƯỢNG TINH TRÙNG CÀNG THẤP
0
Đọc tiếp
| Tượng David - hình mẫu nam tính của Michel Angelo |
ERIC W. DOLAN 2/9/2014
Một
nghiên cứu mới trên Tạp chí Sinh học tiến hóa đã tìm ra mối liên hệ giữa mức độ
nam tính thể hiện trên khuôn mặt và chất lượng tinh trùng – và kết quả hoàn
toàn trái ngược với những gì chúng ta thường nghĩ.
Nghiên cứ
phát hiện rằng các quý ông có nhiều đặc điểm nam tính trên khuôn mặt thường có
chất lượng tinh trùng kém hơn.
Trong nghiên cứu, 64 phụ nữ và 24 nam giới đã đánh giá
mức độ thu hút của khuôn mặt 50 người đàn ông từ 18 đến 36 tuổi. Các nhà nghiên
cứu cũng phân tích 13 thông số đo lường của những khuôn mặt trên nhằm xác định
mức độ nam tính thể hiện qua diện mạo và đồng thời kiểm tra chất lượng tinh
trùng của họ.
Nhóm nghiên cứu viết: “chất lượng tinh trùng của nam giới
liên hệ âm tính với chiều dài xương gò má. Số đo này được cho là biểu hiện của
đặc điểm nam tính khi cho thấy có quan hệ dương tính với mức độ testosterone ở
đàn ông và đồng thời dự đoán được số lượng những nét hành vi gắn với hormone
đó, ví dụ tính gây hấn, mức thống trị, sức mạnh thể lý, địa vị, thành công kinh
tế và cả mức độ lừa dối.”
Theo nhóm nghiên cứu giải thích, việc tăng mức
testosterone được chứng minh có liên hệ với khiếm khuyết trong sản xuất tinh
trùng, đồng thời kết quả này cho thấy quan hệ qua lại giữa việc đầu tư vào
những dấu hiệu tính dục thứ cấp (như mức nam tính của khuôn mặt) và khả năng
sinh sản.
“Lý thuyết cạnh tranh tinh trùng cho rằng nam giới phải
đối mặt với việc đánh đổi sự đầu tư vào những nét thu hút nữ giới hay vào khả
năng sinh sản. Vì lẽ đó, những cá thể nam giới đầu tư đáng kể lượng “tài
nguyên” của họ vào việc thu hút bạn tình thì sẽ còn lại ít “nguồn lực” khả dụng
để sản xuất tinh trùng “chất lượng cao”. Sự tồn tại của cơ chế trao đổi này đã
được minh chứng trong một số nghiên cứu thực nghiệm ở nhiều chủng loại động vật
khác nhau.”
Đáng chú ý, nhìn chung, so với đánh giá của nữ giới, nam
giới thường cho rằng hình ảnh các gương mặt thu hút hơn. Điều này cho thấy, so
với phụ nữ, đàn ông hay đánh giá quá mức sức hút của những người đàn ông khác.
http://www.psypost.org/2014/09/looks-can-deceiving-manly-face-mean-poorer-semen-quality-27822
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é
Popular Posts
-
Khác biệt trong tri giác Slate Pascal Wallisch Làm cách nào mà hai người cùng nhìn vào một bức ảnh và lại thấy hai thứ khác nhau? ...
-
Vygotsky và trẻ Saul McLeod published 2007 updated 2014 Để hiểu được những học thuyết của Vygotsky về sự phát triển nhận thức, ch...
-
ĐH MANCHESTER 31/01/2015 Theo một nghiên cứu của ĐH Manchester cùng Trung tâm Nghiên cứu Xã hôi NatCen, người cao tuổi vẫn tiếp ...
-
Dr Jeremy Dean Các nhà khoa học tại ĐH Zurich và Fribourg, Thụy Sĩ mong muốn tìm hiểu xem liệu sinh viên học tiếng Hà Lan có thể nâng ca...
-
Quyết tâm cho năm mới Alina Dizik Trong bốn năm qua, tôi luôn có cùng một quyết tâm cho năm mới: Tôi sẽ không bị chia trí bởi tin nhắ...
-
Xã hội hóa Tính xã hội của chúng ta chỉ là sự tình cờ của não bộ hay nó còn chứa đựng những điều sâu xa hơn? Xuất bản ngày 23/...
-
Phần 1: MỘT VÀI SO SÁNH VỚI PIAGET http://hanhlangtamly.blogspot.com/2014/12/hoc-thuyet-phat-trien-cua-lev-vygotsky.html Phần 2: HA...



