Thứ Năm, 11 tháng 9, 2014

CHỜ ĐỢI LÀ HẠNH PHÚC? – MUA SẮM “TRẢI NGHIỆM” LÀM BẠN THÍCH THÚ HƠN MUA ĐỒ ĐẠC.

0

Rachel Feltman August 25

Tiền chỉ có thể mua được hạnh phúc khi bạn sử dụng tiền đúng cách. Các nghiên cứu gần đây  cho thấy chúng ta đánh giá giá trị của “trải nghiệm” trong các kì nghỉ, những bữa ăn thịnh soạn cao hơn so với giá trị vật chất của đồ vật như xe hơi và quần áo. Thậm chí, trong nghiên cứu mới xuất bản trên Psychological Science, các nhà nghiên cứu cho biết, người tiêu dùng thật sự thích việc chờ đợi để được trải nghiệm nhiều hơn.
Trong phần đầu của nghiên cứu có tựa đề "Chờ đợi Merlot," (Merlot là một loại rượu nho mà càng đợi lâu uống càng ngon) 97 sinh viên được yêu cầu tưởng tượng mình sẽ mua một loại hàng hóa vật chất hay mua một dạng hàng hóa “trải nghiệm” và đánh giá cảm xúc của bản thân là phấn khích hay mất kiên nhẫn. Trong khi đa phần các sinh viên nhìn chung cho thấy những cảm xúc tích cực ở cả hai loại mua sắm, thì những thứ như vé đi xem ca nhạc hay các kì nghỉ được mô tả là đem lại cảm xúc hào hứng hơn việc nghĩ về máy tính xách tay hay quần áo, những vật dụng mà các đối tượng cảm thấy mất kiên nhẫn để mua chúng.
Một phần khác của nghiên cứu khảo sát 2266 người trưởng thành thông qua iPhones tại những thời điểm ngẫu nhiên; trong đó hỏi là liệu ngay hiện tại, họ có đang nghĩ đến việc mua một thứ gì đó trong tương lai hay không (20% người nói có). Nghĩ về việc mua sắm “trải nghiệm” khiến họ cảm thấy hạnh phúc hơn so với lúc không hề nghĩ gì đến mua sắm; trong khi mua sắm một món đồ đạc cụ thể lại không khiến họ thay đổi trạng thái cảm xúc.
Điều này khá dễ hiểu nếu bạn nghĩ như thế này: Một hàng hóa vật chất là thứ mà chúng ta sẽ sử dụng cho đến khi nó lỗi thời, nhưng một trải nghiệm, chúng ta đều biết, là điều sẽ mau kết thúc. Khi chúng ta thưởng thức mùi vị của sự chờ đợi nơi một trải nghiệm, chúng ta đang tự giúp mình một việc – biến chờ đợi thành chính một phần trải nghiệm.
Mặt khác, chờ đợi một chiếc iPhone mới chẳng mang lại cảm giác gì ngoại trừ việc cảm thấy phí thời gian cho cái iPhone cũ.
Các nhà nghiên cứu cho rằng tập trung nhiều hơn vào những trải nghiệm có thể lả chìa khóa dẫn đến hạnh phúc. Điều này không những có thể hỗ trợ cho những lựa chọn của cá nhân, mà còn có thể mang tới những ứng dụng phổ quát hơn.
 “Nghiên cứu của chúng tôi cũng rất quan trọng đối với xã hội”- Nhà nghiên cứu tâm lý học và là tác giả của nghiên cứu đang làm việc tại ĐH Cornell- Thomas Gilovich- đề cập trong một tuyên bố, “Bởi vì nó cho thấy, cũng như tiêu thụ vật chất, sức khỏe tinh thần và thể chất có thể được thúc đẩy bằng việc cung cấp cơ sở hạ tầng mang lại những trải nghiệm - như công viên, đường mòn đi bộ, bờ biển.”


Đọc tiếp

Thứ Ba, 9 tháng 9, 2014

NGHIÊN CỨU MỚI LÝ GIẢI HÀNH VI NGUY CƠ NƠI THANH THIẾU NIÊN CÓ LIÊN QUAN TỚI NÃO BỘ

0

Các bạn nam thiếu niên dễ thực hiện những hành vi nguy cơ là điều mà đa số chúng ta ai cũng biết. Mới đây, một loạt các nghiên cứu đã tìm hiểu những cơ chế não bộ đăc thù giúp lý giải những điều diễn ra trong trí óc của các bạn trai tuổi vị thành niên.
ĐH Y Bang Florida cùng nhà khoa học thần kinh Pradeep Bhide đã tập hợp những nhà nghiên cứu hàng đầu khắp thế giới nhằm tìm kiếm lý do thanh thiếu niên - đặc biệt là nam giới – thường cư xử thất thường.
Kết quả được đúc kết từ 19 nghiên cứu, tiếp cận câu hỏi trên thông qua nhiều ngành khoa học, bao gồm tâm lý học, hóa chất thần kinh, chụp hình não, khoa học thần kinh lâm sàng và sinh học thần kinh. Các nghiên cứu được xuất bản trong phần đặc biệt của Khoa học Thần kinh Phát triển, “Bộ não Vị thành niên: suy nghĩ khác?”
Bhide nói, “Các nhà tâm lý, tâm thần, giáo dục, khoa học thần kinh, chuyên gia tư pháp hình sự cùng các bậc phụ huynh hàng ngày đều phải chật vật để hiểu và giải quyết những bí ẩn trong hành vi nguy cơ của tuổi dậy thì,” “Những hành vi này không chỉ ảnh khiến các bạn trẻ vị thành niên tự đưa mình vào những nguy hiểm trầm trọng và trường kỳ, mà nhìn chung còn tác động đến cả gia đình và xã hội”.
“Những gánh nặng cảm xúc và kinh tế đến từ những hành vi này là rất lớn. Nghiên cứu được mô tả trong tập san đưa ra những manh mối về nguồn gốc của các hành vi thiếu thích ứng và cách thức cá nhân có thể đưa ra những phương pháp đối đầu, tránh né hay điều chỉnh những hành vi trên.”
Sau đây là vài ví dụ về những phát hiện được xuất bản trong sách giúp chúng ta có một cái nhìn sâu sắc hơn vê hoạt động bên trong của não bộ một nam thiếu niên:
• Không giống trẻ em hay người lớn, phần não bộ kiểm soát cảm xúc ở nam thiếu niên cho thấy tăng cường hoạt động trước những mối đe dọa. Trong một nghiên cứu, kết quả từ máy quét cộng hưởng từ tiết lộ mức hoạt động của phần não hệ viền nơi các bạn nam tuổi dậy thì trước hiểm họa khác biệt rõ ràng so với đàn ông trưởng thành, ngay cả khi các bạn được dặn là không cần phản ứng lại với chúng.
• Sử dụng những đo lường về hoạt động não bộ, một nhóm nghiên cứu khác phát hiện rằng nam thiếu niên đa phần miễn nhiễm trước sự đe dọa trừng phạt nhưng lại cực kỳ nhạy cảm với khả năng “thắng lớn” trong bài bạc. Kết quả này nêu lên câu hỏi về tính hiệu quả của trừng phạt như một công cụ ngăn chặn hành vi lệch lạc và nguy hiểm nơi trẻ nam tuổi dậy thì.
• Một nghiên cứu khác trình bày việc một phân tử được biết đến với vai trò quan trọng trong phát triển sợ hãi trước những tình huống nguy hiểm hoạt động ít tích cực hơn nơi não bộ nam thiếu niên. Những phát hiện này cho thấy sự khác biệt về hóa chất thần kinh trong não bộ trẻ vị thành niên và người trưởng thành, đây có thể là nguyên nhân của những hành vi phức tạp được thực hiện bởi trẻ tuổi dậy thì.
“Các nghiên cứu mới cho thấy nền tảng sinh học thần kinh của một số những hành vi “nổi tiếng” bất thường nơi các bạn tuổi dậy thì”, Bhide cho biết, “Căng thẳng, thay đổi hormone, sự phức tạp trong môi trường xã hội cùng áp lực từ bè bạn, tất cả đều góp phần tạo nên những thách thức cho quá trình đồng hóa mà các bạn tuổi teen phải đối mặt.
“Các nghiên cứu này cố gắng phân tách, kiểm tra và thông suốt một số nguyên nhân tiềm ẩn của câu hỏi hóc búa nơi trẻ vị thành niên. Nghiên cứu cho thấy cách chúng ta tương tác tốt hơn với trẻ tuổi dậy thì như thế nào trong và ngoài gia đình, cách thiết kế những chiến lược giáo dục và cách xử sự hay điều chỉnh tối ưu hành vi thiếu thích ứng nơi trẻ vị thành niên.”
Bhide ấp ủ thực hiện và chủ biên tập sách “Bộ não Vị thành niên: suy nghĩ khác?”. Các đồng chủ biên gồm có Barry Kasofsky và B.J. Casey, cả hai đều đến từ Trường Y Weill, ĐH Cornell. Sách được xuất bản bởi NXB Y học và Khoa học Karger, Basel, Thụy Sĩ.
Đọc tiếp

Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2014

LIỆU CÓ HAY KHÔNG BẰNG CHỨNG KHOA HỌC VỀ VIỆC KÝ ỨC BỊ DỒN NÉN?

0
Lớp học của GS. Freud.
Bài 1 - VÔ THỨC
"Tôi cần một người tình nguyện, có ai không?"

ERIC W. DOLAN 24/8/2014

Một nghiên cứu khoa học vừa cho thấy “cuộc chiến ký ức” giữa các nhà tâm lý về khái niệm hồi ức bị dồn nén của Freud, hiện tượng xuất hiện khi sự kiện sang chấn bị đè nén trong tâm trí một cách vô thức, vẫn chưa đến hồi kết.
Vào thập niên 90, tranh luận lên đến đỉnh điểm khi một số tâm lý gia tuyên bố họ “hồi phục” được nơi những bệnh nhân của mình các ký ức về lạm dụng tình dục trẻ em và lạm dụng nghi thức thờ quỷ (satanic ritual abuse), hai yếu tố dẫn đến hiện tượng “hoảng loạn ma quỷ” (satanic panic).
Tuy nhiên, tranh cãi ở quy mô nhỏ hơn vẫn tiếp tục diễn ra. Mối thâm thù khoa học bùng phát gần đây nhất khi nghiên cứu mang tên “ ‘Cuộc chiến Ký ức’ liệu đã kết thúc? Khác biệt về Niềm tin vào Ký ức bị Dồn nén giữa Nhà khoa học và Nhà thực hành chuyên môn” được xuất bản trong tạp chí Psychological Science vào tháng Hai.
Nhóm nghiên cứu cũng tuyên bố họ có bằng chứng về “khoảng cách” trên.
Patihis và đồng nghiệp giải thích: “Mặc cho sự thay đổi thái độ rõ ràng này, phần lớn những nhà chuyên môn không làm nghiên cứu vẫn công nhận sự có mặt của ký ức dồn nén ở mức độ nào đó và tin vào khả năng “khơi gợi” nơi phương thức trị liệu của mình,” “Đáng chú ý ở chỗ chúng tôi tìm ra một vực sâu ngăn cách niềm tin giữa các tâm lý gia tập trung vào nghiên cứu và những nhà thực hành hay người không chuyên.”
Nhóm nghiên cứu cho rằng khác biệt đến từ việc những nhà tâm lý lâm sàng xem trọng trực giác và quan sát của mình hơn bằng chứng khoa học.
“Một vài nhà lâm sàng có thể dựa vào những tường thuật về việc phục hồi ký ức với mức tự tin cao như bằng chứng khởi đầu về độ chính xác của những ký ức bị dồn nén, trong khi đa phần các nhà nghiên cứu lại yêu cầu những lý luận kiểu này phải qua nghiên cứu có kiểm soát.”
Tuy nhiên, nhà nghiên cứu người London Chris R. Brewin và Bernice Andrews lại lập luận trong
bài nhận xét được xuất bản vào tháng Tám rằng Patihis và cộng sự đã sai lầm khi tuyên bố sự khác biệt này có tồn tại. Họ cho rằng giả định “sự dồn nén là một khái niệm phi khoa học” và “những nhà thực hành tâm lý - lâm sàng chưa được huấn luyện đầy đủ các nghiên cứu về trí nhớ” là không đúng. Brewin và Andrews bắt đầu bài phê bình nghiên cứu của mình bằng việc quy trách những nhà khoa học đã không tính đến hai loại dồn nén khác nhau.

“Freud đã chỉ ra nhiều lần từ đầu và xuyên suốt tác phẩm của mình rằng ông thu nạp hai ý nghĩa khá khác biệt trong cùng một thuật ngữ dồn nén, một cái có liên quan đến phòng vệ hoàn toàn vô thức và một cái là chiến lược phòng vệ có ý thức. Trong khi các cố gắng tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm về phiên bản vô thức đa phần không thành công thì loại dồn nén có ý thức lại tương ứng với chiến lược ta sử dụng hàng ngày, ví dụ, những suy nghĩ tránh né hay bác bỏ.”
Họ nói, sự tồn tại của những ý nghĩ tránh né hay bác bỏ trong các rối loạn sức khỏe tâm thần từ lâu được củng cố bởi những nghiên cứu đã xuất bản.
“Để kết luận, chúng tôi cho rằng dữ liệu mà Patihis và cộng sự ghi nhận không giúp xác định sự phân chia quan trọng trong quan điểm của những nhà nghiên cứu và các tâm lý gia lâm sàng mà chỉ cho thấy sự khác biệt giữa nhà lâm sàng và những nhà thực hành khác. Trong đó, nhà lâm sàng trình bày những chứng cứ rõ ràng về việc họ thích ứng thực hành của mình theo những thay đổi trong cơ sở bằng chứng. Với những bằng chứng phong phú rằng các sự kiện như cái chết, giết chóc và tấn công tình dục đôi khi có thể bị quên lãng, trong tương lai, chúng tôi mong sẽ thấy được những nghiên cứu với trọng tâm rộng hơn tập trung vào những lý giải nhận thức khả thi đối với hiện tượng lãng quên các sự kiện sang chấn.”
Tuy vậy, trong bài hồi đáp phê bình, Patihis và đồng sự nhấn mạnh rằng nghiên cứu của họ có phân biệt ký ức bị dồn nén cách vô thức và việc loại bỏ có ý thức những ký ức đau thương.
Họ viết trong bình luận rằng, “chúng tôi tin rằng trí nhớ, dù là câu chữ hay thậm chí những sự kiện sang chấn, có thể không được nghĩ đến trong một khoảng thời gian rồi sau đó mới được nhớ lại, có lẽ là đi kèm một dấu hiệu nào đó,”. “Nhưng thay vào đó, nghi ngờ của chúng tôi đặt ở tình huống sau: Một thân chủ đến trị liệu với một triệu chứng tâm lý, ví như trầm cảm hay rối loạn ăn uống, đồng thời họ không hề có ký ức gì về việc mình bị lạm dụng, nhưng sau khi sử dụng mở rộng những kỹ thuật khơi gợi trí nhớ (v.d thôi miên, tưởng tượng có hướng dẫn, câu hỏi định hướng), họ bắt đầu nhớ lại thời gian sang chấn nặng nề. Chúng ta không có bất kỳ bằng chứng khoa học đáng tin cậy nào chứng minh trí nhớ hoạt động kiểu đó.”
“Kết luận, với việc chúng tôi đã định nghĩa đầy đủ về trí nhớ bị đè nén và làm rõ với người tham gia rằng chúng tôi tìm hiểu về niềm tin có liên quan đến việc ngăn cản những ký ức sang chấn một cách vô thức, chúng tôi vẫn bảo vệ kết quả của mình.”

http://www.psypost.org/2014/08/memory-wars-scientific-evidence-repressed-memories-27571
Đọc tiếp

Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2014

KHUÔN MẶT CÀNG NAM TÍNH THÌ CHẤT LƯỢNG TINH TRÙNG CÀNG THẤP

0
Tượng David - hình mẫu nam tính của Michel Angelo

ERIC W. DOLAN 2/9/2014


Một nghiên cứu mới trên Tạp chí Sinh học tiến hóa đã tìm ra mối liên hệ giữa mức độ nam tính thể hiện trên khuôn mặt và chất lượng tinh trùng – và kết quả hoàn toàn trái ngược với những gì chúng ta thường nghĩ.

Nghiên cứ phát hiện rằng các quý ông có nhiều đặc điểm nam tính trên khuôn mặt thường có chất lượng tinh trùng kém hơn.

Trong nghiên cứu, 64 phụ nữ và 24 nam giới đã đánh giá mức độ thu hút của khuôn mặt 50 người đàn ông từ 18 đến 36 tuổi. Các nhà nghiên cứu cũng phân tích 13 thông số đo lường của những khuôn mặt trên nhằm xác định mức độ nam tính thể hiện qua diện mạo và đồng thời kiểm tra chất lượng tinh trùng của họ.
Nhóm nghiên cứu viết: “chất lượng tinh trùng của nam giới liên hệ âm tính với chiều dài xương gò má. Số đo này được cho là biểu hiện của đặc điểm nam tính khi cho thấy có quan hệ dương tính với mức độ testosterone ở đàn ông và đồng thời dự đoán được số lượng những nét hành vi gắn với hormone đó, ví dụ tính gây hấn, mức thống trị, sức mạnh thể lý, địa vị, thành công kinh tế và cả mức độ lừa dối.”
Theo nhóm nghiên cứu giải thích, việc tăng mức testosterone được chứng minh có liên hệ với khiếm khuyết trong sản xuất tinh trùng, đồng thời kết quả này cho thấy quan hệ qua lại giữa việc đầu tư vào những dấu hiệu tính dục thứ cấp (như mức nam tính của khuôn mặt) và khả năng sinh sản.
“Lý thuyết cạnh tranh tinh trùng cho rằng nam giới phải đối mặt với việc đánh đổi sự đầu tư vào những nét thu hút nữ giới hay vào khả năng sinh sản. Vì lẽ đó, những cá thể nam giới đầu tư đáng kể lượng “tài nguyên” của họ vào việc thu hút bạn tình thì sẽ còn lại ít “nguồn lực” khả dụng để sản xuất tinh trùng “chất lượng cao”. Sự tồn tại của cơ chế trao đổi này đã được minh chứng trong một số nghiên cứu thực nghiệm ở nhiều chủng loại động vật khác nhau.”
Đáng chú ý, nhìn chung, so với đánh giá của nữ giới, nam giới thường cho rằng hình ảnh các gương mặt thu hút hơn. Điều này cho thấy, so với phụ nữ, đàn ông hay đánh giá quá mức sức hút của những người đàn ông khác.
http://www.psypost.org/2014/09/looks-can-deceiving-manly-face-mean-poorer-semen-quality-27822

Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter