Thứ Năm, 9 tháng 4, 2015

CHẠY BỘ BAO NHIÊU MỘT NGÀY LÀ VỪA ĐỦ?

0
Chạy bộ như thế nào là đủ?

Nghiên cứu mới cho thấy chạy bộ nhiều hơn 2,4 giờ mỗi tuần có liên hệ với mức tử vong tương đương với những người có lối sống ít vận động – không bao giờ chạy bộ.

Kết luận trên đến từ nghiên cứu thực hiện với 5048 người khỏe mạnh tại Đan Mạch được đăng tải trên Journal of the American College of Cardiology (Schnohr et al., 2015).

Các nhà nghiên cứu đã theo dõi 1098 người hay chạy bộ khỏe mạnh cùng với 413 người không có bệnh tật nhưng lại ít hoạt động trong suốt 12 năm.

Các kết quả cho thấy những người chạy bộ quá nhiều thường có tỉ lệ tử vong tương đương với những người không chạy bộ chút nào.

Trong khi đó, tỉ lệ tử vong thấp nhất là những người chạy bộ với tần suất thấp, khoảng 1-2,4 giờ mỗi tuần.

Tốc độ chạy bộ có tương quan với tỉ lệ tử vong thấp nhất là chậm hay vừa phải. Bên cạnh đó, số lần chạy bộ tối ưu mỗi tuần là 3 – vào khoảng 20 đến 48 phút mỗi lần.

Dù được phân loại thành “những người chạy bộ tần suất thấp” nhưng lượng vận động họ thực hiện là khá lớn, TS Oeter Schnohr, người đứng đầu nghiên cứu, giải thích:

“Cần nhấn mạnh rằng tốc độ chạy của những người chạy bộ ‘chậm’ tương đương với cường độ luyện tập cao, trong khi việc chạy bộ quá nhiều sẽ tương ứng với cường độ luyện tập rất cao.
Khi luyện tập như vậy trong suốt cả thập kỷ, mức độ hoạt động trên có thể đưa đến nhiều nguy cơ về sức khỏe, đặc biệt là với hệ tim mạch.”

Các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy luyện tập quá mức có thể gây hại cho cơ thể.
TS Schnohr cho biết:

“Mối liên hệ giữa chạy bộ và tỉ lệ tử vong cho thấy có tồn tại một giới hạn mức độ luyện tập tối ưu cho sức khỏe.
Nếu mục tiêu của bạn là làm giảm nguy cơ tử vong và nâng cao tuổi thọ, chạy bộ một vài lần mỗi tuần với tốc độ vừa phải sẽ là một chiến lược hợp lý.
Bất kỳ điều gì nhiều hơn thế không chỉ là dư thừa mà còn có thể là nguy hại.”




Đọc tiếp

Thứ Hai, 6 tháng 4, 2015

TÁC HẠI CỦA VIỆC BỊ CHÈN ÉP NƠI CÔNG SỞ

0
Chèn ép, bắt nạt nơi công sở

Một nghiên cứu mới vừa cho thấy việc bắt nạt nơi công sở thường sẽ trở thành một vòng tròn luẩn quẩn, khi nạn nhân càng bị stress và lo âu thì họ càng dễ trở nên mục tiêu để các đồng nghiệp chèn ép.

Nhiều năm trời nghiên cứu về hiện tượng “bắt nạt nơi công sở” cho thấy nó có thể gây ra nhiều hệ quả nghiêm trọng đối với nạn nhân, trải dài từ trầm cảm cho tới kiệt sức nghề nghiệp.

Bên cạnh việc làm tổn hại đến sức khỏe và hiệu suất công việc, các nhà khoa học tâm lý Alfredo Rodríguez-Muñoz (ĐH Complutense Madrid), Bernardo Moreno-Jiménez (ĐH Autonoma Madrid), và Ana Isabel Sanz-Vergel (ĐH East Anglia) nhận ra căng thẳng và lo âu do việc chèn ép gây ra còn có thể mài mòn nhân viên, khiến họ trở nên dễ tổn thương hơn trước những hành động gây khó dễ trong tương lai.

Sanz-Vergel cho biết, “Chúng tôi nhận thấy việc bị bắt nạt nơi công sở có thể dẫn đến việc sụt giảm sức khỏe tinh thần và hạnh phúc,” “Đồng thời, việc thể hiện các hành vi lo âu có thể đẩy nạn nhân vào vị trí yếm thế, khiến họ trở thành mục tiêu ‘ưa thích’ – kéo theo một loạt các hành động lạm dụng khác.”

Các nhà nghiên cứu đặt giả thuyết rằng chính sự căng thẳng do việc phải đối đầu với tình trạng bị chèn ép đã khiến cho người lao động trở nên kiệt sức về mặt tinh thần, điều này khiến họ khó có khả năng đứng lên chống lại sự lạm dụng. Cùng cơ chế đó, căng thẳng về tâm lý có thể kéo theo hiệu suất công việc kém, chính điều này sẽ làm giảm sự hỗ trợ, giúp đỡ từ đồng nghiệp và cấp trên.

Khi tình trạng trở nên tệ đi, những nhân viên là mục tiêu của sự chèn ép thường phát triển cách nhìn tiêu cực về nơi làm việc, đưa đến hệ quả là sự căng thẳng và tình trạng chán chường với công việc.

Trong nghiên cứu trên, các nhà tâm lý đã phỏng vấn qua điện thoại 350 nhân viên toàn thời gian về những trải nghiệm của họ với tình trạng chèn ép nơi công sở cùng với những triệu chứng lo âu và trầm cảm.

Các nghiệm thể được hỏi về mức độ họ trải nghiệm những hành vi tiêu cực cụ thể gây ra sự cách ly và chèn ép tại nơi làm việc (ví dụ như việc bàn tán hay cố tình che giấu thông tin) trong vòng 6 tháng qua.

Để lượng giá lo âu và trầm cảm, những người tham gia được yêu cầu trả lời tần suất họ cảm thấy các triệu chứng về lo âu hay trầm cảm (ví dụ, “Tôi có các suy nghĩ lo âu” hay “Tôi cảm thấy như thể mình đang bị kéo chậm lại”)

Sau sáu tháng, các nhà nghiên cứu tiếp tục theo dõi cùng nhóm nhân viên trên. Đúng như kỳ vọng, họ tìm ra rằng các nạn nhân của việc bị chèn ép tăng mức độ triệu chứng lo âu và có thái độ bi quan hơn đối với công việc so với khảo sát ban đầu.

Tuy nhiên, việc bị chèn ép không giúp dự đoán việc cuối cùng liệu nghiệm thể có những triệu chứng trầm cảm hay không. Các nhà nghiên cứu cho rằng cần nhiều hơn 6 tháng để các triệu chứng trầm cảm phát triển, bên cạnh đó, các nghiên cứu trước đây cho thấy các triệu chứng lo âu thường sẽ kéo theo khởi phát trầm cảm.

Các nhà tâm lý viết Anxiety, Stress, & Coping: An International Journal rằng, “Vì vậy, trong trường hợp chèn ép tại nơi làm việc, có thể có tồn tại một vòng xoáy tiêu cực. Trong đó, việc bắt nạt sẽ làm giảm sức khỏe tinh thần và hạnh phúc. Kế đến, hệ quả trên sẽ khiến cho tình trạng hay nhận thức về hoàn cảnh công việc của người bị hại trở nên tệ hơn trước.”

Các tổ chức không chỉ cần tiến hành các biện pháp đảm bảo phòng tránh sự chèn ép mà còn cần tạp trung cung cấp các nguồn lực giúp người lao động phát triển các kỹ năng đối phó với hiện tượng trên.

Các tác giả kết luận, “Các chiến lược can thiệp tập trung vào việc xây dựng nguồn lực cho nhân viên như sự tin tưởng vào khả năng bản thân hay những hỗ trợ xã hội cũng có thể giúp giảm thiểu những nhận thức ‘nạn nhân hóa’ của người lao động về tình trạng chèn ép nơi công sở.”

Tài liệu tham khảo
Rodríguez-Muñoz, A., Moreno-Jiménez, B., & Sanz-Vergel, A. I. (2015). Reciprocal relations between workplace bullying, anxiety and vigor: a two-wave longitudinal study. Anxiety, Stress & Coping: An International Journal, 1-31. DOI:10.1080/10615806.2015.1016003



Đọc tiếp

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2015

ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH CÓ KHIẾN CHÚNG TA TRỞ THÀNH NHỮNG NGƯỜI LƯỜI SUY NGHĨ?

0
Tác hại khi phụ thuộc smartphone
Keith Wagstaff 15/03/2015
Số điện thoại? Đường đi? Ai là diễn viên chính trong bộ phim mới nhất? Đó là một trong những thứ chúng ta tìm kiếm bằng điện thoại của mình?
Vậy liệu chúng có khiến chúng ta trở nên lười biếng hay không? Chúng ta có trở thành những “cục đất”, giao phó tất cả những tư duy của bản thân cho chiếc điện thoại hay không?

Câu hỏi này không thể được trả lời chỉ trong một sớm một chiều. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới của ĐH Waterloo, Canada, cho rằng có mối liên hệ giữa điện thoại thông minh và việc không suy nghĩ thấu đáo để tìm cách giải quyết vấn đề.

Đồng tác giả nghiên cứu và là nghiên cứu sinh tâm lý học tại ĐH Waterloo, Gordon Pennycook, cho biết, "Có những vấn đề mà chúng ta không thể tìm thấy câu trả lời trên Google,” “Vấn đề của việc phụ thuộc quá nhiều vào Internet là bạn không biết rằng bạn chỉ có câu trả lời chính xác khi bạn suy nghĩ phân tích và logic về vấn đề đó.”

Rõ ràng hơn, nghiên cứu không nói rằng smartphone khiến con người trở thành những chủ thể lười suy nghĩ nhưng các kết quả cho thấy những người “suy nghĩ trực giác” – tức là hành động theo trực giác thay vì phân tích vấn đề - thường sẽ dựa dẫm vào điện thoại nhiều hơn.

Theo Pennycook, những người có trí thông minh cao thường phân tích và giải quyết vấn đề một cách logic, họ cũng thường xem xét rất kỹ suy nghĩ cuả bản thân. Pennycook cùng đồng tác giả Nathaniel Barr đẽ thực hiện trắc nghiệm trên 660 nghiệm thể. Những người được đánh giá ít thông minh hơn thường cho biết họ tìm kiếm thông tin trên smartphone thường xuyên hơn.

Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng nghiên cứu này chỉ là bước đi đầu tiên. Họ chỉ muốn tìm kiếm một số mối tương quan để từ đó thực hiện những nghiên cứu tiếp theo về cách thức smartphone tác động đến não bộ.

Eric Kandel, người từng đoạt giải Nobel và là nhà tâm thần thần kinh thuộc ĐH Columbia, cho rằng còn quá sớm để kết luận liệu việc lệ thuộc vào smartphone có ảnh hưởng đến khả năng tư duy phản biện hay không.

Ông cho biết “[smartphone] có thể có khả năng tạo điều kiện cho việc hoạt động đa tác vụ và giúp mở rộng phạm vi tiếp cận kiến thức của chúng ta,” nhưng nó cũng “đe dọa trí nhớ dài hạn và khả năng lưu trữ thông tin lâu dài của chúng ta.”

Ông cho biết, “Chúng ta cần thêm nhiều bằng chứng thực nghiệm để xác nhận hay phủ quyết những cảm tưởng trên.”

Smartphone hiện nay thông dụng đến độ khó có thể tưởng tượng rằng iPhone chỉ mới xuất hiện cách đây chưa đầy một thập kỷ. Trong khi đó, World Wide Web mới chỉ ra đời được 25 năm.

"Sẽ có thể rất nguy hại nếu chúng ta trở nên phụ thuộc quá mức vào các nguồn thông tin bên ngoài thay vì tự mình học tập hay tư duy phản biện,” Barr cho biết. “Tuy nhiên vì smartphone còn quá mới mẻ nên chúng ta đơn giản vẫn chưa biết được tường tận.”

Vào năm 2009, nhà nghiên cứu Clifford Nass thuộc ĐH Stanford đã phát hiện việc những người làm việc đa tác vụ (những người cho biết bản thân có thể thực hiện nhiều việc cùng một lúc như gửi mail, lướt web, xem TV) thường gặp khó khăn trong việc tập trung vào một nhiệm vụ đơn lẻ. Kì lạ hơn nữa, họ cũng rất tệ trong việc chuyển đổi nhiệm vụ, điều này có nghĩa là làm việc đa tác vụ sẽ khiến họ làm việc đa tác vụ tệ hơn.

Nass qua đời vào năm 2013 nhưng nghiên cứu của ông vẫn được tiếp tục. Nó được rất nhiều người trích dẫn như là một dấu hiệu cho thấy việc thường xuyên tham gia một hoạt động rồi bị phân tâm qua hoạt động khác chưa hẳn là một điều tích cực.
Một trong số đó là Nicholas Carr, tác giả của một số đầu sách về cách thức Internet thay đổi lối tư duy của chúng ta.

Carr cho biết "Với smartphone, chúng ta đã tạo ra một môi trường thường xuyên gây phân tán và gián đoạn,” “Chỉ khi nào chúng ta chú ý, khi chúng ta có thể tập trung vào một luận điểm hay dòng suy nghĩ thì chúng ta mới chạm đến được hình thức tư duy sâu sắc nhất.” “Tư duy khái niệm, tư duy phản biện – những thứ này không thể xảy ra nếu bạn liên tục bị chia trí.”

Ông chia sẻ, vấn đề là chúng ta tiến hóa để không ngừng tìm kiếm thông tin mới, nó rất hữu dụng trong việc đánh giá mối đe dọa và tìm kiếm lương thực trong thời kỳ nguyên thủy. Não bộ sẽ tưởng thưởng cho những phát hiện mới bằng dopamine. Ngày nay, với Yelp, Facebook hay Google, chúng ta đã có thể thỏa mãn không ngừng khao khát trên.

Vậy nó có phải hoàn toàn là tiêu cực không? Smartphone có thể khiến cuộc sống trở nên tiện lợi hơn và tác động tích cực đến não bộ theo những cách mà chúng ta có thể chưa nghiên cứu được. Có thể một số cách sử dụng internet sẽ khiến chúng ta thông minh hơn nhưng một số cách khác sẽ mang đến hệ quả trái ngược. Trên phương diện xã hội, Pennycook cho rằng chúng ta cần phải đặt câu hỏi “Những lĩnh vực nào chúng ta cần phải bảo toàn khả năng tư duy nội tâm thay vì phụ thuộc vào nguồn bên ngoài?”

Còn trên cấp độ cá nhân, rõ ràng là có lý do để một số người tìm đến những khu vực cấm sử dụng martphone và laptop, hay tải những ứng dụng giúp cắt đứt internet.

Carr cho biết, "Có thể có một số người, vì chưa suy nghĩ kỹ càng, nên cho rằng những điều trên không quan trọng,” “Cá nhân mình, tôi nghĩ rằng sẽ có gì đó mất đi nếu chúng ta liên tục bị gây phân tán.”



Đọc tiếp

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015

HAI YẾU TỐ GÂY TRỞ NGẠI CHO QUAN HỆ TÌNH CẢM

0

Một nghiên cứu mới vừa cho thấy việc kì vọng người mình yêu “đọc” được suy nghĩ của chúng ta trước những hành động họ gây ra; hay khi chúng ta rút lui khỏi những xung đột, việc mất nối kết có thể sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ hai bên.

TS Keith Sanford, phó giáo sư tâm lý học và khoa học hành vi tại Trường Khoa học và Nghệ thuật, ĐH Baylor, cho biết, dù rút lui hay cố gắng đọc suy nghĩ là những dạng “xoa dịu” thường thấy trong các mối quan hệ, chúng lại có thể rất nguy hiểm theo nhiều cách thức và lý do khác nhau.
Sanford chia se, “Rút lui có thể là vấn đề lớn nhất trong các mối quan hệ,” “Nó là chiến lược phòng thủ chúng ta sử dụng khi cảm thấy mình bị tấn công, đồng thời có tương quan trực tiếp giữa việc rút lui và mức hài lòng trung bình thấp về mối quan hệ.”
Trong khi đó, “yên lặng thụ động”, khái niệm về việc kì vọng người kia có thể đọc được suy nghĩ của bạn, lại là chiến lược được huy động khi bạn cảm thấy lo lắng trong một mối quan hệ, nó khiến cho hai người gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát triển phương hướng giải quyết mâu thuẫn. Tuy nhiên, nó có vẻ không nguy hiểm bằng việc rút lui, ông cho biết.
Nghiên cứu do Sanford và cộng sự thực hiện được xuất bản trên tạp chí Psychological Assessment. Theo Sanford, việc rút lui chưa chắc có ảnh hưởng tới khả năng dàn xếp xung đột nhưng việc hi vọng người kia đọc được suy nghĩ của mình lại có tác động trực tiếp tới khả năng giải quyết vấn đề của hai bên.
Các nhà khoa học đã thực hiện 3 nghiên cứu. Trong nghiên cứu đầu tiên, 2588 cặp vợ chồng hay những người sống chung với nhau thực hiện một bảng khảo sát. Họ mô tả một xung đột đơn lẻ cụ thể; đánh giá mức độ bản thân sử dụng rút lui hay yên lặng thụ động; và cuối cùng hoàn thành một thang đo mức độ hài lòng về mối quan hệ.
Trong nghiên cứu thứ hai, 233 người trưởng thành đã cam kết vào các mối quan hệ lãng mạn thực hiện một trắc nghiệm đo lượng mức độ rút lui, kì vọng đọc suy nghĩ, gắn bó, lo lắng, cảm xúc, hài lòng với mối quan hệ, và giao tiếp.
Trong nghiên cứu thứ ba, 135 sinh viên có các mối quan hệ lãng mạn được yêu cầu viết về một tình huống xung đột, sau đó họ sẽ trả lời những câu hỏi về việc cắt đứt trao đổi, về giao tiếp và cảm xúc khi xảy ra mâu thuẫn.
Việc rút lui khi một trong hai người chỉ trích hay than phiền là hành động né tránh khi người còn lại nhận diện một mối đe dọa, đồng thời “nó mang đặc điểm của ‘sự không hạnh phúc’ nhiều hơn. Ai cũng có thể vướng phải điều trên lúc này hay lúc khác, nhưng nó xuất hiện nhiều hơn trong những mối quan hệ căng thẳng,” Sanford chia sẻ.
Nghiên cứu cho thấy cá nhân thường rút lui khi họ chán nản hay trở nên vô cảm. Sanford nói, “Lúc đó họ sẽ có mong muốn duy trì sự tự chủ, quyền kiểm soát và khoảng cách.”
Trong khi đó, những người kỳ vọng người kia phải biết được sai lầm gì đang diễn ra mà không cần chia sẻ thì thường cảm thấy lo âu, hắt hủi hơn là đe dọa.
“Bạn có thể lo lắng về việc người kia thương bạn đến mức nào, và điều đó gắn với cảm giác bị bỏ rơi. Bạn sẽ cảm thấy buồn bã, đau đớn và bị tổn thương,” Sanford cho biết.
Những mâu thuẫn mà nếu một phía trông đợi phía còn lại đọc được tư tưởng của mình thường có xu hướng trở thành giao tiếp tiêu cực và giận dữ, nó cũng có thể dẫn đến một vòng xoáy không có lối ra.
Sanford bình luận, “Thông thường, trong một cặp sẽ có một người rút lui và người còn lại sẽ đòi hỏi. Một người càng đòi hỏi và than phiền bao nhiêu thì người còn lại sẽ rút lui nhiều bấy nhiêu, và chúng cứ tiếp tục như thế.”
“Đây là vấn đề vừa về việc nhận ra khi nào các hành vi trên diễn ra và tìm kiếm một giải pháp thay thế - giải pháp mang tính xây dựng và lịch sự hơn để giải quyết xung đột,” “Tuy nhiên, nói vẫn dễ hơn là làm.”


Đọc tiếp

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2015

TÍNH CÁCH NÀO ĐƯỢC DỰ ĐOÁN GIÚP KÉO DÀI TUỔI THỌ?

0
Tính cách và tuổi thọ


Một nghiên cứu vừa cho thấy, đàn ông có nét tính cách tận tâm và cởi mở với trải nghiệm mới thường sống lâu hơn.
Đối vơi phụ nữ, sự dễ chịu và ổn định cảm xúc là hai nét tính cách tỉ lệ thuận với tuổi thọ.
Thế nhưng, điểm gây bất ngờ là chính bạn bè của bạn, chứ không phỉa bạn, mới là người đánh giá chính xác hơn các nét nhân cách trên khi nhìn nhận từ bên ngoài.
Kết quả được đăng trên tạp chí Psychological Science đến từ một trong những nghiên cứu lâu nhất trong lịch sử, kéo dài tận 75 năm (Jackson et al., 2015).
TS. Joshua Jackson, người đứng đầu nghiên cứu, cho biết:
“Bạn thường kỳ vọng bạn bè sẽ nhìn mình theo một cách tích cực, tuy nhiên họ cũng là những người nhận ra những nét tính cách nào nơi bạn có thể khiến bạn sớm ‘về với đất’“
Các nhà nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ những nghiên cứu bắt đầu từ những năm 1930, theo dõi một nhóm các cặp tình nhân lúc họ đương đôi mươi.Phần lớn các cặp đều sắp kết hôn với nhau.
Trắc nghiệm nhân cách được thực hiện trên những cặp đôi đã đính hôn, đồng thời nghiên cứu cũng khảo sát bạn bè của từng cặp đôi về nhân cách của hai người.
TS Jackson cho biết:
“Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy chúng ta có khả năng quan sát và đánh giá nhân cách bạn bè của mình tương đối chính xác đến mức có thể dự đoán tỉ lệ tử vong sớm trước cả nhiều thập kỷ.
Điều này cho thấy con người có khả năng nhận ra những đặc điểm quan trọng có liên quan đến sức khỏe [nơi bạn bè] thậm chí khi những người bạn này vẫn đang khỏe mạnh và còn rất trẻ.”
Nhưng tại sao bạn bè lại là người đánh giá tốt hơn tuổi thọ của ta thông qua các đặc điểm nhân cách?
TS Jackson cho biết:
“Có thể có hai lý do khả dĩ giài thích cho việc vì sao bạn bè đánh giá lại tốt hơn bản thân ta tự lượng giá.
Đâu tiên, bạn bè có thể nhận ra một số điều mà bạn bỏ qua; họ có thể có những góc nhìn mà bạn không có.
Thứ hai, vì một người có thể có nhiều bạn bè, họ có thể tổng hợp nhiều ý kiến khác nhau để có đánh giá đáng tin cậy nhất về nhân cách của mình.
Trong khi đó, với việc tự đánh giá, chúng ta có thể bị ảnh hưởng bởi định kiến hay bỏ qua một số khía cạnh, đồng thời chúng ta cũng không thể tương tác với các quan điểm khác vì bạn chỉ có một mình, chỉ có duy nhất một bản tự đánh giá mà thôi.”
TS Jackson cũng chỉ ra rằng các nét nhân cách giúp dự đoán tuổi thọ có thể sẽ thay đổi nếu chúng ta thực hiện nghiên cứu vào ngày nay.
Lý do là vì các đặc điểm gắn với tuổi thọ cao vào những năm 30 có thể chỉ phản ánh vai trò giới vào thời điểm đó.
Vào thập kỷ 30, vai trò của phụ nữ trong xã hội rất hạn chế – họ thường chỉ là những người vợ hiền lành, cần mẫn.
Tuy vậy, nghiên cứu vẫn là một minh họa rất thú vị cho mối dây liên hệ giữa nhân cách và tuổi thọ.
TS Jackson chia sẻ:
“Đây là một trong những nghiên cứu dài hơi nhất trong tâm lý học.
Nó cho ta thấy nhân cách có tầm quan trọng như thế nào trong việc tác động mạnh mẽ lên các hệ quả đời sống như sức khỏe, đồng thời nó cho thấy thông tin từ bạn bè cùng những người quan sát bên ngoài có thể đóng vai trò quyết định trong việc nắm bắt các vấn đề sức khỏe của cá nhân.
Ví dụ, đánh giá từ thành viên gia đình hay thậm chí y bác sĩ có thể được tham khảo để thiết kế phương pháp điều trị cho mỗi cá nhân, đồng thời giúp nhận diện những người có nguy cơ mắc phải một số bệnh lý sức khỏe.”

http://www.spring.org.uk/images/personality3.jpg

Đọc tiếp

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2015

VÌ SAO SỰ TÒ MÒ CÓ LỢI CHO VIỆC HỌC TẬP?

0
Trẻ em học hỏi qua sự tò mò
http://www.nature-reserve.co.za/
24/10/2014

Hoàng hôn diễn ra như thế nào? Chúng ta thường thích ngắm nhìn hoàng hôn nhưng với Jolanda Blacwell, như vậy là chưa đủ. Cô giáo viên dạy lớp 8 này muốn học trò của mình suy nghĩ, thắc mắc và đặt câu hỏi về vấn đề này.
Blackwell, nữ giáo viên khoa học tại trường THCS Oliver Wendell Holmes, Davis, California, đã cho học trò của mình xem một đoạn phim về hoàng hôn trên Youtube như một phần trong bài giảng vật lý về sự chuyển động.
“Tôi hỏi các em: ‘Vậy cái gì đang chuyển động? Và vì sao?” Blackwell chia sẻ. Các học sinh có rất nhiều ý tưởng khác nhau. Một số nghĩ là do Mặt trời chuyển động; một số khác, tất nhiên, biết rằng điều này có được là do Trái đất đang xoay quanh trục của chính mình.
Và các câu hỏi ồ ạt tuôn đến khi cuộc thảo luận bắt đầu. Cô cho biết “Thử thách lớn nhất của tôi thường là làm sao để khiến các em kiên nhẫn.” “Các em có rất nhiều câu hỏi nôn nóng được trả lời.”
Học sinh đặt câu hỏi rồi sau đó tìm kiếm câu trả lời. Đó là điều mà nhà giào chân chính nào cũng mong muốn. Và nhân tố quan trọng nhất trong đó chính là sự tò mò.
Blackwell, cũng giống như nhiều thầy cô khác, hiểu rằng khi trẻ tò mò là lúc chúng tham gia tích cực nhất.
Nhưng tại sao? Tò mò chính xác là gì và tại sao nó mang lại hiệu quả? Một nghiên cứu xuất bản vào số tháng 10 trên tạp trí Neuron cho rằng chính những thay đổi trong hóa chất não bộ khi chúng ta tò mò sẽ giúp chúng ta học và ghi nhớ thông tin tốt hơn.
Não bộ và sự Tò mò
Charan Ranganath, tâm lý gia thuộc ĐH California – người thực hiện nghiên cứu, cho biết "Bất kỳ ngày nào, chúng ta đều bị dội bom bởi hàng đống thông tin mới,” “Nhưng ngay cả với những người có trí nhớ thật tốt thì họ cũng chỉ có thể lưu giữ một phần nhỏ những gì xảy ra cách đây hai ngày mà thôi.”
Ranganath rất tò mò để biết được liệu tại sao chúng ta chỉ nhớ một số thông tin trong khi lại quên một số khác.
Do vậy, ông cùng một số cộng sự đã tập hợp 19 tình nguyện viên và yêu cầu họ xem qua hơn 100 câu hỏi nhỏ nhặt, giống như “Chữ ‘dinosaur’ (khủng long) thật sự có nghĩa là gì?” hay “bài hát nào của nhóm Beattles nằm trên bảng xếp hạng lâu nhất, cụ thể là 19 tuần?”

Những người tham gia sẽ đánh giá xem mỗi câu hỏi khiến họ tò mò về đáp án đến mức nào.

Sau đó, tất cả sẽ xem lại các câu hỏi – cùng những câu trả lời một lần nữa. Trong khi đó, các nhà nghiên cứu sẽ xem xét hoạt động não bộ của họ bằng cách sử dụng máy MRI. Khi sự tò mò của các nghiệm thể được khơi gợi, những vùng não điều hòa sự vui thích và tưởng thưởng được kích hoạt. Trí não lúc tò mò cũng làm cho hoạt động ở hồi hải mã tăng lên, điều này có liên hệ đến việc tạo thành ký ức.

Ranganath giải thích, “Đây chính là đường đi căn bản của não bộ thúc đẩy con người ra ngoài và tìm kiếm những phần thưởng đến từ bên trong.” Đường đi này được kích hoạt khi chúng ta được cho tiền hay cho kẹo. Đồng thời, nó cũng hoạt động khi chúng ta tò mò.

Khi đường đi này hình thành, não bộ của chúng ta tiết ra dopamine, một loại hóa chất khiến chúng ta “phê”. “Dopamine có vẻ như cũng đóng vai trò trong việc củng cố các mối liên hệ tế bào có liên quan đến chuyện học tập.”

Thật vậy, khi các nhà nghiên cứu kiểm tra những gì nghiệm thể học được sau đó, những người xem ra tò mò hơn thường nhớ được nhiều câu trả lời chính xác hơn.
Tò mò cũng giúp chúng ta học những thứ nhàm chán
Có một điểm kì lạ trong nghiên cứu của Ranganath: Suốt thực nghiệm, các nhà khoa học cho một số gương mặt ngẫu nhiên xuất hiện mà không giải thích lý do cho các nghiệm thể biết.
Những người tham gia có trí tò mò được kích hoạt thường nhớ những khuôn mặt này kỹ nhất.
Nhóm nghiên cứu rất ngạc nhiên khi biết rằng trí não tò mò không chỉ học tốt những thứ nó chú ý mà còn học tố luôn những thứ khác – ngay cả khi chúng chỉ là những thông tin tình cờ hay nhàm chán.
Raganath giải thích, “Hãy tưởng tượng bạn đang xem mùa cuối cùng của Breaking Bad,” Nếu bạn là người hâm mộ loạt phim này, bạn chắc chắn sẽ rất tò mò không biết chuyện gì sẽ xảy ra cho nhân vật chính, Walter White.
"Đương nhiên bạn sẽ nhớ những gì xảy ra trong tập cuối,” ông cho biết, nhưng bạn cũng sẽ nhớ luôn bạn ăn gì trước khi xem và làm gì sau khi xem xong tập đó.
Evie Malaia, PGS tại Trung tâm Trí óc, Não bộ và Giáo dục Tây Nam, thuộc ĐH Texas, cho biết, đây là hiện tượng mà các giáo viên có thể sử dụng để làm tăng thuận lợi cho việc giảng dạy.

“Ví dụ một đứa trẻ muốn trở thành phi hành gia,” “Vậy bạn sẽ kết nối mục tiêu đó với việc học bảng cửu chương như thế nào?” Một giáo viên có thể chọn cách đưa ra một vấn đề với từ ngữ thú vị có liên quan đến du hành vũ trụ chẳng hạn.

Malaia nói, “Bằng cách này cơ bản trẻ sẽ nắm thế chủ động,” “Các em sẽ rất thích thú khi phát hiện ra điều gì đó, nếu chính chúng là người tạo dựng nên kiến thức của mình.”

Thầy cô đã sử dụng kỹ thuật này một cách trực giác trong nhiều năm qua, Malaia cho biết thêm, và bây giờ khoa học ủng hộ điều đó. “Sự tò mò thật sự là một trong những động cơ cơ bản và mạnh mẽ nhất của con người. Chúng ta cần đặt nền móng của giáo dục trên chính hành vi này.”

Điều ta chưa biết
Có rất nhiều các nhà khoa học chưa hiểu được sự tò mò. Ranganath chia sẻ, “Chỉ có một số ít nghiên cứu về sự tò mò,” “Chúng rất khó để nghiên cứu.”
Ví dụ, các nhà khoa học chưa biết chính xác tại sao chúng ta lại thích thú khi học tập, dù vậy Ranganath cho rằng điều này hoàn toàn hợp lý nếu xét trên bình diện tiến hóa. “Chúng ta có thể có một thôi thúc căn bản trong não bộ chống lại sự mơ hồ.” Chúng ta càng biết nhiều về thế giới thì chúng ta càng có cơ hội sống sót trước những mối nguy hiểm.
Các nhà khoa học cũng đang cố gắng tìm hiểu xem tác dụng của tò mò kéo dài trong bao lâu – nếu sự tò mò của trẻ được kích hoạt vào đầu ngày, liệu trẻ có khả năng tiếp thu tốt suốt buổi học còn lại không? Hay trẻ sẽ mất dần hứng thú?
Điều mà Ranganath muốn biết nhất chính là lý do vì sao một vài người về bản chất lại tò mò hơn những người khác. Ông cho rằng, có rất nhiều các nhân tố, gồm stress, tuổi tác cùng những tác dụng từ thuốc ảnh hưởng lên tiến trình dopamine trong não. Nhân tố di truyền cũng co thể tác động đến mức độ thắc mắc về mọi sự của chúng ta.
"Nếu chúng ta có thể hiểu hết những điều này, nó sẽ mang lại một ảnh hưởng rất lớn. Chúng ta có thể giúp những người xem ra đang buồn chán,” Ranganath cho biết.
Blackwell, giáo viên khoa học tại California cho biết mình không phải đối mặt với vấn đề đó qua thường xuyên.
Học sinh của cô luôn thích tìm hiểu những bí ẩn trong khoa học: Chuyện gì xảy ra khi hai xe tông nhau? Tại sao một xe trông có vẻ “nát bét” hơn xe còn lại? Tại sao một số người trông giống dì hơn giống má? Cầu vồng hình thành như thế nào?
"Tôi nói với các em rằng chẳng có câu hỏi nào là câu hỏi ngu ngốc”, Blackwell cho biết. “Rằng khoa học đơn giản là” Đặt câu hỏi và tìm câu trả lời.”




Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter