Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2015

LÀM CÁCH NÀO ĐỂ NÂNG CAO Ý CHÍ NHẰM ĐẠT ĐẾN MỤC TIÊU?

0
Làm cách nào để có ý chí?

Nhiều người cho rằng họ chỉ có thể thay đổi cuộc sống khi sở hữu một phẩm chất vô cùng khó nắm bắt sau đây: khả năng tự kiểm soát, hay còn gọi là ý chí. Có khả năng này, chúng ta có thể sẽ ăn uống lành mạnh, tập thể dục đều đặn, tránh xa rượu bia, tiết kiệm tiền bạc, ngưng trì hoãn và đạt được tất cả những mục tiêu cao cả mà chúng ta đặt ra.

Ý chí là khả năng chống cự lại những cám dỗ ngắn hạn để vươn tới những mục tiêu dài hạn. Một số người chỉ đơn giản xem nó như khả năng trì hoãn sự thích thú vì một mục đích cụ thể nào đó. Hàng ngày, theo cách này hay cách khác, chúng ta đều sử dụng ý chí. Dù đó là khi chúng ta ngăn cản bản thân lướt web trong lúc còn nhiều việc phải làm hay là chọn ăn trưa bằng rau củ nay vì một bữa ăn nhanh.

Khảo sát Stress in AmericaTM của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ cho thấy, việc thiếu ý chí là rào cản lớn nhất để dẫn tới thay đổi. Mặc dù khá nhiều người đổ lỗi cho những lựa chọn sai lầm vì ý chí nửa vời của mình, nhưng rõ ràng họ vẫn chưa từ bỏ hết hi vọng. Phần lớn những người tham gia khảo sát vẫn tin rằng ý chí là điều gì đó mà chúng ta có thể học và luyện tập.

Liệu ý chí là có chừng có mức?
Tương tự như cơ bắp, ý chí có thể được củng cố qua thời gian.[1] Tuy nhiên, mỗi người có một khối lượng ý chí nhất định và nếu chúng ta sử dụng nó qua mức, nó có thể trở nên cạn kiệt. Nhiều nghiên cứu hiện cho rằng việc liên tục chống trả lại cám dỗ sẽ làm cạn kiệt nguồn ý chí của chúng ta.

Thế nhưng, nhiều nhà khoa học không tin rằng ý chí của một con người có thể bị cạn kiệt hoàn toàn. Thay vào đó, chúng ta thường sẽ giữ lại một ít để dành cho những nhu cầu trong tương lai. Một động lực phù hợp sẽ cho phép con người chạm đến những “phần để dành” đó và tiếp tục kiên trì ngay cả khi sức mạnh ý chí bị suy giảm.

Tuy cơ bắp có thể trở nên mệt mỏi khi bị sử dụng quá mức trong một thời gian ngắn nhưng chúng cũng có thể trở nên bền bỉ hơn nếu được tập luyện thường xuyên trong một thời gian dài. Chúng ta có thể học cách sử dụng ý chí hiệu quả hơn sao cho nguồn lực có thể kéo dài và, cũng như cơ bắp, thậm chí có thể củng cố nó.

Nghiên cứu cho thấy có 3 bước để đạt đến một mục tiêu:[2]
·         Thiết lập động cơ thay đổi và đưa ra mục tiêu rõ ràng
·         Giám sát hành vi để đạt đến mục tiêu
·         Luyện tập ý chí để đạt chuẩn bị cho thành công

Bạn có thể làm gì?
Một vài chiến lược sau đây được đưa ra để giúp bạn luyện tập khả năng tự kiểm soát:
·      Tập trung mỗi lần một mục tiêu: Các nhà tâm lý phát hiện rằng việc tập trung vào một mục tiêu đơn lẻ, rõ ràng thay vì có quá nhiều mục tiêu cùng lúc sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn. Việc hoàn thành mục tiêu đầu tiên sẽ “giải phóng” một lượng ý chí và bạn có thể sử dụng nó  cho mục tiêu tiếp theo. Hãy tập trung mỗi lần vào một hành vi, ví dụ như quyết tâm đi bộ 45 phút vài lần trong tuần hay giành 20 phút mỗi ngày để học bài cho kì thi sắp tới.
·    Tránh xa cám dỗ. Né tránh sự chi phối là chiến lược hiệu quả để duy trì khả năng tự kiểm soát. Việc đem các nguồn gây nhiểu ra khỏi nơi bạn ở, hay ít nhất, là ra khỏi tầm mắt sẽ đem lại thành công. Ví dụ, việc có một không gian dành riêng cho việc học, giảm thiểu những thứ gây chia trí dù là nhỏ nhất, là rất quan trọng. Khi chúng ta cần tập trung, chúng ta có thể cần phải tắt điện thoại, thoát email và loại bỏ tất cả các nguồn gây nhiễu xung quanh chúng ta.
·      Lên kế hoạch. Các nhà khoa học chứng minh, có một kế hoạch cụ thể có thể giúp chúng ta chống lại những cám dỗ mà không phải mất nhiều ý chí.[3] Quyết định trước cách thức phản ứng với tình huống có thể giúp chúng ta kiên trì với mục tiêu. Ví dụ, một người đang quyết tâm bỏ rượu có thể tự nhủ trước khi đi chơi rằng “Nếu ai đó mời mình uống, mình sẽ uống soda chanh mà thôi.” Có một kế hoạch từ trước sẽ giúp chúng ta ra quyết định ngay lập tức mà không phải sử dụng ý chí.
·   Giám sát hành vi hướng đến mục tiêu cuối cùng: Hãy lập một kế hoạch hợp lý để hướng tới mục tiêu cuối cùng và tái cam kết mỗi ngày để tiến tới mục tiêu đó. Nếu nhiệm vụ của bạn là giảm chi tiêu trong tháng, hãy theo dõi tất cả tiền bạc của mình được sử dụng ra sao. Nghiên cứu cho thấy việc hành vi ghi nhận sẽ khiến chúng ta nhận thức rõ ràng hơn và đem lại những thay đổi về hành vi.
·  Tưởng thưởng bản thân. Khi bạn đạt đến một cột mốc nào đó, hãy tự thưởng vì đã hoàn thành tốt công việc, tuy nhiên hãy đảm bảo rằng phần thưởng không đi nguơc lại với những thay đổi mà bạn đang cố tạo ra, ví dụ như là quyết định đi ăn kem vì vừa sụt ký! Thay vào đó, hạy tham gia vào một hoạt động vui thú nhưng lành mạnh khác. Ví dụ, nếu bạn đang quá bận bịu, hãy đứng dậy, đi tới đi lui mỗi khi có thể như là cách để tự thưởng cho mình vài phút thư giãn.
·         Ngủ đủ giấc. Thiếu ngủ có thể ảnh hưởng đến cách thức cơ thể và trí não sử dụng năng lượng, điều này cũng ảnh hưởng đến khả năng kháng cự cám dỗ của chúng ta. Khi một người ngủ không đủ giấc, ý chí của anh ta sẽ dễ dàng thất bại. Tuy vậy, chỉ một đên ngủ ngon giấc cũng là đã đủ để thúc đẩy ý chí.[4]
·      Tìm kiếm sự hỗ trợ: Nghiên cứu cho thấy có một mạng lưới hỗ trợ sẽ giúp chúng ta đạt đến mục tiêu của mình. Hãy chuẩn bị xung quanh mình những người bạn tin tưởng và biết rằng sẽ ủng hộ mục tiêu của bạn, sẵn sàng giúp bạn thành công.

Nhà tâm lý sẽ giúp gì cho bạn?
Nếu bạn đang cố gắng cải thiện ý chí của mình, một nhà tâm lý có thể giúp đỡ cho bạn. Các tâm lý gia được đào tạo để hỗ trợ mọi người xác định khu vực vấn đề và từ đó phát triển kế hoạch hành động để thay đổi các vấn đề đó.
If you are trying to improve your self-control, a psychologist can help. Psychologists are trained to help people identify problem areas and then develop an action plan for changing them.
Nhiều câu hỏi về bản chất của ý chí vẫn còn cần những nghiên cứu trong tương lai trả lời. Nhưng hiện tại, có vẻ như với những mục tiêu rõ ràng, khả năng tự giám sát cùng một ít tập luyện, bạn có thể giúp ý chí của bạn vững vàng trước những điều gây xao nhãng.

The American Psychological Association’s Practice Directorate gratefully acknowledges the assistance of Linda Alverson-Eiland, PhD, Mary K. Alvord, PhD, Lynn Bufka, PhD, Mary Gresham, PhD, Mark Muraven, PhD, David J. Palmiter, PhD, Ron Palomares, PhD, and Richard G. Tedeschi, PhD. 
1 Baumeister, R.F., Bratslavsky, E., Muraven, M., Tice, D.M. (1998). Ego depletion: Is the active self a limited resource? Journal of Personality and Social Psychology, 74(5), 1252-1265.
2 Baumeister, R., & Tierney, J. (2011). Willpower: Rediscovering the Greatest Human Strength. New York: Penguin Press.
3 Duckworth, A.L., Grand, H., Loew, B., Oettingen, G. & Gollwitzer, P.M. (2010). Self-regulation strategies improve self-discipline in adolescents: benefits of mental contrasting and implementation intentions. Educational Psychology. 31, 17-26.
4 McGonical, K. (2012). The willpower instinct: How self-control works, why it matters, and what you can do to get more of it. New York, NY: Avery/Penguin Group USA

Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ American Psychological Association (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sữ dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của APA http://www.apa.org/helpcenter/willpower-fact-sheet.aspx và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/06/làm-cách-nào-để-nâng-cao-ý-chỉ-đặt-mục-tiêu-thành-công.html. Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của APA.


Đọc tiếp

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2015

TÌNH DỤC NHIỀU CHƯA CHẮC KHIẾN BẠN HẠNH PHÚC

0
Tình dục và hạnh phúc

đH CARNEGIE MELLON  08/05/2015
Dựa trên những kết quả chung chung về tương quan giữa tần suất quan hệ tình dục và mức độ hạnh phúc, vô số các nghiên cứu và sách self-help thường cho rằng tình dục sẽ làm tăng khả năng hạnh phúc. Tuy nhiên, có nhiều lý do có thể dẫn đến tương quan tỉ lệ thuận giữa hai yếu tố trên. Ví dụ, việc cảm thấy hạnh phúc có thể đưa đến việc một người quan hệ tình dục nhiều hơn (đây là hiện tượng mà các nhà nghiên cứu gọi là “tương quan nhân-quả ngược”), hay việc có sức khỏe tốt có thể khiến một người vừa hạnh phúc, vừa quan hệ nhiều hơn.
Trong nghiên cứu đầu tiên nhằm xác định mối liên hệ nhân-quả giữa tần suất tình dục và sự hạnh phúc, các nhà nghiên cứu ĐH Carnegie Mellon đã thực hiện một thực nghiệm trong đó yêu cầu một số cặp đôi sẽ quan hệ tình dục nhiều hơn một số khác, đồng thời họ cũng quan sát mức độ hạnh phúc của cả hai nhóm trong vòng 3 tháng. Trong nghiên cứu xuất bản trên Journal of Economic Behavior & Organization, nhóm nghiên cứu kết luận rằng chỉ quan hệ tình dục nhiều hơn là không đủ để làm tăng hạnh phúc của hai người, một phần là vì nâng tần suất sẽ dẫn đến suy giảm ham muốn và tận hưởng tình dục.
Mẫu nghiên cứu bao gồm một trăm hai mươi tám nghiệm thể khỏe mạnh từ 35-65 tuổi là những cặp vợ chồng đã kết hôn. Các nhà nghiên cứu phân bố ngẫu nhiên các cặp đôi trên vào hai nhóm. Nhóm đầu tiên không nhận được yêu cầu nào về việc tăng tần suât quan hệ tình dục. Trong khi đó, nhóm thứ hai được yêu cầu tăng số lượng quan hệ lên gấp đôi.
Mỗi người tham gia sẽ hoàn thành ba loại khảo sát khác nhau. Khi bắt đầu nghiên cứu, các nghiệm thể sẽ trả lời các câu hỏi nhằm thiết lập một chuẩn mực ban đầu. Trong suốt thời gian thực nghiệm, mỗi ngày các nghiệm thể sẽ thực hiện một khảo sát trực tuyến nhằm đo lường các hành vi sức khỏe, mức độ hạnh phúc và tần suất, kiểu cùng mức độ hài lòng trong quan hệ tình dục. Cuối cùng, nghiệm thể sẽ thực hiện một khảo sát còn lại nhằm phân tích xem liệu chuẩn mực ban đầu có thay đổi sau ba tháng hay không.
Những cặp đôi được yêu cầu tăng tần suất quan hệ tình dục đã làm y như hướng dẫn. Tuy nhiên, điều này không những không làm tăng mà còn làm giảm chút ít mức độ hạnh phúc. Tìm hiểu kỹ hơn, các nhà nghiên cứu còn phát hiện ra rằng những cặp vợ chồng quan hệ nhiều hơn còn cho thấy sự suy giảm trong mức ham muốn và thích thú với tình dục. Thật ra, quan hệ tình dục nhiều không dẫn tới hai hệ quả trên. Thay vào đó, có vẻ như việc bị yêu cầu quan hệ thay vì tự khởi sự lại chính là nguyên nhân của hiện tượng này.
“Có lẽ các cặp vợ đã thay đổi lý do thúc đẩy họ quan hệ tình dục, từ một hành động tự nguyện trở thành một hành vi thuộc một phần của nghiên cứu. Nếu chúng tôi có thể tiến hành lại nghiên cứu này, chúng tôi sẽ thử khuyến khích nghiệm thể quan hệ tình dục nhiều hơn nhưng theo những cách lãng mạn hơn, thay vì chỉ đơn thuần yêu cầu họ làm điều đó,” George Loewenstein, chủ nhiệm nghiên cứu và Herbert A. Simon, GS Kinh tế và Tâm lý, ĐH Nhân văn và Khoa học Xã hội Dietrich, cho biết.
Dù vậy, Loewenstein vẫn tin rằng đa số các cặp vợ chồng vẫn quan hệ tình dục khá ít và ông nghĩ rằng việc tăng tần suất quan hệ theo một cách tích cực sẽ mang lại những lợi ích nhất định.
Tamar Krishnamurti, một trong những người thiết kế nghiên cứu, cho rằng kết quả có thể giúp các cặp đôi cải thiện đời sống tình dục và trở nên hạnh phúc hơn.
Ông cho biết thêm, “Một khi đã bắt đầu, mong muốn tình dục sẽ sụt giảm nhanh hơn so với việc tận hưởng quan hệ. Thay vì tập trung vào việc tăng tần suất tình dục cho bằng mức độ họ từng trải qua vào giai đoạn đầu của mối quan hệ, các cặp vợ chồng có thể chú ý cố gắng tạo ra những khung cảnh khuyến khích mong muốn và biến tình dục trở thành một hoạt động mang đến nhiều niềm vui hơn.”



                                                                                         
Đọc tiếp

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2015

GIÁM SÁT NHÂN VIÊN BẰNG THIẾT BỊ ĐIỆN TỬ CÓ LÀM TĂNG HIỆU SUẤT CÔNG VIỆC?

0
Giám sát nhân viên bằng thiết bị điện tử. Nên hay không?


Nhằm nỗ lực nâng cao hiệu quả làm việc của nhân viên, nhiều công ty thường tăng cường sử dụng thiết bị điện tử (Electronic Performance Monitoring – EPM) để giám sát nhân viên của mình khi làm việc. Với hệ thống trên, người quản lý có thể liên tục theo dõi và phân tích ngay lập tức tiến trình làm việc của nhân viên.

Ví dụ một công ty tổng đài điện thoại với công nghệ EPM, giám sát viên có thể xem lại các đoạn băng điện thoại cũng như lắng nghe trực tiếp các cuộc hội thoại bất kỳ lúc nào. Hệ thống giám sát điện tử cũng được sử dụng để liên tục thu thập thông tin về đo lường hiệu quả công việc, ví dụ như thời gian làm việc, tổng doanh số hay thời gian nhân viên nghỉ giải lao.

Nhưng liệu những “con mắt tàng hình” này có giúp làm tăng hiệu quả công việc hay không?
Một nghiên cứu mới của nhà khoa học tâm lý Devasheesh P. Bhave thuộc ĐH Concordia cho thấy giám sát điện tử có mối tương quan với hiệu suất công việc; không những thế, ông còn phát hiện nhân viên càng được giám sát nhiều bao nhiêu thì họ càng làm việc hiệu quả nhiều bấy nhiêu.

Bhave cho rằng sự hiện diện của EPM có tác động tương tự của việc “sếp” hiện diện trực tiếp tại văn phòng trên hành vi của nhân viên. Việc nhân viên biết rằng họ có thể bị đánh giá bất kỳ lúc nào, nhưng không biết chính xác là khi nào, sẽ khuyến khích họ làm việc chăm chỉ và hiệu quả hơn trong mọi công việc.

Để kiểm chứng lý thuyết này, Bhave phân tích đánh giá chất lượng các cuộc gọi đến tổng đài trong vòng 3 tháng. Việc đánh giá được thực hiện bởi một công ty thứ ba chuyên về lượng giá chất lượng cuộc gọi theo một hệ thống đo lường được chuẩn hóa, ví dụ như đo đạc về mức độ nhiệt tình qua giọng nói và việc tuân thủ quy trình của công ty.

Sau khi phân tích hơn 4200 cuộc gọi từ 248 nhân viên, Bhave phát hiện rằng nhân viên càng bị giám sát nhiều bao nhiêu thì hiệu quả công việc của họ càng cao bấy nhiêu.

Một thực nghiệm thứ hai tìm hiểu về mức độ giám sát viên thường xuyên sử dụng giám sát qua điện tử để kiểm tra nhân viên. 24 giám sát viên được cho điền vào một phiếu khảo sát về mức độ họ sử dụng giám sát điện tử. Họ cũng được cho đánh giá hiệu quả công việc và mức độ các hành vi tích cực và tiêu cực tại nơi làm việc của 204 nhân viên.

Một lần nữa, kết quả cho thấy mối liên hệ thuận chiều giữa mức độ sử dụng giám sát điện tử thường xuyên và hiệu quả công việc. Các nhà quản lý sử dụng giám sát điện tử càng nhiều thì hiệu quả hoạt động của nhân viên càng cao. Tuy nhiên, Bhave cũng tìm thấy những tác động khác của hệ thống này lên hành vi nhân viên.

Trong khi việc giám sát thường xuyên không cho thấy những ảnh hưởng làm giảm các hành vi tiêu cực, như lướt web hay làm việc riêng, nó lại cho thấy có mối liên hệ đến việc tạo ra nhiều hành vi tích cực hơn, như giúp đỡ đồng nghiệp.

Không có lời giải thích rõ ràng cho mối liên hệ này nhưng một khả năng là nhân viên được thúc đẩy để thực hiện nhiều hành vi tích cực hơn nhằm tạo ra ấn tượng tốt khi được đánh giá.

Dù EPM cho thấy nhiều hứa hẹn trong việc cải thiện hiệu năng của nhân viên, những tổ chức như ACLU và Electronic Frontier Foundation lại lên tiếng quan ngại về việc sử dụng giám sát điện tử tại nơi làm việc.
Bhave viết trên Journal of Personnel Psychology, “Dù kết quả cho thấy mối liên hệ tích cực giữa việc sử dụng EPM để giám sát và hiệu quả hoạt động của nhân viên, việc sử dụng EPM quá mức lại có thể gây hại cho hiệu năng của người lao động khi tính đến những quan ngại về công bằng và tính tự chủ.”

Tài liệu tham khảo
Bhave, D.P. (2014). The Invisible Eye? Electronic Performance Monitoring and Employee Job Performance. Personnel Psychology. 67(3), 605–635. DOI: 10.1111/peps.12046



Đọc tiếp

Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2015

BÀI HỌC VỀ TRỊ LIỆU ĐẾN TỪ ĐÈN GIAO THÔNG

1
Lựa chọn quyết định

HANS R. AGRAWAL 14/03/2015
Jeremy sẽ tới trong vài phút nữa. Tôi quý anh ta và thật sự muốn trợ giúp cho anh. Nhưng tôi vẫn luôn biết kết quả. Anh sẽ mỉm cười và xin lỗi, sẽ nói về cảm giác yếu đuối, mất liên kết và thất bại của bản thân. Anh sẽ tức giận về người cha lãnh cảm và dốt nát. Còn tôi sẽ cố bàn luận những vấn đề cũ kỹ trên theo một cách mới. Chúng tôi sẽ tái lập một nhịp điệu cũ và rồi cả hai sẽ mệt mỏi. Còn ngay bây giờ, vài phút trước khi phiên trị liệu bắt đầu, tôi nhâm nhi ly cà phê và quan sát người đi đường từ khung cửa sổ.
Văn phòng của tôi nằm ở tầng 3 trong một tòa nhà tại Cambridge, Massachusetts, ngay tại ngã tư đường đông đúc ở Quảng trường Harvard. Có một khung cảnh đặc biệt mà tôi đã quan sát thấy mấy lần. Một người đi tới ngã tư, muốn sang phía bên kia. Dù tín hiệu đi bộ đèn xanh nhấp nháy gọi mời, người ấy lại có vẻ bị tê liệt vì những mâu thuẫn và lưỡng lự. Nhân vật đó bước xuống đường rồi lại rút chân lên. Tín hiệu bắt đầu nhấp nháy rồi chuyển sang bàn tay đỏ chói. Ngay thời điểm đó, khi cơ hội qua đường đóng lại, người ấy mới chạy nhanh sang phía bên kia, lúc xe cộ bắt đầu tăng tốc ngay sát cạnh bên.
Đó là một hiện tượng khá kỳ lạ, và tôi thắc mắc liệu có yếu tố tâm lý nào liên quan ở đây không? Tại sao người ấy không qua đường ngay khi có tín hiệu? Tại sao đèn đỏ lại bỗng nhiên giải phóng người đó khỏi sự tê liệt? Tại sao họ lại liều lĩnh sang đường dù có thể bị xe tông?
Dần dà tôi đã có được câu trả lời. Người qua đường nhìn đèn tín hiệu như một nguồn gây lưỡng lự, một nguy cơ. Người ấy không chắc liệu đèn sẽ ra sao khi họ bước xuống đường. Người ấy không chắc mình sẽ qua đường trong bao lâu. Người ấy không tin rằng hệ thống đèn đủ tinh tế để ngay cả khi thấy đèn đang xanh, họ sẽ có đủ thời gian để tới được lề bên kia.
Mặt khác, khi đèn đổi sang màu đỏ, người ấy lại biết chính xác mình đang ở đâu. Lúc này, họ chẳng còn phải lo lắng về thời gian vì thời gian thì đã hết, khi không còn sợ hãi, người ấy trở nên thoải mái mà băng qua đường. Đèn đỏ lúc này lại gắn với sự chắc chắn, và vì thế, đồng nghĩa với sự an toàn.
Theo một cách nào đó, đây chính là định nghĩa của nhiễu tâm. Việc trốn chạy nguy hiểm và kiếm tìm an toàn một cách khiên cưỡng đã đưa bước người đi đường đến với một tình huống còn nguy hiểm và liều lĩnh hơn. Họ cuối cùng đã chọn một mối nguy trước mắt thay vì một mối nguy còn chưa xuất hiện.
Trở lại với Jeremy.
Jeremy, tầm bốn mươi tuổi, đến trị liệu tâm lý vào thời điểm khó khăn nhất trong sự nghiệp của anh. Anh gầy dựng một công ty riêng nhưng lại thất bại. Sau cùng, anh chẳng biết mình sẽ phải làm gì. Anh đã giành phần lớn đời mình chuẩn bị làm một điều gì đó thật quan trọng, thu thập nhiều bằng cấp cao từ những trường đại học danh tiếng. Nhưng lúc này, khi bước vào tuổi trung niên, anh trở nên lạc lối, không có danh tiếng nghề nghiệp cũng chẳng có điều gì để thuật lại về đời mình. Anh cảm thấy văn bằng không đem lại cho anh những kỹ năng thực tế cần có để thành công. Trong suy nghĩ của mình, anh chỉ là một kẻ bịp bợm. Hơn nữa, anh còn nhìn bản thân như một người không thể kiểm soát và sử dụng những gì anh không biết.
Một trong những chiến lược đối phó với nỗi sợ thất bại của anh là quăng mình vào thật nhiều dự án cùng một lúc. “Cố quá thành quá cố”, anh hứa thật nhiều, cam kết thật nhiều để rồi cuối cùng lại làm những đồng nghiệp đặt niềm tin nơi anh phải thất vọng. Trớ trêu thay, để bảo vệ bản thân trước những nguy cơ thất bại, anh lại chọn cách lao mình thẳng vào những thất bại đó.
Huyễn tưởng về trị liệu của Jeremy là nó sẽ đem lại cho anh sự tự tin và can đảm cần để chinh phục thế giới. Hay ít nhất là để kiếm ra tiền. Chúng tôi đã giành phần lớn thời gian để tìm hiểu mối quan hệ của anh và người cha, một nhân vật thông minh, vĩ đại, người luôn bắt nạt và xem thường vợ con mình. Ông xem Jeremy như là đứa luôn lo lắng và sợ hãi như mẹ của anh, thay vì là người mạnh mẽ, gan dạ như chính ông.
Trong suốt năm đầu tiên trị liệu, Jeremy tự nguyện làm việc tại công ty kỹ thuật mà cha anh đã xây dựng. Jeremy đến trị liệu hết buổi này đến buổi khác, phiền trách cha mình đã phỉ báng và phớt lờ anh trong bất kỳ nhiệm vụ nào anh được giao: huy động vốn, nộp hồ sơ xin bản quyền, thuê mướn nhân viên. Jeremy biết trước những điều này sẽ xảy ra, vậy tại sao anh vẫn đâm đầu vào?
Chúng ta có thể hiểu được lựa chọn của Jeremy từ nhiều góc độ khác nhau. Trong đó, một cách nhìn là anh đang cố gắng sửa chữa mối quan hệ cha-con chưa bao giờ được gắn kết. Một quan điểm khác là dù nhận thức tất cả những nguy cơ, anh vẫn chọn việc ở lại trong gia đình thay vì phải đánh cược với một thế giới tràn ngập những khả năng anh còn chưa biết.
Vào chính ngày hôm ấy, Jeremy trông kích động hơn bình thường. “Từ lần gặp trước, có rất nhiều chuyện xảy ra với tôi,” anh nói, “Tôi bây giờ là một mớ hỗn độn.”
Trong đầu tôi xuất hiện hàng đống những giả thuyết. Anh ta bị đuổi việc? Anh ta gặp vấn đề về sức khỏe? Có ai qua đời chăng?
Hóa ra, công ty của anh và cha anh nhận được phản hồi rằng sản phẩm của họ hoạt động tốt hơn kì vọng. Đó là bước tiến quan trọng, đảm bảo cho việt họ sẽ nhận được thêm nhiều tài trợ cho dự án. Công ty nay đã hoạt động thực thụ và trở nên rất có giá trị. Rất có thể năm tới nó sẽ được mua lại với giá cao và lúc đó cha con họ sẽ có dịp chúc mừng nhau vì đã hợp tác thành công.
Tuy nhiên Jeremy lại rất hoang mang. “Chúng tôi đã đạt được những gì chúng tôi muốn, điều đó rất tuyệt, thật sự rất đáng kinh ngạc,” anh nói, “Nhưng tại sao tôi lại cảm thấy kinh khủng như thế này?”
Đây là một miền đất lạ với Jeremy và anh đang rất sợ hãi. Anh bị gắn chặt với cảm giác vô dụng và mắc kẹt với một mối quan hệ “tưởng chừng không bao giờ có” với cha mình. Nếu anh để bản thân nếm mùi chiến thằng và rồi tất cả lại đổ vỡ thì sao? Bây giờ anh lại có quá nhiều thứ để mất. Thậm chí mọi việc còn có thể tệ hại hơn, nếu anh có được mọi thứ anh muốn thì sao? Rồi anh sẽ là ai? Anh không biết phải dung nạp một nhân dạng thành công và một hình ảnh đứa con “đáng giá” mới này như thế nào. Tuy nhiên, anh vẫn mong muốn có được chúng dù việc này sẽ mang đến một cảm giác mất mát kì lạ: Đây không phải là “bản thân” mà anh vẫn biết.
Tín hiệu đèn xanh nay đang nhấp nháy gọi mời Jeremy bước qua đường. Nhưng anh lại trở nên tê liệt.
Bài hát “Me and Bobby McGee” diễn tả rất đúng trường hợp này: “Freedom’s just another word for nothing left to lose.” – “Tự do chỉ là một cách nói khác của việc không còn gì để mất.” Chúng ta ai cũng sợ hãi những gì mình có thể dễ dàng đánh mất, dù là địa vị nghề nghiệp hay ai đó để yêu thương. Chúng ta bị mắc kẹt trong một tình huống tiến thoái lưỡng nan. Theo đuổi những điều tốt đẹp có thể khiến ta sợ hãi nhưng từ chối chúng lại có thể trở nên vô cùng nguy hiểm.


Đọc tiếp

Thứ Ba, 26 tháng 5, 2015

TRANG PHỤC ẢNH HƯỞNG ĐẾN TƯ DUY CỦA BẠN RA SAO?

0
Trang phục phù hợp cho phỏng vấn

Hẳn chúng ta đã biết quần áo ảnh hưởng đến cách người khác nhìn nhận chúng ta ra sao; khi đi phỏng vấn, dù bạn có giỏi giang và tài năng như thế nào nhưng quần áo tuềnh toàng chắc hẳn sẽ khiến “sếp” tương lai đặt dấu chấm hỏi về tham vọng làm việc của bạn.

Tuy nhiên, quần áo không chỉ dừng lại ở việc định hình cách nhìn của mọi người đối với bạn. Một nghiên cứu mới của các nhà tâm lý tại ĐH Bang California và ĐH Columbia cho thấy quần áo còn có thể ảnh hưởng đến chính suy nghĩ của bạn.

Xuyên suốt 5 thực nghiệm, các tác giả Michael Slepian, Simon Ferber, Joshua Gold và Abraham Rutchick đã phát hiện rằng việc cố gắng gây ấn tượng bằng trang phục còn giúp nâng cao khả năng tư duy trừu tượng của cá nhân.

Các nhà nghiên cứu viết, “Trang phục nghiêm túc không chỉ ảnh hưởng đến cách người khác nhìn nhận cá nhân và cách cá nhân nhìn nhận bản thân mà còn tác động đến việc ra quyết định thông qua những ảnh hưởng lên cách thức xử lý.”

Slepian và đồng sự quan tâm nghiên cứu đến cách thức quần áo chỉnh tề, tương tự như ngôn ngữ, tạo ra khoảng cách về tâm lý và xã hội giữa con người như thế nào. Ví dụ, chúng ta thường nhắc đến một người không thân thiết bằng chức danh của họ, thay vì bằng tên, ngay cả khi ta và người đó có cùng địa vị xã hội.

Các nghiên cứu mới đây cho thấy khoảng cách xã hội thể hiện qua hành vi lịch sự có thể làm tăng khả năng tư duy trừu tượng; ví dụ, một nghiên cứu cho thấy khi yêu cầu người tham gia nhắc đến ai đó một cách lịch sự, họ thường sẽ sử dụng ngôn ngữ trừu tượng nhiều hơn. Về bản chất, những sự kiện mang “khoảng cách” về tâm lý thường được nhìn nhận theo hướng trừu tượng hơn, trong khi những sự kiện “gần gũi” thường được cân nhắc cụ thể hơn.

Trang phục nghiêm túc thường được sử dụng trong những bối cảnh không thân mật – điều này khiến cho chúng trở nên kiểu y phục mang “khoảng cách xã hội”.

“Cụ thể hơn, vì trang phục chỉnh tề gắn liền với việc gia tăng khoảng cách xã hội, chúng tôi cho rằng chúng cũng sẽ củng cố tiến trình nhận thức trừu tượng,” các nhà khoa học viết trên tạp chí Social Psychological and Personality Science.

Trong một chuỗi thực nghiệm, các sinh viên mang quần áo bình thường được yêu cầu đánh giá mức độ “nghiêm túc” của y phục họ đang mang so với bạn bè mình. Sau đó họ sẽ thực hiện một loạt các trắc nghiệm được chuẩn hóa nhằm đo đạc phong cách xử lý nhận thức của họ.

Nhóm nghiên cứu đưa cho sinh viên một danh sách các hành động và họ được yêu cầu chọn lựa giữa cách giải thích trừu tượng và cụ thể cho mỗi hành động. Ví dụ, “bỏ phiếu” có thể được mô tả theo nghĩa trừu tượng là “làm ảnh hưởng đến kết quả bầu cử” hay được diễn dịch theo nghĩa cụ thể hơn là “đánh dấu vào người mình chọn”.

Ngay cả sau khi kiểm soát các yếu tố về kinh tế xã hội, những sinh viên mang quần áo lịch sự hơn vẫn cho thấy khuynh hướng xử lý trừu tượng nhiều hơn.

Trong một thực nghiệm khác, 54 sinh viên đại học được yêu cầu mang đến phòng thực nghiệm hai bộ quần áo để phục vụ nghiên cứu “giả mạo” về việc cách con người hình thành ấn tượng dựa trên trang phục. Một bộ trang phục sẽ là trang phục chỉnh tề để đi phỏng vấn và bộ còn lại là bộ đồ bình thường các bạn mặc đi học. Những người tham gia sau đó sẽ được chỉ định ngẫu nhiên để mặc một trong hai bộ đồ trên.

Tiếp theo, các sinh viên sẽ hoàn thành một trắc nghiệm về xử lý nhận thức nhằm xác định xem liệu họ chú ý đến bức tranh tổng thể hay đến những chi tiết nhỏ nhặt. Sau khi xem qua một loạt các chữ cái lớn được hình thành từ nhiều chữ cái nhỏ (chữ L hay H lớn được hình thành từ 8 chữ L và H nhỏ hơn), nghiệm thể cần phải xác định xem mỗi hình trên là một chữ cái lớn hay là chuỗi các chữ nhỏ.

Đúng như dự đoán, những ngườit ham gia mặc quần áo nghiêm túc thường xử lý thông tin một cách toàn diện (nhìn ra chữ lớn) nhiều hơn xử lý cục bộ (nhiều chữ cái nhỏ) so với những sinh viên mang quần áo “bụi bặm”.

Cách thức xử lý có thể ảnh hưởng đến nhiều thành tố quan trọng tại nơi làm việc, từ cách con người ra quyết định cho tới cách tập trung vào công việc. Tuy nhiên, hãy khoan vứt bỏ những bộ quần áo bình thường, các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng cần có những nghiên cứu tiếp theo với lượng mẫu lớn hơn, đa dạng hơn để hiểu rõ mức độ y phục chỉn chu ảnh hưởng đến nhận thức của chúng ta.

Tài liệu tham khảo
Slepian, M. L., Ferber, S. N., Gold, J. M., & Rutchick, A. M. (2015). The Cognitive Consequences of Formal Clothing. Social Psychological and Personality Science. doi: 10.1177/1948550615579462




Đọc tiếp

Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2015

TẠI SAO TRẺ CẦN LÀM VIỆC NHÀ? LÀM SAO ĐỂ TRẺ LÀM VIỆC NHÀ?

0
Cách giúp trẻ làm việc nhà
Jennifer Breheny Wallace

Có vẻ như ngày nay những đòi hỏi về thành công “có thể đo đạc được” nơi trẻ - từ những kỹ năng cơ bản cho đến việc thi vào các trường Đại Học – đang khiến cho những “công việc nhà” gần như biến mất khỏi danh sách hoạt động của các em. Trong một khảo sát trên 1001 người trưởng thành tại Hoa Kỳ của Braun Research, 82% cho biết họ lớn lên với công việc nhà, nhưng chỉ 28% trong số họ yêu cầu chính con mình làm điều tương tự. Học sinh chịu không ít áp lực từ việc học thêm, tham gia các câu lạc bộ hay việc phải có được tấm vé vào đại học, những hoạt động “làm đẹp CV” có vẻ như đang giết chết công việc nhà – mặc dù chẳng rõ những hoạt động ấy liệu có giúp các bạn sử dụng thời gian của mình tốt hơn hay không.

“Cha mẹ ngày nay muốn con mình giành thời gian cho những thứ giúp mang lại thành công cho các em, nhưng trớ trêu thay, chúng ta lại ngưng làm một việc đã được minh chứng là chỉ báo của thành công – đó chính là làm việc nhà” Richard Rende, nhà tâm lý học phát triển thuộc Paradise Valley, Arizona, cho biết. Thật vậy, những nghiên cứu trong nhiều thập kỷ qua cho thấy công việc nhà đem lại rất nhiều lợi ích khác nhau – từ học thuật, cảm xúc cho tới cả ngành nghề tương lai.

Theo một nghiên cứu của Marty Rossmann, giáo sư danh dự tại ĐH Minnesota, cho trẻ làm việc nhà ngay từ khi các em còn bé giúp đem lại cho các em cảm giác có trách nhiệm, quyền hành và tự lực lâu dài. TS Rossmann đã phân tích dữ liệu từ một nghiên cứu chiều dài theo sát 84 trẻ xuyên suốt 4 giai đoạn cuộc sống của các bạn –từ mẫu giáo, đến lúc tuôi 10 và 15, và cuối cùng vào giữa những năm tuổi 20. Bà nhận thấy khi so sánh với những bạn không làm việc nhà hay chỉ bắt đầu làm khi vào tuổi “teen”, những bạn bắt đầu làm việc nhà từ lúc 3,4 tuổi khi lớn lên thường có mối quan hệ tốt với bạn bè và gia đình, đạt được thành công trong học tập và nghề nghiệp, đồng thời các bạn cũng độc lập hơn.

Tâm lý gia Richard Weissbourd thuộc Cao học Giáo dục Harvard còn ghi nhận, công việc nhà cũng dạy cho các bạn cách thấu hiểu và đáp trả những nhu cầu của người khác. Trong một nghiên cứu vào năm vừa qua, ông cùng nhóm nghiên cứu đã khảo sát 10000 học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông, trong đó, yêu cầu các bạn xếp hạng những điều các bạn trân trọng: thành công, hạnh phúc hay việc quan tâm đến người khác.

Gần 80% lựa chọn thành công và hạnh phúc thay vì quan tâm đến người xung quanh. Tuy nhiên, Weissbourd cũng chỉ ra rằng nghiên cứu cho thấy hạnh phúc cá nhân tùy thuộc nhiều nhất vào mức độ mối quan hệ chứ không phải vào thành công cao hay thấp. Ông nói “Chúng ta đang bị mất cân bằng”. Ông cho rằng một trong những cách tích cực để điều chỉnh những ưu tiên trên là học cách trở nên tử tế và hữu ích ngay từ gia đình.

Theo tâm lý gia Madeline Levine, nếu lần tới mà con bạn muốn bỏ việc nhà để làm bài tập, hãy cưỡng lại mong muốn “giải thoát” chúng. Việc bỏ qua việc nhà vì chú tâm tranh đua học tập sẽ đưa đến cho trẻ một thông điệp rằng điểm số và thành công thì quan trọng hơn yêu thương và quan tâm người khác. Bà nói “Những điều có vẻ nhỏ nhoi trong giây lát lại có thể tích góp lại thành lớn lao về sau này.”

Dưới đây  là một trong những cách tốt nhất để khuyến khích trẻ làm việc nhà
Cẩn thận với lời nói của bạn. Trong một nghiên cứu với 149 trẻ từ 3 đến 6 tuổi, các nhà nghiên cứu phát hiện việc cảm ơn trẻ vì đã là “người giúp đỡ”, thay vì chỉ đã “giúp đỡ”, sẽ làm tăng mong muốn chung tay giúp sức của trẻ. Các em được thúc đẩy bởi ý tưởng xây dựng cho mình một nhân dạng tích cực-được biết đến như một người thích giúp đỡ.

Lên lịch làm việc nhà. Hãy viết công việc nhà lên lịch, kế bên giờ học thêm hay giờ chơi thể thao, và hãy duy trì chúng cách đều đặn.

Biến việc nhà thành trò chơi. Giống chơi điện tử, hãy bắt đầu bằng những level thấp và cho trẻ đạt được những cấp độ trách nhiệm cao hơn, bắt đầu từ sắp xếp quần áo và “lên cấp” trở thành người điều chỉnh máy giặt.

Tách biệt tiền tiêu vặt và công việc nhà. Nghiên cứu cho thấy những phần thưởng bên ngoài có thể làm giảm hiệu quả công việc và động lực bên trong. Với công việc nhà, các nhà tâm lý cho rằng tiền bạc có thể làm giảm động lực giúp đỡ của trẻ, biến một hành động vị tha thành một giao dịch đổi chác.

Kiểu nhiệm vụ cũng quan trọng. Để tạo dựng những hành vi tích cực như thấu hiểu, việc nhà cần phải thành thói quen và tập trung vào việc quan tâm đến gia đình (như quét phòng khách hay giặt đồ của mọi người), chứ không chỉ quan tâm đến bản thân (tự dọn phòng hay tự giặt đồ). Các nhà tâm lý còn nói thêm rằng để trẻ lựa chọn nhiệm vụ cũng khiến các em tham gia nhiều hơn.

Nói về việc nhà theo một cách khác. Để hợp tác tốt hơn, thay vì nói “Lam việc nhà di!”, TS. Rende sẽ nói “Hãy cùng làm việc nhà của chúng ta”. Điều này cho thấy việc nhà không chỉ là một nhiệm vụ mà còn là một cách quan tâm đến người khác.

PR cho việc nhà. Đừng gắn việc nhà với hình phạt. Luôn nói về việc nhà, kể cả của bạn, theo một cách tích cực, hay ít nhất là không tiêu cực. Nếu bạn mà còn than phiền về việc dọn chén bát thì con bạn cũng sẽ làm y như thế.

http://www.wsj.com/articles/why-children-need-chores-1426262655?KEYWORDS=why+children+need+chore

Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter