Thứ Tư, 7 tháng 10, 2015

MỐI LIÊN HỆ GIỮA NHẮN TIN ĐIỆN THOẠI VÀ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH NỮ

0
Tác động của nhắn tin và kết quả học tập
Theo một nghiên cứu vừa được công bố của Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (APA), các bạn học sinh nữ “nghiện” nhắn tin thường có kết quả học tập tệ hơn so với các bạn học sinh nam.
Chủ nhiệm nghiên cứu, TS. Kelly Lister-Landman thuộc trường ĐH Cộng đồng Hạt Delaware, cho biết, “Có vẻ như vấn đề đến từ bản chất cưỡng bách của việc nhắn tin thay vì đơn thuần từ tần số tin nhắn. Triệu chứng nhắn tin cưỡng chế (cảm thấy bắt buộc phải nhắn tin) phức tạp hơn nhiều so với việc nhắn tin nhiều thông thường. Nó liên quan tới việc các bạn cố gắng và thất bại trong việc ‘cai’ nhắn tin, các bạn có thể trở nên phòng vệ hơn khi người khác đặt câu hỏi về hành vi này, đồng thời sẽ cảm thấy thất vọng vì không thể thực hiện hành động nhắn tin.”
Nhắn tin hiện đã trở thành phương tiện giao tiếp yêu thích của các bạn tuổi vị thành niên. Theo nghiên cứu Dự án Internet và Cuộc sống Hoa Kỳ Pew do Lenhart thực hiện năm 2012, các bạn thiếu niên nhắn và nhận trung bình 167 tin nhắn một ngày. Nghiên cứu cũng cho thấy 63% các bạn thiếu niên mỗi ngày đều nhắn tin trong khi chỉ 39% sử dụng điện thoại để gọi điện.

Trong nghiên cứu đầu tiên về mối liên hệ giữa hành vi nhắn tin cưỡng chế và kết quả học tập này, Liser-Landman và cộng sự đã khảo sát 403 học sinh (211 nữ và 192 nam) học lớp 8 và lớp 11trong các trường học thuộc những thành phố bán nông thôn vùng Trung Tây Hoa Kỳ. Đa phần các em đều đến từ các gia đình có cả cha lẫn mẹ (68%) và là người da trắng (83%), mẫu này giúp đại diện các đặc điểm dân số của các trường học trong hạt.

Cùng với những yếu tố có liên quan khác, Lister-Landman cùng các đồng nghiệp đã thiết kế Thang đo Nhắn tin Cưỡng chế để đánh giá cách thức việc nhắn tin tác động đến khả năng hoàn thành các nhiệm vụ của những người tham gia nghiên cứu, mức độ nhắn tin và liệu họ có cố gắng giấu nhẹm hành vi nhắn tin của mình hay không. Các học sinh cũng hoàn thành một bảng hỏi về năng lực học tập và khả năng tự điều chỉnh trong trường. Kết quả cho thấy mối liên hệ giữa nhắn tin cưỡng chế và khả năng học tập chỉ hiện diện trong nhóm học sinh nữ, các yếu tố liên quan đến học tập bị ảnh hưởng bao gồm điểm số, mức độ gắn kết với trường lớp và cảm giác về năng lực học thuật.

Lister-Lindman cho biết, tuy các bạn nữ không nhắn tin thường xuyên hơn các bạn nam nhưng có vẻ như mục đích nhắn tin của hai bên có những sự khác biệt. “Từ những gì chúng tôi biết về truyền thông Internet, nghiên cứu trước đây (Baron, 2004) cho thấy học sinh nam thường dùng Internet để thu thập thông tin trong khi học sinh nữ thường dùng Internet để tương tác xã hội và xây dựng quan hệ nhiều hơn”. “Các bạn nữ trong giai đoạn này cũng nói chuyện, nghiền ngẫm, suy đi nghĩ lại về nhiều việc, trong nhiều hoàn cảnh, hơn các bạn nam. Vì vậy, có thể bản chất những tin nhắn mà các nữ gửi và nhận sẽ gây xao nhãng, cản trở khả năng học tập nhiều hơn.”

Các nhà nghiên cứu cũng ghi nhận rằng nghiên cứu này bị giới hạn bởi những câu trả lời mang tính tự đánh giá chủ yếu do những học sinh da trắng thực hiện tại một thành phố nhỏ miền Trung Tây. Nghiên cứu trong tương lai có thể sẽ tiếp tục ví dụ thông qua việc quan sát các học sinh khi nhắn tin, tìm hiểu chi phí điện thoại hàng tháng và phỏng vấn với cha mẹ. “Hơn nữa, sẽ rất thú vị nếu chúng ta nghiên cứu những động cơ của trẻ vị thành niên khi nhắn tin, đồng thời tìm hiểu tác động của việc thực hiện đa tác vụ lên khả năng học tập”, Lister-Landman cho biết.

Nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí Psychology of Popular Media Culture® của APA
Article: “The Role of Compulsive Texting in Adolescents’ Academic Functioning,” by Kelly M. Lister-Landman, PhD, Chestnut Hill College (when the study was conducted; now at Delaware County Community College); Sarah E. Domoff, PhD, University of Michigan; and Eric F. Dubow, PhD, Bowling Green State University and University of Michigan, Psychology of Popular Media Culture, published online Oct. 5, 201
Link nghiê cứu:


Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ APA (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của APA http://www.apa.org/news/press/releases/2015/10/compulsive-texting-girls.aspx và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/10/tac-hai-nhan-tin-va-ket-qua-hoc-tap-hoc-sinh.html .Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của APA và thông báo cho người dịch.

Đọc tiếp

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2015

LIỆU CÁC CHÚ CHÓ CÓ KHẢ NĂNG NGHE LỜI NÓI CỦA CHÚNG TA HAY KHÔNG?

0
Chó có khả năng hiểu tiếng con người không?
 Khi con người nói chuyện với nhau, chúng ta không chỉ phản ứng lại trước những câu chữ lời nói mà còn đáp trả lại những yếu tố khác như cung giọng kết hợp cùng giới tính của người nói. Một báo cáo mới trên tạp chí Current Biology vừa đưa ra những bằng chứng đầu tiên về việc động vật, cụ thể là chó, cũng có khả năng phân biệt và xử lý những thành phần khác nhau trong lời nói của con người.

“Dù trong nghiên cứu của mình, chúng tôi không thể xác định được mức độ hay cách thức loài chó hiểu được những thông tin lời nói con người nhưng chúng tôi vẫn có thể khẳng định rằng chó có khả năng phản ứng trước những thông tin ngôn từ và phi ngôn từ có liên quan đến người nói. Đồng thời, những thành phần trên có vẻ được xử lý trong những vùng não khác nhau của chó,” Victoria Ratcliffe thuộc Trường ĐH Tâm lý, Viện Đại học Sussex, cho biết.
Những nghiên cứu trước đây cho thấy chó thường sử dụng bán cầu não trái nhiều hơn bán cầu não phải khi chúng xử lý các âm thanh do những chú chó khác phát ra. Ratcliffe cùng giám sát của mình là David Reby cho rằng việc tiếp tục nghiên cứu xem liệu chó có cùng những phản ứng trên khi tiếp nhận những thông tin từ lời nói con người là hoàn toàn phù hợp. Nhóm nghiên cứu phát tiếng nói từ cả hai phía của các chú chó được thực nghiệm để âm thanh đi vào tai chúng cùng lúc và có cùng âm lượng.
Ratcliffe giải thích, “Tín hiệu đầu vào từ mỗi tai đa phần sẽ được dẫn truyền về hai phía bán cầu não đối diện. Nếu một bán cầu có chức năng chuyên dụng hơn trong việc xử lý một số thông tin âm thanh, những thông tin đó sẽ được xem như đến nhiều hơn từ phía tai đối diện. ”
Nếu chú chó quay qua phía bên trái, điều này cho thấy thông tin trong âm thanh được thu nhận nhiều hơn từ tai trái, đồng nghĩa với việc bán cầu não phải có chức năng chuyên biệt hơn trong việc xử lý loại thông tin đó.
Các nhà nghiên cứu đã quan sát những thiên hướng chung trong cách phản ứng của các chú chó trước những phần khác nhau trong lời nói con người. Khi được nghe những mệnh lệnh ngôn ngữ quen thuộc, trong đó những từ có nghĩa được chú ý làm nổi bật, chó thường cho thấy có xu hướng xử lý bằng bán cầu não trái, do chúng sẽ quay nhiều hơn về bên phía tay phải. Nhưng khi cố tình làm nổi bật những tín hiệu phi ngôn từ khác hay âm điệu, chó thường có xu hướng xử lý bằng bán cầu não phải
Reby cho biết, “Điều này đặc biệt thú vị vì kết quả trên cho thấy tiến trình xử lý các thành phần lời nói trong não bộ của chó được chia thành hai bán cầu theo cách khá tương đồng với sự phân chia ở con người.”
Đương nhiên, điều này không có nghĩa là chó thật sự hiểu được hết tất cả những gì con người nói hay chúng có những khả năng ngôn ngữ như con người. Tuy nhiên, theo Ratcliffe, những kết quả này ủng hộ ý tưởng rằng người bạn bốn chân của chúng không chỉ chú ý “đến việc chúng ta là ai và cách thức chúng ta ra lệnh, nhưng còn chú ý đến những điều chúng ta nói.”
Đây chắc hẳn là một tin vui cho những người yêu mến loài chó, những người giành nhiều thời gian nói chuyện với những người bạn trung thành của mình. Chúng có thể không phải lúc nào cũng hiểu bạn, nhưng chắc chắn chúng thật sự có lắng nghe bạn.
Bài viết khác cùng chủ đề:
KHOA HỌC LÝ GIẢI LIÊN HỆ TÌNH CẢM GIỮA NGƯỜI VÀ CHÓ:
http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/04/khoa-hoc-tinh-cam-tam-ly-cho-va-nguoi.html

Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Psy Post (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Psy Post http://www.psypost.org/2014/11/dogs-hear-words-say-29733 và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/10/cho-hieu-ngon-ngu-tieng-nguoi-hay-khong.html .Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Psy Post và thông báo cho người dịch.

Đọc tiếp

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2015

NGHIÊN CỨU CHO THẤY NHÂN VIÊN DỄ CÁU GIẬN KHI NHẬN EMAIL SAU GIỜ LÀM VIỆC

0
Làm việc sau giờ làm
Nghiên cứu của trường ĐH Texas Arlington chỉ ra rằng những nhân viên nhận thư điện tử từ công ty sau giờ làm việc thường dễ tức giận hơn và điều đó có thể ảnh hưởng đến đời sống cá nhân của họ. 
Marcus Butts, Phó Giáo sư ĐH Texas Arlington, thuộc Khoa Quản lý của trường CĐ Kinh doanh, là tác giả chính của nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Academy of Management. William Becker , trợ lý giáo sư  Khoa Quản lý tại TCU, và Wendy Boswell, giáo sư môn Quản lý trường Đại học Texas A&M, đã phối hợp cùng Butts trong nghiên cứu này.

Các nhà nghiên cứu khảo sát 341 người trưởng thành trong vòng bảy ngày nhằm theo dõi cảm xúc của họ mỗi khi mở một email ngoài giờ làm việc. Ba tác giả đã sử dụng danh sách liên lạc trên Facebook, Linked In và Twitter để xây dựng mẫu nghiên cứu.
“Những người tham gia nghiên cứu cho biết họ trở nên tức giận khi nhân email hoặc tin nhắn liên quan đến công việc khi đã về nhà, đặc biệt khi thông điệp mang tính chất tiêu cực hoặc đòi hỏi quá nhiều thời gian cá nhân,” Butts nói. “Tương tự, những người có xu hướng cố gắng tách biệt công việc với đời sống cá nhân thường sẽ trải nghiệm tình trạng mâu thuẫn công việc – cuộc sống này nhiều hơn. Email sau giờ làm thực sự ảnh hưởng đến đời sống cá nhân của họ.”
Nhìn chung, Butts cho rằng có 2 loại nhân viên chính: phân tách (segmentors) và tích hợp (integrators).
Ông cho rằng người phân tách muốn phân biệt rạch ròi giữa công việc và cuộc sống riêng tư. Không có gì đáng ngạc nhiên là kiểu người này dễ chịu ảnh hưởng tiêu cực nhất khi phải đối mặt với những cuộc trao đổi về công việc sau giờ làm.
Butts mô tả kiểu người tích hợp là những người luôn muốn biết tình trạng công việc của mình khi họ nhận được email hay tin nhắn. Họ cũng cảm thấy bực tức khi phải nhận các thông tin ngoài giờ này tuy nhiên chúng không ảnh hưởng đến đời sống cá nhân của họ
Rachel Croson, Hiệu trưởng trường CĐ Kinh doanh, cho rằng nghiên cứu của Butts rất quan trọng bởi truyền thông điện tử đã trở thành một phần tạo nên cuộc sống của mỗi người.
“Điện thoại thông minh cùng văn hóa “luôn trực tuyến” đi kèm khiến cho việc trao đổi những vấn đề công việc sau giờ làm trở nên phổ biến,” Croson chia sẻ. “Thế nhưng, giống như những yếu tố khác trong kinh doanh, nó có thể được thực thi một cách tiêu cực hay tích cực, đồng thời cách thức thực hiện đóng vai trò rất quan trong cho sự thành công. Nghiên cứu này không chỉ giúp các nhà lãnh đạo biết có nên hay không, hay vào khi nào sẽ liên lạc, mà còn chỉ cho họ biết cách thức giao tiếp hiệu quả với nhân viên của mình.”
Một vài đề nghị trong nghiên cứu bao gồm tập huấn về những điều nên và không nên đề cập trong email, tin nhắn, thiết lập giới hạn về thời gian gửi thư điện tử, hướng dẫn cách giao tiếp phù hợp và gợi ý những chủ đề nào nên nói trực tiếp thay vì thông qua các phương tiện điện tử.
“Đây là một khía cạnh mới trong giao tiếp công việc, những đề nghị này có thể áp dụng trong một bộ phận của công ty nhưng chưa chắc phù hợp với các phòng ban khác trong doanh nghiệp,” Butt nói. “Chìa khóa của vấn đề là cần phát triển nhịp độ truyền thông thích hợp trong bộ phận mình”  
Butt đề cập đến một trong những khám phá thú vị nhất của nghiên cứu: Những nhân viên nhận được các thông điệp mang nội dung tích cực sau giờ làm việc thường sẽ cảm thấy hạnh phúc. Tuy nhiên, những “cảm xúc tích cực” này cũng không kéo dài lâu.
Butt chia sẻ chính vợ ông, Erin, đã khơi dậy mối quan tâm của ông về chủ đề giao tiếp truyền thông điện tử sau giờ làm. Bà đang làm việc tại công ty đôi khi gửi email và tin nhắn công việc sau giờ làm.

Butt cho biết, “Tôi thường quan sát cách giao tiếp sau giờ làm việc của bà ấy ảnh hưởng đến đời sống riêng tư của chúng tôi theo cách tích cực hay tiêu cực hơn, và tôi nghĩ rằng những người khác cũng sẽ có những trải nghiệm tương tự.” 

Nghiên cứu khác về việc xem email trên HLTL:
BỚT XEM EMAIL - BỚT CĂNG THẲNG:
http://hanhlangtamly.blogspot.com/2014/12/bot-xem-email-bot-cang-thang.html
Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Psy Post (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Psy Post http://www.psypost.org/2015/02/study-shows-employees-become-angry-when-receiving-after-hours-email-texts-32093 và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/09/kho-chiu-nhan-email-sau-go-lam.html. .Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Psy Post và thông báo cho người dịch.
Người dịch: H.Y
Đọc tiếp

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2015

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ DẪN ĐẾN VẤN ĐỀ TÂM LÝ Ở NAM GIỚI CÓ UNG THƯ

0
Ung thư và hỗ trợ xã hội
Hannah Dale cùng các cộng sự tại ĐH St. Andrews đã phát hiện ra những chỉ báo quan trọng dự đoán nguy cơ gặp phải các vấn đề tâm lý ở các bệnh nhân nam bị ung thư.
Nghiên cứu thực hiện trên nhóm 127 nghiệm thể nam giới từ 18 tuổi trở lên có chẩn đoán ung thư được lựa chọn từ Dịch vụ Sức khỏe Quốc và các tổ chức từ thiện từ tháng 4/2009 đến tháng 4/2011.
Những người tham gia được lượng giá về các yếu tố nhân khẩu, khả năng nhận hỗ trợ từ xã hội, mức độ lo âu, trầm cảm và khổ đau (sử dụng Distress Thermometer). Dữ liệu về các bệnh nhân ung thư từ Nghiên cứu Chiều dài Scottish được kiểm chứng nhằm đảm bảo mẫu nghiên cứu phù hợp làm đại diện cho nhóm bệnh nhân nam bị ung thư.
Kết quả cho thấy những người ly thân hay ly dị thường ít được nhận những hỗ trợ về mặt xã hội và có mức trầm cảm cao hơn. Các bệnh nhân với độ tuổi càng trẻ thì càng dễ lo âu và đau khổ hơn. Khu vực sống thiếu thốn cũng có liên hệ với mức độ trầm cảm và lo âu cao. Mức độ hỗ trợ xã hội cũng là chỉ báo quan trọng cho sức khỏe tâm lý.
Những kết quả này rất quan trọng trong việc xác định những bệnh nhân với chẩn đoán ung thư có nguy cơ cao trong việc gặp những vấn đề về tâm lý.
Hannah Dale cho biết:
“Nam giới thường có mạng lưới nhỏ hơn so với phụ nữ. Họ thường chỉ tìm sự hỗ trợ từ vợ của mình. Một vài nam giới ly thân hay ly dị sẽ thiếu đi nguồn hỗ trợ đó, điều này khiến họ dễ gặp trầm cảm hơn.
Các kết quả khác cho thấy tuổi tác và môi trường sống nghèo đói cũng liên hệ tới việc suy giảm sức khỏe về tâm lý ở nam giới bị ung thư. Cần thêm các nghiên cứu khác để xác nhận những phát hiện trên. Tuy nhiên, nghiên cứu này đã cho thấy một khía cạnh thường bị bỏ quên trong khoa văn thế giới.”

 Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Psy Post (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Psy Post http://www.psypost.org/2014/12/psychological-problems-men-experiencing-cancer-29988 và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/09/van-de-tam-ly-benh-nhan-ung-thu.html .Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Psy Post và thông báo cho người dịch.
Đọc tiếp

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015

11 “MẸO” KHOA HỌC ĐỂ THUYẾT PHỤC NGƯỜI KHÁC

0
Khoa học và nghệ thuật thuyết phục
Shana Lebowitz 11/8/2015

Các nghiên cứu tâm lý tiết lộ nhiều cách khác nhau để chúng ta có thể “tranh thủ” sự giúp đỡ từ những người xung quanh – mà họ thậm chí còn không biết điều đó.
Chúng tôi tổng hợp 11 chiến lược khác nhau đã được khoa học chứng minh là có thể tạo điều kiện để người khác yêu mến, hỗ trợ hay tặng bạn những điều bạn mong muốn.
1. Sử dụng phương án “mồi nhử” để người tiêu dùng mua sản phẩm của bạn
Trong bài thuyết trình TED Talk của mình, nhà kinh tế học hành vi Dan Ariely giải thích thuật ngữ “hiệu ứng mồi nhử” thông qua một hình thức quảng cáo đã có từ lâu.
Chiến dịch quảng cáo sẽ đưa ra 3 cấp độ để người tiêu dùng lựa chọn: 59$ cho một cuốn sách online, 159$ cho bản in giấy và cũng 159$ cho cả bản giấy và online. Ariely cho biết lựa chọn $159 cho bản giấy chỉ tồn tại để khiến lựa chọn $159 cho cả hai phiên bản trở nên “hấp dẫn” hơn so với lựa chọn $59 còn lại.
Nói cách khác, nếu bạn đang gặp khó khăn trong việc bán những món hàng đắt giá hơn, hãy cân nhắc thêm vào lựa chọn thứ ba với mục tiêu khiến sản phẩm cao giá trở nên thu hút hơn.
2. Điều chỉnh môi trường để người khác ứng xử vị tha hơn
“Kích hoạt” (Priming) là hiện tượng tâm lý khi một kích thích sẽ đưa tới một phản ứng cụ thể cho một kích thích khác, thông thường là một cách vô thức.
Một nghiên cứu được trích dẫn trong cuốn “You Are Not So Smart” đã phát hiện ra rằng các nghiệm thể tham gia trò chơi tối hậu thư, khi được đặt ngồi trong một căn phòng có va-li, bìa da và bút mực, thường có xu hướng giữ lại tiền cho bản thân nhiều hơn khi được đặt trong căn phòng có những đồ vật “trung tính. Mặc dù các nghiệm thể không nhận thức được điều gì đang diễn ra, có vẻ như các đồ vật liên hệ đến kinh doanh đã tạo ra những kích thích cạnh tranh bên trên.
Chiêu thức này có thể hữu hiệu khi bạn áp dụng trong các cuộc thương thảo – thay vì gặp nhau trong các phòng hội nghị, hãy nghĩ đến những quán cà phê, nơi các đối tác có khả năng trở nên ít “hung hăng” hơn.
3. Nhận lại sự trợ giúp sau khi giúp đỡ người khác đạt được mục tiêu
Tâm lý gia Robert Cialdini cho rằng một cách để gây ảnh hưởng lên người khác là tạo ra quy luật hai chiều nơi họ. Cụ thể hơn, giúp đỡ người khác những điều họ cần sẽ khiến họ cảm thấy cần phải “trả ơn”.
Bên cạnh đó, sau khi được người khác cảm ơn, Cialdini khuyên rằng nên nói “Tất nhiên, đây là điều bạn bè/ đối tác làm cho nhau mà” thay vì “không vấn đề gì”. Như vậy, họ sẽ có cảm giác cần phải làm điều tương tự với bạn.
4. Bắt chước ngôn ngữ cơ thể của người khác
Lần tiếp theo nếu bạn có thử gây ấn tượng với nhà tuyển dụng hay một người bạn thích, hãy thử bắt chước một cách tinh tế cách người kia ngồi hay nói chuyện – nó có thể giúp bạn được người kia quý mến hơn.
Các nhà khoa học gọi đây là “hiệu ứng tắc kè bông”: Chúng ta thường thích nói chuyện với những người có cùng tư thế, phong thái, hay biểu lộ khuôn mặt của chúng ta.
Điều kì lạ nhất của hiện tượng này là nó thường diễn ra một cách vô thức – những nghiệm thể trong nghiên cứu thậm chí không nhận ra họ đang bị “sao chép”.
5. Nâng tốc độ nói để người kia dễ dàng đồng ý với bạn
Cách bạn truyền tải ý tưởng cũng quan trọng không kém nội dung lập luận của bạn. Nghiên cứu cho thấy khi có người bất đồng với bạn, nói nhanh sẽ khiến cho người kia có ít thời gian suy nghĩ điều bạn nói hơn.
Ngược lại, khi bạn đang đề cập đến một lập luận khiến người nghe đồng tình, nói chậm đi sẽ có lợi vì người nghe có thêm thời gian để đánh giá thông điệp của bạn.
6. Khiến người khác rối trí sẽ giúp họ làm theo yêu cầu của bạn
Một nghiên cứu vừa cho thấy khi những người tham gia đi từng nhà để bán thiệp từ thiện, chiến thuật “làm rối trí” giúp họ có doanh số tăng gấp đôi so với việc chỉ đơn thuần nói ra mức giá 8 bức thiệp $3. Trong kỹ thuật “làm rối trí”, các nghiệm thể nói với người mua rằng 8 bức thiệp có giá 300 xu (cũng bằng $3), và đó là “một khoảng hời” cho người mua.
Các nhà nghiên cứu cho rằng kỹ thuật trên mang lại hiệu quả do nó làm gián đoạn tiến trình suy nghĩ thông thường của người nghe. Người nghe sẽ bị phân tâm trong lúc cố gắng hình dung xem 300 xu là bao nhiêu đô-la, chính nhờ vậy mà họ chấp nhận rằng ý tưởng này đem lại lợi ích cho họ.
7. Đề nghị giúp đỡ khi người khác mệt sẽ dễ đạt hiệu quả hơn
Đầu óc đủ tỉnh táo, cảnh giác sẽ dễ nghi ngờ những lời đề nghị hơn. Tuy nhiên, khi một người cảm thấy mệt mỏi hay bị xao nhãng, họ sẽ ít suy nghĩ và vì thế thường chấp nhận những điều bạn nói là đúng.
Vậy nếu bạn có ý định nhờ vả đồng nghiệp hỗ trợ mình trong một công việc mất khoảng độ một tiếng, tốt nhất là nên nhờ họ vào cuối ngày. Lúc đó, họ đã gần hết năng lượng sau một ngày làm việc và không đủ “tỉnh táo” nhận ra rằng việc bạn nhờ có thể làm họ tiêu tốn thêm nhiều thời gian.
8. Hình ảnh đôi mắt giúp mọi người hành xử “đạo đức” hơn
Trong một nghiên cứu, các nghiệm thể thường dọn dẹp bàn ăn sạch sẽ hơn khi họ thấy hình ảnh đôi mắt thay vì hình ảnh hoa cỏ. Các tác giả nghiên cứu cho rằng đôi mắt là biểu hiện tượng trưng cho hành động giám sát xã hội.
Vậy nên mỗi khi bạn muốn mọi người ngưng xả rác hay trả sách lại cho thư viện đúng hẹn, hãy khiến họ có cảm giác mình đang bị quan sát!
9. Sử dụng danh từ thay vì động từ giúp người khác thay đổi hành vi
Trong một nghiên cứu, người tham gia được hỏi hai phiên bản của cùng một câu hỏi: “Đi bầu vào ngày mai quan trọng như thế nào với bạn?” và “Việc trở thành người đi bầu vào ngày may quan trọng như thế nào với bạn?” Kết quả cho thấy những người được hỏi câu hỏi sau thường đi bầu nhiều hơn vào ngày tiếp theo.
Có thể chúng ta bị thúc đẩy bởi nhu cầu thuộc về nên việc sử dụng danh từ giúp củng cố căn tính của chúng như một thành viên thuộc một nhóm cụ thể.
10. Làm người khác sợ dễ khiến họ giúp đỡ chúng ta hơn
Nghiên cứu cho thấy những người vừa trải qua lo âu rồi sau đó được thư giãn sẽ dễ đồng ý với các yêu cầu được đưa ra sau đó nhiều hơn. Ví dụ, những người nghe tiếng còi cảnh sát (không có thật) thường dễ đồng ý thực hiện khảo sát hơn những người không nghe.
Có lẽ việc chúng ta dồn nguồn lực nhận thức để suy nghĩ về những tình huống nguy hiểm tiềm tàng có thể gặp phải sẽ làm giảm khả năng tư duy về những yêu cầu được đưa ra sau đó.
11. Tập trung vào lợi ích của người đối diện sẽ khiến họ dễ dàng đồng ý với bạn hơn
Trong khi đàm phán, nghiên cứu cho thấy bạn nên nhấn mạnh với đối tác những điều họ sẽ có được thay vì những gì họ sẽ mất. Ví dụ, nếu bạn đang muốn bán một chiếc xe hơi, bạn nên nói, “tôi sẽ trao cho bạn chiếc xe hơi với $1000” thay vì nói “tôi muốn $1000 cho chiếc xe hơi này.”

Theo cách này, bạn sẽ có thể thuyết phục đối tác nhìn mọi việc theo một chiều hướng khác, và họ có khả năng sẽ dễ dàng đồng ý hơn.

Các bạn có thể tự do chia sẻ và sử dụng bài viết (cũng như bài dịch) này với mục đích phi thương mại với điều kiện ghi rõ nguồn là từ Business Insider (và nguồn dịch là Hành lang Tâm lý). Việc sử dụng bài viết và bản dịch này trên mạng cần phải có đường dẫn về trang bài viết của Business Insider http://www.businessinsider.com/psychological-tricks-to-influence-people-2015-8 và đường dẫn bài dịch http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/09/lam-cach-nao-thuyet-phuc-nguoi-khac.html .Những ngoại lệ khác với mục đích thương mại cần có phép bằng văn bản của Business Insider và thông báo cho người dịch.
Đọc tiếp
NHẤN VÀO LINK "BÀI ĐĂNG CŨ HƠN" Ở TRÊN ĐỂ XEM TIẾP CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG!!! é

Popular Posts

Flickr Images

Flag Counter